Đề tài: Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các hoạt động kinh doanh chứng khoán của CTCK Ngân hàng Công thương - Pdf 12

Lời mở đầu
Công nghiệp hoá là bước phát triển tất yếu của mỗi dân tộc mỗi đất nước phải trải qua. Để chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá nền kinh tế quốc dân ở nước ta, cần giải quyết đồng bộ
nhiều vấn đề quan trọng. Trong đó vốn là chìa khoá để thực hiện công nghiệp hoá.
Để công nghiệp hoá với tốc độ nhanh cần có cơ chế chính sách và biện pháp huy động được nhiều
vốn nhất và sử dụng vốn có hiệu quả.
Một trong những biện pháp thực hiện huy động mọi nguồn vốn có thể huy động được khơi động
mọi nguồn vốn trong nước, khuyến khích dân chúng tiết kiệm và thu hút một nguồn vốn nhàn rỗi vào đầu
tư, thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài, đó là TTCK.
Đối với chúng ta, đây là vấn đề mới mẻ cả về lý luận và thực tiễn, vì vậy để có một TTCK hợp lý,
đem lại hiệu quả cao đòi hỏi chúng ta có nhận thức và quan điểm đúng đắn về vấn đề này.
Nhằm góp phần vào lĩnh vực phát triển của TTCK của Việt Nam. Em chọn chuyên đề tốt nghiệp
với đề tài là: " Hoàn thiện và nâng cao chất lượng các hoạt động kinh doanh chứng khoán của CTCK
Ngân hàng Công thương”.
Chương I
Những lý luận chung về công ty chứng khoán
và các hoạt động kinh doanh của công ty
1.1. Tổng quan về công ty chứng khoán
1.1.1. Khái niệm
Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian thực hiện các nghiệp vụ trên TTCK. ở
Việt Nam theo quyết định 04/1998/QĐ-UBCK 3 ngày 13/10/1998 của Uỷ ban chứng khoán nhà nướccông
ty chứng khoán là công ty cổ phần, công ty TNHH thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Uỷ ban chứng
khoán nhà nướccấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hình kinh doanh chứng khoán
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ
công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế nói chung và
TTCK nói riêng. Nhờ các công ty chứng khoán mà chứng khoán được lưu thông từ nhà phát hành đến
người đầu tư và tạo cho chứng khoán có tính thanh toán cao. Thông qua đó để huy động nguồn vốn từ nơi
nhàn rỗi để phân bố vào nơi sử dụng có hiệu quả. Do đó chúng ta có thể nói chức năng nhiệm vụ của công
ty chứng khoán như sau:
- Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người sử dụng vốn (thông
qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành)

những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều công ty chứng khoán đã dành
một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường.
2) Góp phần làm tăng tính thanh khoán của các tài sản tài chính, TTCK có vai trò là môi trường làm
tăng tính thanh khoán của các tài sản tài chính. Nhưng các công ty chứng khoán mới tạo ra cơ chế trao đổi
trên thị trường. Trên thị trường cấp 1 do cải thiện các hoạtđộng như bảo lãnh, phát hành chứng khoán hoá,
các công ty chứng khoán không những huy động được một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho
nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoán của các tài sản tài chính được đầu tư vì các chứng khoán
qua đợt phát hành sẽ được mua bán trao đổi trên thị trường trên thị trường cấp 2.
2
Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho nhà đầu tư. Trên thị trường cấp 2, do thực hiện các
giao dịch mua và bán các công ty chứng khoán giúp nhà đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và
ngược lại. Những hoạt động có thể làm tăng tính thanh khoán của những tài sản tài chính.
3). Đối với cơ quan quản lý thị trường: Công ty chứng khoán có vai trò cung cấp thông tin về TTCK
cho các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó. Các công ty chứng khoán thực hiện được vai
trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành các chứng khoán mở, vừa là trung gian mua bán chứng
khoán và thực hiện giao dịch trên thị trường. Một trong những yêu cầu của TTCK là các thông tin cần phải
được công khai hoá dưới sự giám sát của các tài chính, cơ quan quản lý thị trường. Việc cung cấp thông tin
vừa là quy định của hệ thống luật pháp, vừa là nguyên tắc nghề nghiệp của các công ty chứng khoán vì
công ty chứng khoán có thể cung cấp bao gồm thông tin về các giao dịch mua bán trên thị trường, thông tin
về các cổ phiếu, trái phiếu và tài chính phát hành thông tin về các nhà đầu tư…Nhờ các thông tin này, các
cơ quan quản lý thị trường có thể kiểm soát và chống các hiện tượng thao túng, lũng đoạn, bóp méo thị
trường.
Tóm lại, công ty chứng khoán là một tài chính chuyên nghiệp trên TTCK, các nhà phát hành đối với
cơ quan quản lý thị trường và đối với TTCK nói chung.
1.1.4 Mô hình hoạt động của công ty chứng khoán
Hiện nay, có ba loại hình tài chính cơ bản của công ty chứng khoán, đó là: công ty hợp doanh, công ty
TNHH, công ty cổ phần:
a. Công ty hợp doanh
- Là loại hình kinh doanh có từ 2 chủ sở hữu trở lên
- Thành viên của công ty chứng khoán hợp doanh bao gồm: thành viên góp vốn và thành viên hợp

cán trong công việc và với thái độ công tâm, cung cấp cho khách hàng những dịch vụ tốt nhất. Nhà môi
giới không được xúi dục khách hàng mua, bán chứng khoán để kiếm hoa hồng, mà nên đưa ra những lời
khuyên hợp lý để hạn chế đến mức thấp nhất về thiệt hại cho khách hàng.
Kỹ năng của người môi giới chứng khoán được thể hiện trên các khía cạnh:
- Kỹ năng truyền đạt thông tin: Phẩm chất hay thái độ của người môi giới đối với công việc, với
bản thân và với khách hàng được truyền đạt rõ ràng đối tới hầu hết các khách hàng mà người môi giới thực
hiện giao dịch. Để thành công trong việc bán hàng (cung ứng dịch vụ mua, bán) người môi giới phải đặt
khách hàng lên trên hết và doanh thu của mình là yếu tố thứ yếu. Đây là điểm then chốt trong hoạt động
dịch vụ tài chính và phải được thực hiện ngay từ khi tiếp xúc với khách hàng.
- Kỹ năng tìm kiếm khách hàng: có nhiều phương pháp để tìm kiếm khách hàng, nhưng tựu trung
có thể được gộp vào nhóm 6 phương cách sau: những đầu mối được gây dựng từ công ty hoặc các tài
khoản chuyển nhượng lại; những lời giới thiệu khách hàng; mạng lưới kinh doanh; các chiến dịch viết thư;
các cuộc hội thảo; gọi điện làm quen.
- Kỹ năng khai thác thông tin: một trong những nguyên tắc trong hàng nghề môi giới là phải hiểu
khách hàng, biết được khả năng tài chính, mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng. Ngoài ra nó còn giúp
cho nhà môi giới tăng được khối lượng tài sản quản lý, có chiến lược khách hàng thích hợp.
1.2.1.2. Nghiệp vụ tư vấn đầu tư chứng khoán.
Cũng như các loại hình tư vấn khác, tư vấn đầu tư chứng khoán là việc
các Công ty chứng khoán thông qua hoạt động phân tích để đưa ra các lời
khuyên phân tích tình huống và có thể thực hiện một số công việc dịch vụ
khác liên quan đến phát hành, đầu tư và cơ cấu tài chính cho khách hàng.
Hoạt động tư vấn chứng khoán được phân loại theo các tiêu chí sau:
+ Theo hình thức của hoạt động tư vấn: Bao gồm tư vấn trực tiếp (gặp
gỡ khách hàng trực tiếp hoặc thông qua thư từ, điện thoại) và tư vấn gián
tiếp (thông qua các ấn phẩm, sách báo) để tư vấn cho khách hàng.
4
+ Theo mức độ uỷ quyền của tư vấn: Bao gồm tư vấn gợi ý (gợi ý cho
khách hàng về phương cách đầu tư hợp lý, quyết định đầu tư là của khách
hàng) và tư vấn uỷ quyền (vừa tư vấn vừa quyết định theo sự phân cấp, uỷ
quyền thực hiện của khách hàng).

chúng, đòi hỏi tổ chức phát hành phải cần đến các Công ty chứng khoán tư
vấn cho đợt phát hành và thực hiện bảo lãnh phân phối chứng khoán ra công
chúng. Đây chính là nghiệp vụ bảo lãnh phát hành của các Công ty chứng
khoán và là nghiệp vụ chiếm tỷ lệ doanh thu khá cao trong tổng doanh thu
của Công ty chứng khoán.
Như vậy, nghiệp vụ sau bảo lãnh phát hành là việc Công ty chứng
khoán có chức năng bảo lãnh (sau đây gọi tắt là tổ chức bảo lãnh - TCBL)
giúp tổ chức phát hành thực hiện các thủ tục trước khi chào bán chứng
khoán, tổ chức việc phân phối chứng khoán và giúp bình ổn giá chứng
khoán trong giai đoạn đầu sau khi phát hành. Trên TTCK, tổ chức bảo lãnh
phát hành không chỉ có Công ty chứng khoán mà còn bao gồm các định chế
tài chính khác như ngân hàng đầu tư nhưng thông thường việc Công ty
chứng khoán nhận bảo lãnh phát hành thường kiêm luôn việc phân phối
chứng khoán, còn các ngân hàng đầu tư thường đứng ra nhận bảo lãnh phát
hành (hoặc thành lập tổ hợp bảo lãnh phát hành) sau đó chuyển phân phối
chứng khoán cho các Công ty chứng khoán tự doanh hoặc các thành viên
khác.
Khi một tổ chức muốn phát hành chứng khoán, tổ chức đó gửi yêu cầu
bảo lãnh phát hành đến Công ty chứng khoán. Công ty chứng khoán có thể
ký một hợp đồng tư vấn quản lý để tư vấn cho tổ chức phát hành về loại
chứng khoán cần phát hành, số lượng chứng khoán cần phát hành, định giá
chứng khoán và phương thức phân phối chứng khoán đến các nhà đầu tư
thích hợp. Để được phép bảo lãnh phát hành, Công ty chứng khoán phải đệ
trình một phương án bán và cam kết bảo lãnh lên uỷ ban chứng khoán. Khi
6
các nội dung cơ bản của phương án phát hành được uỷ ban chứng khoán
thông qua. Công ty chứng khoán có thể trực tiếp ký hợp đồng bảo lãnh, hoặc
thành lập nghiệp đoàn bảo lãnh để ký hợp đồng bảo lãnh giưã nghiệp đoàn
và tổ chức phát hành.
Khi uỷ ban chứng khoán cho phép phát hành chứng khoán và đến thời

của công ty. Vì vậy, công ty chứng khoán đòi hỏi phải có nguồn vốn rất lớn và đội ngũ nhân viên có trình
đọ chuyên môn, khả năng phân tích và đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý, đặc biệt trong trường hợp đóng
vai trò là các nhà tạo lập thị trường.
Yêu cầu đối với công ty chứng khoán
- Tách biệt quản lý: các công ty chứng khoán phải có sự tách biệt giữa nghiệp vụ tự doanh và
nghiệp vụ môi giới để đảm bảo tính minh bạch, rõ ràng trong hoạt động. Sự tách biệt này bao gồm tách biệt
về: yếu tố con người; quy trình nghiệp vụ; vốn và tài sản của khách hàng và công ty.
- ưu tiên khách hàng: công ty chứng khoán phải tuân thủ nguyên tắc ưu tiên khách hàng khi thực
hiện nghiệp vụ tự doanh. Điều đó có nghĩa là lệnh giao dịch của khách hàng phải được xử lý trước lệnh tự
doanh của công ty. Nguyên tắc này đảm bảo sự công bằng cho các khách hàng trong quá trình giao dịch
chứng khoán. Do có tính đặc thù về khả năng tiếp cận thông tin và chủ động trên thị trường nên các công ty
chứng khoán có thể sẽ dự đoán trước được diễn biến của thị trường và sẽ mua hoặc bán tranh của khách
hàng nếu không có nguyên tắc trên.
Góp phần bình ổn thị trường: Các công ty chứng khoán hoạt động tự doanh nhằm góp phần bình
ổn giá cả thị trường. Trong trường hợp này, hoạt động tự doanh được tiến hành bắt buộc theo luật định.
Luật các nước đều quy định các công ty chứng khoán phải dành một tỉ lệ % nhất định các giao dịch của
mình (ở Mỹ là 60%) cho hoạt động bình ổn thị trường. Theo đó, các công ty chứng khoán có nghĩa vụ mua
vào khi giá chứng khoán bị giảm và bán ra khi giá chứng khoán lên nhằm giữ giá chứng khoán ổn định.
- Hoạt động tạo thị trường: khi được phát hành, các chứng khoán mới chưa có thị trường giao
dịch. Để tạo thị trường cho các chứng khoán này, các công ty chứng khoán thực hiện tự doanh thông qua
việc mua và bán chứng khoán, tạo tính thanh khoản trên thị trường cấp hai. Trên những TTCK phát triển,
các nhà tạo lập thị trường (Market – Makers) sử dụng nghiệp vụ mua bán chứng khoán trên thị trường OTC
để tạo thị trường. Theo đó, họ liên tục có những báo giá để mua hoặc bán chứng khoán với các nhà kinh
doanh chứng khoán khác. Như vậy, họ sẽ duy trì một thị trường liên tục đối với chứng khoán mà họ kinh
doanh.
- Các hình thức giao dịch trong hoạt động tự doanh:
Giao dịch gián tiếp: Công ty chứng khoán đặt các lệnh mua và bán chứng
khoán trên Sở giao dịch, lệnh của hộ có thể thực hiện với bất kỷ khách hàng
nào không được xác định trước.
Giao dịch trực tiếp: Là giao dịch tay đôi giữa hai Công ty chứng khoán

ty chứng khoán sẽ nhận được các khoản thu phí lưu ký chứng khoán, phí gửi, phí rút và phí chuyển
nhượng chứng khoán.
+ Kết thúc hợp đồng quản lý: Khách hàng có nghĩa vụ thanh toán các
khoản phí quản lý theo hợp đồng ký kết và xử lý các trường hợp khi công ty
chứng khoán bị ngưng hoạt động, giải thể hoặc phá sản.
9
1.2.2 Các nghiệp vụ hỗ trợ
1.2.2.1. Quản lý thu nhập của khách hàng (quản lý tổ chức):
Xuất phát từ việc lưu ký chứng khoán cho khách hàng, Công ty chứng khoán sẽ theo dõi tình hình thu
lãI, cổ tức chứng khoán và đứng ra làm dịch vụ thu nhận và chi trả cổ tức cho khách hàng thông qua tài
khoản của khách hàng.
1.2.2.2. Nghiệp vụ tín dụng:
Đối với các TTCK phát triển, bên cạnh nghiệp vụ môi giới chứng khoán cho khách hàng để hưởng
hoa hồng, Công ty chứng khoán còn triển khai dịch vụ cho vay chứng khoán để khách hàng thực hiện giao
dịch bán khống (short sale) hoặc cho khách hàng vay tiền để khách hàng thực hiện nghiệp vụ mua ký quỹ
(margin purchase).
Cho vay kỹ quỹ là hình thức cấp tín dụng của Công ty chứng khoán cho khách hàng của mình để họ
mua chứng khoán và sử dụng các loại chứng khoán đó làm vật thế chấp cho khoản vay đó. Khách hàng chỉ
cần ký quỹ một phần, số còn lại sẽ do Công ty chứng khoán ứng trước thanh toán. Đến ký hạn thoả thuận,
khách hàng phải hoàn trả đủ số gốc vay cùng với lãi cho Công ty chứng khoán. Trường hợp khách hàng
không trả được nợ, thì Công ty sẽ phát mãi số chứng khoán đã mua để thu hồi nợ.
1.2.2.3. Nghiệp vụ cầm cố chứng khoán cho vay
ở một số TTCK, pháp luật về TTCK còn cho phép Công ty chứng khoán được thực hiện nghiệp vụ
quản lý đầu tư. Theo đó, Công ty chứng khoán cử đại diện của mình để quản lý quỹ và sử dụng vồn và tài
sản của quỹ đầu tư để đầu tư vào chứng khoán. Công ty chứng khoán được thu phí dịch vụ quản lý quỹ đầu
tư.
1.3 Chất lượng hoạt động của CTCK
1.3.1 Khái niệm chất lượng hoạt động
Các CTCK cũng là một doanh nghiệp do đó chất lượng hoạt động được thể hiện ở hiệu quả kinh
doanh của công ty đó. Đối với CTCK thì được thể hiện ở hiệu quả của các nghiệp vụ kinh doanh của công

ý nghĩa của chỉ tiêu này: Cứ một đồng chi phí kinh doanh đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng của từng loại tài sản:
Hiệu quả sử dụng của tài sản lưu động:
Lợi nhuận gộp hoặc lợi nhuận thuần
Khả năng sinh lời của TSLĐ =
Tổng giá trị tài sản lưu động bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng nguyên giá bình quân tài sản lưu động bình quân vào sản xuất
kinh doanh thì sẽ đem lại cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt.
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định:
11
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định và vốn cố định được đánh giá bằng nhiều chỉ tiêu nhưng chủ yếu
sử dụng những chỉ tiêu sau:
Tổng doanh thu
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định =
TSCĐ bình quân
Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu:

Tổng lợi tức các hoạt động
Hệ số doanh lợi của vốn chủ sở hữu =
Tổng vốn chủ sở hữu bình quân
Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu được đánh giá bằng khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu. Chỉ
tiêu này càng lớn thì hiệu quả càng cao và ngược lại.
1.3.2.2. Chỉ tiêu định tính.
Chỉ tiêu định tính để đánh giá hiệu quả kinh doanh là những chỉ tiêu không thể lượng hoá được
bằng con số. Chỉ tiêu này thường được đánh giá bởi thị trường, các nhà phân tích, đặc biệt là khách hàng. ở
công ty chứng khoán chỉ tiêu định tính được nói đến là vị thế và uy tín của công ty trên thị trường. Điều
này thể hiện ở định hướng hoạt động của công ty có phù hợp với tình hình thị trường, điều kiện thực tế của
chính doanh nghiệp cũng như yêu cầu của khách hàng hay không, chất lượng nhân sự trong công ty, vị trí
địa lý của trụ sở công ty có thuận lợi về giao thông, có ở trung tâm hay không, đặc biệt là có chiến lược
marketing phù hợp, từ đó công ty tạo ra được cách thức để thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng

sốt, cú sốc, sức ép thị trường thì các công ty chứng khoán cũng khó có thể hoạt động kinh doanh một
cách có hiệu quả.
Bên cạnh đó, một môi trường pháp lý lành mạnh vừa tạo điều kiện cho các công ty tiến hành
thuận lợi các hoạt động kinh doanh của mình, đồng thời điều chỉnh các hoạt động kinh tế theo hướng
không chỉ chú ý đến hiệu quả kinh doanh của riêng bản thân công ty mà còn phải quan tâm đến hiệu quả
của toàn xã hội. Cùng với điều này, thì nội dung của các chính sách quản lý kinh tế, chính sách quản lý về
chứng khoán và TTCK có ý nghĩa quyết định đối với hoạt động kinh doanh chứng khoán. Mọi hoạt động
kinh doanh chứng khoán đều phải nằm trong khuôn khổ của các quy định này. Chính vì thế, một chính sách
quản lý đúng đắn, phù hợp sẽ có tác dụng thúc đẩy hoạt động kinh doanh chứng khoán, dẫn đến sự phát
triển của TTCK và toàn bộ nền kinh tế, trái lại, một chính sách cứng nhắc, thiếu hợp lý sẽ gây nhiều trở
ngại cho sự phát triển của toàn bộ thị trường nói chung và đến sự phát triển của một công ty nói riêng.
13
Là một chủ thể quan trọng của TTCK, thì sự phát triển của TTCK cũng có ảnh hưởng rất lớn đến
hiệu quả kinh doanh của công ty chứng khoán. Một khi TTCK phát triển, có nghĩa là hàng hoá trên thị
trường đa dạng và phong phú, nó sẽ tạo ra cho các nhà đầu tư và các công ty có điều kiện để đầu tư, để có
sự lựa chọn phù hợp nhất. Tuy nhiên, với một hệ thống bao gồm nhiều loại hàng hoá sẽ phát sinh những
khó khăn đối với các nhà đầu tư khi tự quyết định sự lựa chọn của mình. Vì vậy, nhất thiết nhà đầu tư sẽ
cần đến công ty chứng khoán. Bên cạnh đó, khi TTCK phat triển sẽ xuất hiện nhiều loại rủi ro khó lường
trước, do đó công chúng cũng như công ty chứng khoán sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong hoạt động kinh
doanh. Mặt khác, khi TTCK phát triển, công ty chứng khoán muốn tồn tại, phát triển và cạnh tranh được
với các công ty chứng khoán khác thì công ty không những buộc phải có những thay đổi cho phù hợp với
thị trường mà còn phải tiếp tục hoạt động kinh doanh hiệu quả hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao từ
phía khách hàng và từ phía bản thân công ty.
Những nhà kinh doanh của các công ty chứng khoán là những người có trình độ hiểu biết nhất
định về TTCK, có thể làm những công việc khác nhau nhưng không phải bất cứ độ tuổi nào cũng tham gia
được. Họ tham gia vào lĩnh vực này với những mục đích khác nhau và nắm trong tay những thông tin trái
ngược nhau. Chính vì thế môi trường văn hoá xã hội sẽ tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hiệu quả kinh
doanh của công ty cả theo chiều hướng tiêu cực và tích cực.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật công nghệ ảnh hưởng mạnh mẽ đến hiệu quả kinh
doanh của công ty. Sản phẩm của công ty chứng khoán là các dịch vụ cho kinh doanh nên yếu tố cạnh tranh

rất lớn do cạnh tranh đưa lại. Tăng trưởng kinh tế trong nước chưa thể hiện mức độ bền vững nhất định;
chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa đủ mạnh, trong đó đáng lưu ý nhất là khu vực dịch vụ có xu hướng giảm
trong cơ cấu của GDP; bên cạnh đó, nhập siêu ở mức tương đối cao trong khi những biến động mạnh trong
khu vực thị trường nhà đất, vàng và ngoại tệ diễn ra trong suốt năm 2003; hiệu quả đầu tư chưa cao do mức
dộ thất thoát trong vốn đầu tư còn nhiều.
Mặc dù vậy, có thể nói, năm 2003 đã đánh dấu một bước chuyển mình mới của TTCK VN sau hơn 3 năm
đi vào hoạt động. Các hoạt động của thị trường tiếp tục diễn ra suôn sẻ với sự tham gia của trên 16.000 tài
khoản ( tăng trên 19% so với năm 2002 ). Tính đến tháng 4/2004 đã có 24 cổ phiếu được niêm yết trên
TTCK với tổng mức vốn hóa thị trường đạt trên 2.500 tỷ VND; trên 119 triệu trái phiếu được niêm yết với
tổng giá trị niêm yết đạt trên 11,9 ngàn tỷ VND. Trung tâm giao dịch chứng khoán TP.HCM (TTGDCK
Tp.HCM) đã tổ chức thành công 247 phiên giao dịch với tổng giá trị giao dịch đạt gần 3.000 tỷ VND, tăng
trên 177% so với năm 2002 trong đó giao dịch trái phiếu đạt gần 2.500 tỷ VND, chiếm trên 83% tổng giá
trị giao dịch trên thị trường. TTGDCK Tp.HCM đã đưa vào áp dụng thành công một số giải pháp kỹ thuật,
cho phép các nhà đầu tư đa dạng hóa các loại hình và phương thức giao dịch của minh; đồng thời tạo các
tiền đề hết sức cơ bản trong việc tiến tới chuẩn hóa một số các loại hình nghiệp vụ của thị trường. Công tác
quản lý thị trường tiếp tục được cải thiện đảm bảo khả năng vận hành và quản lý thị trường một cách hiệu
quả. Bên cạnh đó các tổ chức trung gian trên thị trường không ngừng tự hoàn thiện mình, xây dựng và
cung cấp dịch vụ tiện ích cho các nhà đầu tư, các tổ chức, đặc biệt tập trung vào một số nghiệp vụ có thế
mạnh. Các tổ chức niêm yết nói chung đã thực hiện khá tốt các nghiệp vụ và yêu cầu về công bố thông tin.
Năm 2003 cũng là năm có rất nhiều các sự kiện quan trọng đã diễn ra tác động không nhỏ đến TTCK VN,
có thể kể ra đây hàng loạt các sự kiện như: một số cổ phiếu mới được niêm yết tạo thêm hàng hóa cho thị
trường; một số các CTCK mới ra đời và đi vào hoạt động; lần đầu tiên chúng ta tổ chức một tuần lễ chứng
khoán hết sức quy mô nhằm cổ động mạnh mẽ việc tham gia vào TTCK của các nhà đầu tư; sử dụng các
biện pháp kỹ thuật nhằm kích thích sự năng động và hiệu quả của thị trường như điều chỉnh biên độ, chia
nhỏ lô giao dịch, đưa vào sử dụng các loại lệnh mới ATO…;Chính phủ cho phép nới rộng tỷ lệ nắm giữ của
các nhà đầu tư nước ngoài đối với cổ phiếu, không hạn chế đối với trái phiếu và sự tham gia rất mạnh của
nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường trong những tháng cuối năm 2003…Bên cạnh đó sự kiện hết sức
quan trọng đó là việc Chính phủ thông qua chiến lược phát triển TTCK VN đến năm 2010 và ban hành
nghị định 144 về chứng khoán và TTCK thay thế nghị định 48 của Chính phủ và trở thành văn bản có tính
pháp lý cao nhất điều chỉnh các hoạt động cuẩ TTCK VN. Nghị định mới này đã thực hiện thay đổi một

Bà Trưng - Hà Nội.
17
Điện thoại: 84.4.9741764 – 84.4.9741054. Fax: 84.4.9741760
Email: [email protected]
Chi nhánh tại thành phố Hồ Chí Minh: Số 153 Hàm Nghi, Quận I, TP.Hồ
Chí Minh.
Điện thoại: 84.4.9140200. Fax: 84.4.9140201. Email: ibs-
[email protected]
Vốn điều lệ: 55 tỷ đồng Việt Nam
2.2.2 Các lĩnh vực kinh doanh
Với số vốn điều lệ 55 tỷ VND, IBS được cấp giấy phép hoạt động cả
5 nghiệp vụ kinh doanh trên TTCK, đó là môi giới, tự doanh, quản lý danh
mục đầu tư, bảo lãnh phát hành và tư vấn đầu tư chứng khoán.
Công ty chứng khoán Ngân hàng Công Thương là công ty trực thuộc,
hạch toán độc lập của Ngân hàng Công Thương Việt Nam; thành viên của
Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Công ty chứng
khoán Ngân hàng Công Thương Việt Nam được tổ chức theo mô hình chủ
tịch Công ty và Giám đốc được qui định tại luật Doanh nghiệp, là công ty
TNHH một thành viên. Bộ máy lãnh đạo công ty gồm chủ tịch công ty và
phó giám đốc, trong đó phó giám đốc trực tiếp phụ trách hoạt động tại chi
nhánh TPHCM. Công ty chính thức đi vào hoạt động ngày 16 tháng 11 năm
2000. Tháng 10 năm 2002 Công ty Chứng khoán Công thương được cải tổ
thành lập 6 phòng ban ở Hà Nội với 37 nhân viên. Chi nhánh thành phố Hồ
Chí Minh gồm 4 phòng ban với 20 nhân viên. Với việc sắp xếp bố trí lại các
phòng ban như trên công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương Việt Nam
đã tạo ra một mô hình mang tính đột phá so với các công ty chứng khoán
khác trên thị trường.
Ch t ch công tyủ ị
Giám cđố
Kế toán lưu ký

hiện công tác tiếp thị, xúc tiến phát triển thị trường và triển khai các sản
19
phẩm dịch vụ mới có liên quan. Đại lý bảo lãnh phát hành. Tìm kiếm, thiết
lập, duy trì quan hệ và xây dựng mạng lưới khách hàng sử dụng dịch vụ đại
lý phát hành, bảo lãnh phát hành và các dịch vụ có liên quan. Tổ chức triển
khai các hợp đồng đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành và các dịch vụ khác
có liên quan được ký kết với khách hàng.
* Phòng tư vấn, phân tích
Nghiên cứu, phân tích chứng khoán và TTCK. Tư vấn đầu tư, tư vấn
niêm yết, tư vấn cổ phần hoávà tư vấn tài chính. Làm đầu mối công tác tiếp
thị, xúc tiến phát triển thị trường. Quản lý danh mục đầu tư. Nghiên cứu,
phân tích. Nghiên cứu phát triển sản phẩm, dịch vụ mới. Nghiên cứu, phân
tích tình hình thị trường, ra các bản tin phân tích, bình luận về chứng khoán
và đánh giá các động thái của thị trường. Xây dựng hồ sơ doanh nghiệp. Dự
thảo các kế hoạch kinh doanh năm, quý, báo cáo tổng kết toàn Công ty. Tư
vấn đầu tư chứng khoán, chú trọng tư vấn mang tính trung, dài hạn, giá trị
đầu tư lớn, trên cơ sở hợp đồng có thu phí. Tư vấn niêm yết, tư vấn cổ phần
hoá và tư vấn tài chính. Cung cấp thông tin chứng khoán và TTCK cho
khách hàng và trong nội bộ Công ty. Đầu mối công tác tiếp thị, xúc tiến phát
triển thị trường cho Công ty. Xây dựng triển khai các phương án tiếp thị, tìm
kiếm đối tác tiếp nhận các dịch vụ của Công ty. Quản lý danh mục đầu tư.
Thực hiện quản lý danh mục đầu tư theo sự uỷ thác của khách hàng.
*Phòng kế toán tài chính và lưu ký
Quản lý tài chính, hạch toán kế toán, thanh toán giao dịch, lưu ký
chứng khoán, ngân quỹ. Quản lý tài chính. Dự thảo kế hoạch tài chính năm,
quý trình Giám đốc Công ty phê duyệt và giám sát kết quả thực hiện kế
hoạch được duyệt. Tổ chức quản lý nguồn vốn của công ty, tham mưu cho
Giám đốc quản lý tập trung vốn của Ngân hàng công thương Việt Nam cấp,
vốn tự có bổ sung, bảo toàn vốn đúng chế độ và giám sát các chi nhánh
thuộc công ty sử dụng vốn hiệu quả, đúng mục đích, đúng quy định của

của trụ sở chính và các chi nhánh để kịp thời phát hiện sai sót và có biện
pháp khắc phục, xử lý. Tổ chức thực hiện cơ chế, quy chế, quy trình nghiệp
vụ của công tác tài chính, kế toán, lưu kývà hệ thống tài khoản kế toán theo
phân cấp phù hợp với quy định pháp luật và của Bộ tài chính, đáp ứng yêu
cầu phát triển nghiệp vụ kinh doanh của Công ty. Tổng hợp và cung cấp số
liệu cho Ban điều hành Công ty định kỳ hoặc đột xuất để chỉ đạo hoạt động
kinh doanh.
*Phòng kiểm soát
Kiểm tra việc ghi chép sổ sách kế toán. Kiểm tra cách tính toán, đối
chiếu hoá đơn với ghi chép vào sổ.
*Văn phòng Công ty
Phòng hành chính - tổng hợp. Tổ chức cán bộ và đào tạo quản lý lao
động và tiền lương. Tổng hợp chương trình công tác của các phòng, ban. Bố
trí, sắp xếp chương trình làm việc hàng tuần của Ban điều hành Công ty. Bố
trí thư ký trong các cuộc họp theo yêu cầu của Giám đốc. Thực hiện công
tác văn thư, lưu trữ theo đúng quy định của pháp luật. Phối hợp với các bộ
phận liên quan tổ chức các cuộc họp, hội nghị, hội thảo của Công ty. Bố trí
phương tiện đi lại phục vụ hoạt động chung của công ty. Tổ chức đón tiếp,
bố trí nơi ăn ở và phương tiện đi lại cho khách đến làm việc với Công ty khi
Giám đốc yêu cầu. Thực hiện công tác lễ tân, tạp vụ. Tổ chức thực hiện công
tác an ninh, bảo vệ, giữ gìn an toàn tài sản và an ninh trật tự toàn Công ty.
Quản trị - tin học: Xây dựng kế hoạch mua sắm tài sản và triển khai
thực hiện việc mua sắm thiết bị, phương tiện làm việc của công ty theo đúng
quy định. Tổ chức bảo dưỡng tài sản cố định theo định kỳ. Xây dựng và
hướng dẫn thực hiện nội quy, sử dụng trang thiết bị của cơ quan. Quản lý hệ
thống tin học, gồm cả phần cứng và phần mềm, hệ thống mạng máy tính của
Công ty. Tổ chức cán bộ và đào tạo. Tham mưu cho ban điều hành xây dựng
bộ máy tổ chức nhân sự; sắp xếp, phân công lao động giữa các đơn vị trong
22
công ty đảm bảo phát huy tốt năng lực của từng cá nhân, đáp ứng yêu cầu

2.3 Thực trạng các hoạt động kinh doanh của Công ty
Sự kiện trung tâm Giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
khai trương và đi vào hoạt động tháng 7/2000 đã đánh dấu một mốc quan
trọng trong sự phát triển của thị trường tài chính Việt Nam. Bên cạnh hình
thức gián tiếp thông qua các tổ chức tín dụng, giờ đây các doanh nghiệp và
nhà đầu tư còn có thể huy động và đầu tư vốn trực tiếp thông qua TTCK.
Công ty chứng khoán Ngân hàng Công thương là công ty thứ 7 đi vào hoạt
động trên thị trường. Ban đầu Ngân hàng Công Thương dự tính chấp nhận
thua lỗ trong ba năm, nhưng thực tế hoạt động cho thấy kết quả kinh doanh
khá khả quan, công ty liên tục làm ăn có lãi và tăng trưởng cao. Có được
điều này là do sự năng động nhạy bén của ban lãnh đạo công ty cũng như
đội ngũ nhân viên của các phòng ban. Mặt khác công ty cũng nhận được sự
hỗ trợ về con người, phương tiện vật chất kỹ thuật của Ngân hàng Công
Thương Việt Nam và sự quan tâm quan tâm chỉ đạo của Chính phủ tới thị
trường.
24
Kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 3 năm
(đơn vị tính: triệu đồng)
Năm
Chỉ tiêu
2001 2002 2003
Doanh thu 6.583 16.000
Chi phí HĐKD 1.300 6.700
Chi phí QLDN 2.800 3.200
LN + Lãi vay 2.483 6.100
Lợi nhuận 1.400 2.400 5.700
Nguồn: IBS
Trong đó đối với từng hoạt động được thể hiện như sau:
2.3.1 Phòng môi giới
Làm trung gian thực hiện lệnh mua, bán chứng khoán theo yêu cầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status