TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI : Những giải pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu
quả nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) đối với phát triển
ngành giáo dục ở Việt Nam thời gian tới
Sinh viên thực hiện : Đồng Thị Thu Hằng
ĐT: 5522384
Lớp : Anh 11
Khoá : 38
Giáo viên hướng dẫn : TS. Vũ Thị Kim Oanh
HÀ NỘI 2003
MỤC LỤC
Bảng ký hiệu chữ viết tắt
Bảng các bảng biểu
Lời nói đầu 1
CHƯƠNG 1: NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC ODA VÀ VAI TRÒ
CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC 4
1.1. TỔNG QUAN VỀ ODA 4
1.1.1. Khái niệm ODA 4
1.1.2. Lịch sử hình thành ODA 5
1.1.3. Bản chất của ODA 6
1.1.4. Phân loại vốn hỗ trợ phát triển chính thức 10
1.1.5. Các nhà tài trợ 12
3.1.1.3. Mục tiêu phát triển các cấp bậc học, trình độ và loại hình giáo dục 64
3.1.2. Nhu cầu vốn cho phát triển giáo dục 66
3.1.3. Dự báo khả năng thu hút ODA cho phát triển giáo dục trong những
năm tới 68
3.2. CÁC BIỆN PHÁP CHỦ YẾU NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG
NGUỒN VỐN ODA ĐỂ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC VIỆT NAM 72
3.2.1. Hình thành một chiến lược ODA toàn diện cho phát triển giáo dục
72
3.2.2. Giải quyết tốt vốn đối ứng 73
3.2.3. Xây dựng cơ chế vay và trả nợ nước ngoài 73
3.2.4. Kết hợp ODA với các nguồn lực tài chính khác trong phát triển giáo
dục 74
3.2.5. Hài hòa thủ tục dự án 76
3.2.6. Tăng cường năng lực quản lý dự án ODA 77
3.2.7. Tăng cường công tác đào tạo và bồi dưỡng cán bộ dự án 77
3.2.8. Thiết lập mạng thông tin về tình hình quản lý và sử dụng nguồn vốn
ODA giáo dục của các nhà tài trợ 78
KẾT LUẬN 82
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ODA
OECD
DAC
WB
ADB
Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hoá Liên hợp quốc.
Quỹ dân số Liên Hợp Quốc.
Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc.
Tín dụng điều chỉnh cơ cấu (Structural Adjustment Facilitics)
Tín dụng điều chỉnh cơ cấu mở rộng (Enhanced Structural
Adjustment Facilitics)
Cộng đồng châu Âu (European Community)
Các tổ chức phi chính phủ (Non-governmental organisation)
Các tổ chức phi chính phủ quốc tế (International non-
governmental organisation)
Giao thông vận tải.
Bộ tài chính (MOF- Ministry of Finance)
Trung học cơ sở.
Các dự án hỗ trợ kỹ thuật (Technical Assistance Projects)
Trung ương.
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Yếu tố cho không trong ODA.
Bảng 2: Cam kết ODA cho Việt Nam giai đoạn 1993-nay.
Bảng 3 : Thực hiện ODA thời kỳ 1993-nay.
Bảng 4 : Chi phí công cộng cho giáo dục.
Bảng 5 : Tỷ lệ chi giáo dục cho các thành tố (chi thường xuyên và chi
cơ bản).
Bảng 6 : ODA cho phát triển giáo dục theo cấp và loại hình.
Bảng 7 : Phân bổ vốn vay của WB.
Bảng 8: Vốn đầu tư cho phát triển ngành giáo dục giai đoạn 2001-
2005.
Bảng 9 : Thực hiện vốn đầu tư công cộng thời kỳ 1996- 2000.
Bảng 10: Thực hiện vốn đầu tư công cộng 5 năm 1996-2000 theo
ượng, hiệu quả giáo dục; phát triển quy mô giáo dục trên cơ sở đảm bảo chất lượng
và điều chỉnh cơ cấu đào tạo, gắn đào tạo với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đào
tạo với sử dụng; thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục; thực hiện 5 giải pháp
chủ yếu gồm đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước về giáo dục, xây dựng và triển
khai chương trình "xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục một cách
toàn diện", tiếp tục hoàn thiện cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân và sắp xếp củng
cố mạng lưới trường lớp, cơ sở giáo dục, tăng cường đầu tư cho giáo dục đúng với
yêu cầu quốc sách hàng đầu, đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục nhằm tạo nguồn nhân
lực có số lượng và chất lượng đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá hiện
đại hoá, xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
Trải qua 15 năm đổi mới ngành giáo dục đào tạo đã thu được những thành
quả quan trọng, đã có những bước tiến đáng kể đóng góp tích cực vào sự nghiệp
đổi mới và phát triển đất nước. Bên cạnh đó, ngành giáo dục của chúng ta vẫn còn
đứng trước những thách thức to lớn nhìn chung còn yếu kém về chất lượng, mất
cân đối về cơ cấu; hiệu quả giáo dục chưa cao; giáo dục chưa gắn với sử dụng, đội
ngũ giáo viên còn yếu kém; cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu; chương trình, giáo
trình, phương pháp giảng dạy và công tác quản lý chậm đổi mới, một số hiện tượng
tiêu cực, thiếu kỷ cương chậm được khắc phục. Do đó, nhu cầu đổi mới giáo dục,
nâng cao chất lượng đào tạo là một nhu cầu hết sức bức bách. “Chiến lược phát
triển giáo dục giai đoạn 2001-2010” được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày
28/12/2001 đã thể hiện quyết tâm đó của toàn Đảng và toàn dân ta. Tuy nhiên, việc
thực hiện chiến lược này không chỉ đòi hỏi quyết tâm, kinh phí từ nội bộ nền kinh
tế mà nhất thiết phải có sự trợ giúp từ nguồn vốn đầu tư nước ngoài trong đó đặc
biệt là sự trợ giúp của nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) của các nước
và các tổ chức tài trợ. Trong đó, việc tiếp nhận và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn
này đối với phát triển giáo dục là vô cùng quan trọng và đòi hỏi phải được kế hoạch
hoá.
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài
“Những giài pháp nhằm tăng cường thu hút và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn hỗ
trợ phát triển chính thức (ODA) đối với phát triển ngành giào dục ở Việt Nam thời
CHƯƠNG 1
NGUỒN VỐN HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC ODA
VÀ VAI TRÒ CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC
1.1. TỔNG QUAN VỀ ODA
1.1.1. Khái niệm ODA
Nguồn vốn ODA kể cả song phương và đa phương, được hình thành bắt đầu từ
khoảng sau chiến tranh thế giới II và từ chỗ ban đầu là sự tài trợ giữa các nước đã phát
triển cho nhau đến nay đã chuyển sang là sự tài trợ từ các nước đã phát triển cho các nước
đang phát triển. Hiện nay có nhiều cách hiẻu khác nhau về hỗ trợ phát triển chính thức.
Theo khái niệm phổ biến thì ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại, có hoàn lại hoặc
các khoản tín dụng ưu đãi của các chính phủ, các tổ chức tài chính quốc tế, các tổ chức
của liên hiệp quốc và các tổ chức phi chính phủ dành cho các nước đang và chậm phát
triển. Uỷ ban viện trợ phát triển (DAC) của OECD đưa ra khái niệm: Hỗ trợ phát triển
chính thức là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc cho vây ưu đãi của các cơ quan của
chính phủ hoặc của các tổ chức đa phương nhằm mục đích phát triển kinh tế hoặc phúc
lợi xã hội.
Theo định nghĩa của cơ chế quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức
(ban hành kèm theo nghị địnhh 17/2001/NĐ_CP ngày 4/5/2001 của chính phủ): Hỗ trợ
phát triển chính thức là sự hợp tác phát triển giữa nước CHXHCN Việt Nam với một hoặc
nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế, bao gồm hình thức chủ yếu sau: hỗ trợ cán cân thanh
toán, hỗ trợ theo chương trình, hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ dự án. ODA có thể ở dạng viện trợ
không hoàn lại hoặc cho vay với diều kiện ưu đãi. ODA cho vay ưu đãi có yéu tố không
hoàn lại ít nhất đạt 25% giá trị khoản vay.
Các điều kiện ưu đãi có thể là:
- Lãi suất thấp (dưới 3%/ năm)
- Thời gian ân hạn dài (chỉ phải trả lãi không phải trả gốc)
- Thời gian trả nợ dài (khoảng 30-40 năm)
1.1.2. Lịch sử hình thành ODA
Nguồn: OECD 1998
Cứu trợ nhân đạo (thuốc men, lương thực, thực phẩm) do các nước, các tổ chức
phi chính phủ (NGOs) các tổ chức quốc tế cung cấp chiếm tỷ trọng nhỏ trong viện trợ
quốc tế. Tuy nhiên, trong tình hình ngày càng nhỉều các cuộc chiến tranh sắc tộc, chiến
tranh ly khai, chiến tranh tôn giáo nổ ra khắp nơi, tình hình thiên tai hoành hành dẫn đến
những thiệt hại thảm khốc, đẩy hàng nghìn người nghèo vào cảnh khốn cùng thì cứu trợ
khẩn cấp trở nên thường xuyên hơn.
Một hình thức khác của viện trợ quốc tế cũng khó có thể định lượng vì lợi ích kinh
tế mà nó đem lại tuỳ thuộc nhiều vào khả năng hấp thụ của nước nhận viện trợ, đó là: các
ý tưởng, các kiến thức được viện trợ. Ở những nước nghèo trình độ quản lý yếu kém, các
nhà tài trợ có thể giúp nâng cao khả năng điều hành kinh tế vĩ mô của các quan chức
Chính phủ bằng các chương trình đào tạo trong nước hoặc ở nước ngoài. Hay đơn giản
hơn là cung cấp chuyên gia cao cấp có khả năng tư vấn về chính sách, về thể chế cho giới
lãnh đạo. Ở cấp thấp hơn, các chương trình đào tạo về nâng cao kỹ năng chuyên môn
công chức, sinh viên… hay truyền bá những kiến thức về y tế, giáo dục, vệ sinh và môi
trường cho cộng đồng dân cư ở những khu vực thiếu thốn thông tin.
Ph©n bæ nguån viÖn trî
3%
71%
26%
viÖn trî l¬ng thùc
viÖn trî ph¸t triÓn chÝnh
thøc ODA
viÖn trî môc ®Ých kh¸c
1.1.3. Bản chất của ODA
“Nhiều quốc gia nghèo nhất của thế giới thiếu nguồn tài chính dài hạn để mở rộng
Bảng 1: Yếu tố cho không trong ODA
Thời gian (năm)
Hoàn trả Ân hạn
Yếu tố cho không
Cho không 100
Vay TM (lãi suất 10%/năm)
Vay, lãi 4% 7 3 25
Vay, lãi 3% 11 3 35
Vay, lãi 4% 25 7 45
Vay, lãi 2,5% 30 8 60
Vay, lãi 0% 25 7 76
Nguồn: Tài liệu của Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
Có 2 điều kiện cơ bản nhất để các nước đang phát triển có thể nhận được ODA đó
là:
Điều kiện 1: Mức GDP bình quân đầu người thấp, nước có bình quân GDP đầu
người thấp thường nhận được tỷ lệ không hoàn lại của ODA càng lớn và khả năng vay với
lãi suất thấp và thời hạn ưu đãi càng lớn. Cho đến khi các nước này đạt trình độ phát triển
nhất định qua ngưỡng đói nghèo thì sự ưu đãi sẽ giảm đi.
Điều kiện thứ 2 để các nước đang phát triển có thể nhận được ODA là: Mục tiêu
sử dụng vốn của các nước đang phát triển phải phù hợp với phương hướng ưu tiên xem
xét trong mối quan hệ giữa bên cấp ODA và bên nhận ODA. Điều này có nghĩa là nước
nhận ODA sẽ sử dụng vốn đó vào đâu, có đúng mục tiêu ưu tiên của nước cung cấp ODA
không. Nếu điều này không được làm sáng tỏ thì sẽ không có nhà tài trợ nào chịu xuất
vốn của mình ra cả.
Thông thường nếu nước cung cấp viện trợ đều có những chính sách riêng của
mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà họ quan tâm hoặc có khả năng (về công nghệ,
kinh nghiệm, quản lý…). Đồng thời mục tiêu ưu tiên của các nước cung cấp ODA cũng
có thể thay đổi theo từng giai đoạn cụ thể. Vì vậy nắm được hướng ưu tiên và tiềm năng
của các nước, các tổ chức cung cấp ODA là rất cần thiết.
vay ưu đãi. Các khoản viện trợ không hoàn lại là những khoản cho không, người nhận
không có nghĩa vụ hoàn trả về sau nhưng chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng tài trợ.
Các khoản vay ưu đãi về lãi suất ( lãi suất các khoản vay ưu đãi thường tháp hơn nhiều so
với lãi suất thị trường); về thời hạn vay( các khoản vay có thời hạn trả nợ dài, thời gian ân
hạn dài); về điều kiện vay (không phải thế chấp, cầm cố, bảo lãnh).
Thứ tư, đối với nguồn vốn viện trợ nước tiếp nhận vốn không phải hoàn trả. Còn
đối với các khoản vay ưu đãi, các nhà tài trợ không trực tiếp điều hành dự án, nhưng có
thể tham gia gián tiếp dưới hình thức nhà thầu hoặc hỗ trợ chuyên gia. Tuy nước chủ nhà
có quyền quản lý, sử dụng vốn ODA nhưng thông thường danh mục dự án ODA phải có
sự thoả thuận với các nhà tài trợ để quản lý sử dụng cho hiệu quả. Vì vốn ODA là vốn sử
dụng dài hạn, nếu sử dụng vốn ODA không có hiệu quả sẽ tạo ra gánh nặng nợ nần cho
con cháu.
Thứ năm, ODA phụ thuộc nhiều vào quan hệ chính trị giữa hai nước. Các nước
nhận vốn ODA phải hội đủ một số điều kiện nhất định mới được nhận tài trợ. Điều kiện
này tuỳ thuộc vào quy định của từng nước.
Cuối cùng, nguồn vốn ODA chủ yếu dành cho các dự án đầu tư vào cơ sở hạ tầng
như giao thông vận tải, giáo dục, y tế
1.1.4. Phân loại vốn hỗ trợ phát triển chính thức
a. Theo tính chất
- Viện trợ không hoàn lại: các khoản cho không, không phải trả lại.
- Viện trợ có hoàn lại, các khoản cho vay vốn ưu đãi (vay tín dụng với điều kiện
“mềm” ).
- Viện trợ hỗn hợp: gồm một phần cho không, phần còn lại thực hiện theo hình thức
vay tín dụng.
b. Theo mục đích
- Hỗ trợ cơ bản: là những nguồn lực được cung cấp để đầu tư xây dựng cơ sở hạ
tầng kinh tế- xã hội và môi trường. Đây là những khoản cho vay ưu đãi.
- Hỗ trợ kỹ thuật: là những nguồn lực dành cho chuyển giao tri thức, công nghệ, xây
dựng năng lực, tiến hành nghiên cứu cơ bản hay nghiên cứu tiền đầu tư phát triển thể chế
và nguồn nhân lực… loại hỗ trợ này chủ yếu là viện trợ không hoàn lại.
trọng nhất quyết định đến lượng vốn cho vay. Tuy nhiên nguồn vốn vay và cung cấp tài
trợ còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố:
- Quan điểm cộng đồng rộng rãi dựa trên vấn đề nhân đạo và mối quan tâm đến việc
ổn định tình hình kinh tế xã hội quốc tế.
- Mối quan hệ truyền thống đối với các nước khác.
- Tầm quan trọng của các nước đang phát triển với tư cách bạn hàng (thị trường, nơi
cung cấp nguyên vật liệu, lao động).
- Chính sách đối ngoại, an ninh, lợi ích kinh tế xã hội.
Các nước thuộc tổ chức Hợp tác và Phát triển (OECD)
Tổ chức Hợp tác và Phát triển (OECD) được hình thành từ sau chiến tranh thế giới
lần thứ 2. Tổ chức này đã thành lập nhiều uỷ ban chuyên môn trong đó có uỷ ban viện trợ
phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế. Tham gia uỷ ban
này có 18 nước, hiện nay có 21 nước. Các nước thuộc uỷ ban này đều là các nước tư bản
như Mỹ, Nhật, Đức… do vậy các nước thuộc Uỷ ban DAC là những nước cho vay và
cung cấp tài trợ nhiều nhất.
Năm 1970 lần đầu tiên Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã chính thức thông qua chỉ
tiêu ODA = 0,7%GNP của các nước phát triển. Theo đó các nước phát triển cần đạt chỉ
tiêu ODA = 0,7%GNP vào năm 1985 hoặc muộn nhất là vào cuối thập kỷ 80 và phấn đấu
đạt 1%GNP sớm nhất vào năm 2000. Năm 1990, Liên Hợp Quốc chính thức yêu cầu các
nước công nghiệp hàng năm trích 0,7%GNP để tài trợ cho các nước đang phát triển. Song
tính đến nay có rất ít nước đạt được chỉ tiêu này, thậm chí chỉ tiêu này ở một số nước còn
bị giảm đi do những khó khăn về tài chính.
Các nước đang phát triển
Một số nước đang phát triển cũng cung cấp vốn vay và tài trợ như Ấn Độ, Trung
Quốc, Đài Loan, Thái Lan… nhưng nhìn chung lượng tài trợ của những nước này nhỏ,
không đáng kể.
b. Các tổ chức cho vay và tài trợ đa phương
Các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc
Tài trợ từ các tổ chức thuộc hệ thống Liên Hợp Quốc thường được thực hiện dưới
hình thức viện trợ không hoàn lại và ưu tiên cho các nước đang phát triển có thu nhập
5% giá trị khoản vay tuỳ thuộc vào thời hạn, số lượng và hình thức tín dụng vay.
Tín dụng dành cho các nước đang phát triển gồm SAF (Structural Adjustment
Facilitics)- tín dụng điều chỉnh cơ cấu và ESAF (Enhanced Structural Adjustment
Facilitics)- tín dụng điều chỉnh cơ cấu mở rộng. Việc được IMF cho vay rất có ý nghĩa.
Khi một nước hội viên được IMF cho vay thì nước này sẽ được các nước thành viên khác
cho vay với mức lãi suất ưu đãi. Như vậy nếu được IMF cho vay nghĩa là có sự bảo đảm
về mặt uy tín.
- Ngân hàng thế giới (World Bank): NHTG là gọi tắt của nhóm NHTG (World
Bank Group) gồm 5 tổ chức:
Ngân hàng tái thiết và phát triển (International Bank for Reconstruction and
Development- IBRD).
Hiệp hội phát triển quốc tế (International Development Association- IDA).
Công ty tài chính quốc tế (International Finance Corporation- IFC).
Công ty bảo lãnh đầu tư đa phương (Multilateral Investment Guarantee Agency-
MIGA).
Trung tâm quốc tế và xử lý tranh chấp đầu tư (Investment Centre for the Settlement of
Investment Disputes- ICSID).
- Ngân hàng phát triển châu Á (ADB): Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) là một
tổ chức gồm 55 thành viên. ADB cung cấp các khoản cho vay và hỗ trợ kỹ thuật cho các
nước hội viên đang phát triển cũng như khuyến khích đầu tư và phát triển kinh tế trong
khu vực. ADB đặc biệt chú trọng đến các nước nhỏ và kém phát triển nhất, ưu tiên cho
các chương trình và các dự án phát triển vùng, tiểu vùng và các dân tộc ít người để tạo sự
phát triển hài hoà kinh tế toàn vùng.
1.2. VAI TRÒ CỦA NGUỒN VỐN ODA ĐỐI VỚI NỀN KINH TẾ NÓI
CHUNG VÀ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN NGÀNH GIÁO DỤC NÓI RIÊNG
1.2.1. Vai trò đối với nền kinh tế
Ngày nay trong xu thế toàn cầu hoá, khu vực hóa nền kinh tế, phần lớn các quốc
gia đang phát triển đều phải thực hiện đường lối kinh tế mở. Trong nỗ lực hội nhập nền
kinh tế thế giới, các quốc gia này đã cố gắng đẩy mạnh hoạt động kinh tế đối ngoại, mở
rộng thị trường, phát triển các ngành xuất khẩu và tăng cường thu hút vốn đầu tư nước