TIỂU LUẬN:
Phương hướng phát triển và một số
biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
đầu tư của công ty LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình đào tạo tại trường đại học, sinh viên đã được tiếp cận với
các vấn đề lý luận về tổng quan cũng như chuyên ngành.Sau khi học xong phần
lý thuyết về đầu tư ở nhà trường,nhà trường đã cho sinh viên được thâm nhập
thực tế tại các cơ quan ,xí nghiệp nhằm củng cố vận dụng những lý luận đã học
vào thực tế.Theo đúng phương châm giáo dục và đào tạo của Đảng ta và nhà
nước XHCN ,đó là “Học đi đôi với hành,giáo dục kết hợp với sản xuất”.Đây là
cơ hội để hoàn thiện tầm hiểu biết, giúp sinh viên có thể vận dụng những kiến
thức đã học trong nhà trường vào thực tiễn,để sinh viên học hỏi kinh nghiệm của
những người đi trước vừa nâng cao năng lực tay nghề chuyên môn vừa làm chủ
được công việc sau này khi tốt nghiệp ra trường đi làm tại các cơ quan .Đặc biệt
đối với sinh viên chuyên ngành đầu tư đợt thực tập cuối khóa giúp sinh viên biết
được công tác đầu tư tại cơ sở.Ngaỳ nay đối với mọi hoạt động kinh tế đầu tư
đóng vai trò rất quan trọng .Được tới công ty Cổ phần xi măng Bỉm Sơn thực tập
là một cơ hội để em học hỏi cách làm việc ngoài thực tế để sau này không bỡ ngỡ
khi ra trường làm việc tại các cơ sở.
Trong thời gian thực tập vừa qua tại công ty Cổ phần xi măng Bỉm
· Chức danh : Giám đốc công ty.
· Họ và tên : Nguyễn Như Khuê.
Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn tiền thân là Nhà máy Xi măng Bỉm
Sơn được xây dựng vào đầu những năm 80. Công ty Xi măng Bỉm Sơn là doanh
nghiệp nhà nước, trực thuộc Tổng Công ty Xi măng Việt Nam, có chức năng tổ
chức sản xuất, cung ứng xi măng cho khách hàng trên địa bàn được phân công
đảm nhiệm.Từ ngày 01/05/2006 Công ty chuyển đổi thành Công ty Cổ phần xi
măng Bỉm Sơn theo QD số 486/QĐ-BXD ngày 23/3/2006 của Bộ trưởng Bộ xây
dựng và đăng ký kinh doanh số 2603000429 do Sở KH&ĐT tỉnh Thanh Hóa cấp
ngày 01/5/2006.
2.Quá trình hình thành và phát triển của công ty:
Cuối thập kỷ 60, cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước của dân tộc đang đi
vào giai đoại ác liệt nhất, thì Đảng và Nhà nước ta đã hoạch định một chiến lược
xây dựng, để ngay sau khi thống nhất nước nhà, dân tộc ta có thể bắt tay ngay
vào công cuộc xây dựng kiến thiết đất nước.Cũng trong thời gian này, với sự
giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên-Xô, Đảng và Nhà nước ta đã quyết định xây
dựng một nhà máy sản xuất xi măng hiện đại, có công suất lớn nhất nước ta tại
khu vực Bỉm Sơn, nhằm đáp ứng một phần nhu cầu xi măng cho công cuộc xây
dựng đất nước ngay sau khi kết thúc chiến tranh.
Quá trình hình thành và phát triển:
Đã có rất nhiều địa điểm được khảo sát và có khả năng xây dựng nhà máy
xi măng như: Hoàng Mai (Nghệ An), Bỉm Sơn, Nghi Sơn (Thanh Hoá), Bút Sơn
(Nam Hà)…Nhưng do điều kiện của nước ta lúc đó không đủ sức để xây tất cả
các nhà máy nên Đảng, Chính phủ đã quyết định tập trung xây dựng nhà máy xi
măng Bỉm Sơn có công suất lớn nhất nước ta khi đó nhằm đáp ứng được một
phần nhu cầu xi măng cho công cuộc xây dựng đất nước sau khi thống nhất.
- Giai đoạn 1: Tiến hành công tác khảo sát thăm dò địa chất (1968 - 1975)
Việc thăm dò khảo sát do đoàn Địa chất 306 tiến hành trên phạm vi rộng
hàng chục km
2
sản xuất của nhà máy.
-Giai đoạn 4: Xi măng Bỉm Sơn đổi mới (Từ năm 1991 đến nay)
Tháng 08 năm 1993, Thực hiện chủ trương sản xuất gắn liền với tiêu thụ,
ngày 12/8/1993, Bộ Xây Dựng ra quyết định số 366/BXD-TCLĐ hợp nhất Công
ty Kinh doanh Vật tư số 4 và Nhà máy Xi măng Bỉm Sơn, đổi tên thành Công ty
Xi măng Bỉm Sơn, là công ty nhà nước trực thuộc Tổng công ty Xi măng Việt
Nam với tổng số công nhân viên là 2864 người, trong đó nhân viên quản lý là
302 người.
Ngày 19/02/2002, được sự đồng ý của Nhà nước và sự chỉ đạo của Tổng
công ty xi măng Việt Nam, Công ty xi măng Bỉm Sơn đã khởi công xây dựng,
cải tạo và hiện đại hoá dây chuyền sản xuất với công suất thiết kế giai đoạn I đạt
sản lượng 1,8 triệu tấn xi măng / năm, giai đoạn II đạt sản lượng 2,4 triệu tấn xi
măng / năm.
Từ năm 2004 đến nay công ty đang thực hiện tiếp dự án xây dựng nhà
máy xi măng mới công suất 2 triệu tấn sản phẩm/năm.
Từ ngày 01/5/2006 Công ty chuyển đổi thành Công ty cổ phần Xi măng
Bỉm Sơn theo quyết định số 486/QĐ-BXD ngày 23/03/2006 của Bộ trưởng Bộ
Xây dựng và đăng kí kinh doanh số 2603000429 do sở KH&ĐT tỉnh Thanh Hóa
cấp ngày 01/5/2006. Ngày 20/1/2006 Công ty cổ phần xi măng Bỉm Sơn tổ chức
bán đấu giá cổ phần lần đầu tại 2 địa điểm là Trung tâm giao dịch chứng khoán
Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau hơn 25 năm hình thành và phát triển với không ít những khó khăn trở ngại,
Công ty cổ phần Xi măng Bỉm Sơn đã có những bước phát triển vững vàng trong
nền kinh tế thị trường.
Các giải thưởng đã đạt được:
+Từ năm 1988 được cấp dấu chất lượng cấp 1
+Từ năm 1992 đến nay liên tục được Bộ xây dựng và công đoàn ngành
tập cờ chứng nhận sản phẩm chất lượn cao
+ Đạt 12 huy chương vàng tại hội chợ triển lãm quốc tế hàng công nghiệp
trình xây dựng trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài( Hiện tại đang xuất khẩu
sang nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, tại địa bàn này tuy việc cung ứng xi
măng gặp rất nhiều khó khăn song vì việc chiếm lĩnh thị trường lâu dài vẫn quyết
tâm đáp ứng thoả mãn nhu cầu thị trường.
-Ngoài ra công ty còn có 1 nhiệm vụ chính trị là cung cấp xi măng cho các
địa bàn theo sự điều hành tiêu thụ của Tổng công ty XM Việt nam để tham gia
vào việc bình ổn giá cả trên thị trường.
II. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của Công ty cổ phần Xi măng Bỉm
Sơn
1. Sản phẩm sản xuất
Sản phẩm chính hiện nay Công ty đang sản xuất là xi măng pooclăng hỗn
hợp PCB 30 và PCB 40 theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) 6260 năm 1997, xi
măng PC 40 theo TCVN 2682 năm 1999 và Clinker thương phẩm theo TCVN
7024 năm 2002. Các sản phẩm này Công ty đã công bố sản phẩm phù hợp tiêu
chuẩn và chất lượng hàng hoá tại Chi cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng (TC –
ĐL – CL) Thanh Hoá và được Chi cục tiếp nhận. Đặc biệt đối với hai sản phẩm xi
măng chủ đạo là PCB 30 và PCB 40 đã được Trung tâm Chứng nhận Phù hợp Tiêu
chuẩn QUACERT thuộc Tổng cục TC – ĐL – CL cấp chứng nhận sản phẩm phù hợp
tiêu chuẩn.
Quy trình sản xuất của công ty là sản xuất đơn giản kiểu khép kín. Sản
phẩm tạo ra trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau, Sản phẩm chính của công ty là
xi măg PCB 30, PCB 40, Clinker, ximăng lixăng, được sản xuất trên dây chuyền
công nghệ đồng bộ, liên tục.Với chính sách chất lượng nhất quán, sản phẩm xi
măng mang nhãn hiệu “Con Voi” của Công ty đã và đang có uy tín với người
tiêu dùng trên thị trường hơn 25 năm qua Do nhu cầu của thị trường mà hiện tại
sản phẩm xi măng PCB 30 đang chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sản phẩm của
Công ty. Định hướng trong thời gian tới Công ty sẽ sản xuất đại trà chủng loại xi
măng PCB 40 pha phụ gia tỷ lệ cao, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh của toàn Công ty.
2. Nguyên vật liệu
hợp dưới dạng bùn bằng các thiết bị chính là máy đập đá vôi, thiết bị nghiền và
các thiết bị phụ trợ khác.
Xưởng Lò nung: Có nhiệm vụ quản lý thiết bị từ tiếp liệu, lò nung, nghiền
than đến nạp Clinker, tổ chức vận hành đúng quy trình đảm bảo thiết bị hoạt
động liên tục, đồng bộ nhằm tạo ra Clinker có chất lượng cao.
Xưởng Nghiền xi măng: Có nhiệm vụ nghiền hỗn hợp Clinker, thạch cao
và các chất phụ gia khác thành xi măng bột bằng máy nghiền chuyên dùng, máy
đập thạch cao.
Xưởng Đóng bao: Có nhiệm vụ đóng gói xi măng bột đã được sản xuất.
3.2. Khối sản xuất phụ
Khối sản xuất phụ có nhiệm vụ hỗ trợ cho khối sản xuất chính hoàn thành
công việc của mình. Khối sản xuất phụ gồm 5 xưởng với mỗi nhiệm vụ khác
nhau như sau:
Xưởng Cơ khí chế tạo: Thực hiện sửa chữa các thiết bị của các đơn vị
trong Công ty, chế tạo một số phụ tùng phục vụ cho công tác sửa chữa và thay
thế.
Xưởng Sửa chữa thiết bị: Thực hiện công tác sửa chữa máy móc thiết bị
phần cơ khí thuộc dây chuyền sản xuất của Công ty.
Xưởng sửa chữa công trình cấp thoát-nén khí: Thực hiện công tác sửa
chữa các công trình kiến trúc, xây lót lò nung và làm công tác vệ sinh công
nghiệp trong Công ty.
Xưởng Điện tự động: Tổ chức quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả hệ
thống điện được Công ty giao, đảm bảo vận hành an toàn các thiết bị cung cấp
điên của Công ty.
Xưởng may bao: Cung cấp vỏ bao phục vụ cho đóng bao
3.3Khối tiêu thụ :
Gồm có 6 chi nhánh và 1 trung tâm tiêu thụ
-Trung tâm tiêu thụ có nhiệm vụ ký kết hợp đồng mua bán sản phẩm trực
tiếp với công ty , hợp đồng vận tải của công ty với các cá nhân, tập thể bên ngoài
để vận chuyển xi măng đến các địa bàn tiêu thụ, viết hoá đơn kiêm phiếu xuất
- Phó giám đốc cơ điện : giúp giám đốc công ty quản lý chỉ đạo điều hành
công tác cơ điện phục vụ cho quá trình sản xuất ,bảo dưỡng ,sửa chữa máy móc
thiết bị ,phương tiện bốc xúc,khai thác,vận chuyển,công tác cung ứng vật tư thiết
bị,phụ tùng phục vụ sửa chữa ,gia công chế tạo.Chỉ đạo quản lý trực tiếp các đơn
vị:phòng cơ khí,năng lượng,các phân xưởng phụ trợ.
- Phó giám đốc nội chính : giúp giám đốc công ty trực tiếp chỉ đạo điều
hành công tác bảo vệ quân sự,phòng cháy chữa cháy,đời sống,văn hóa xã hội,y tế
trong công ty.Trực tiếp quản lý các đơn vị:Phòng bảo vệ ,quân sự,phòng đời
sống,quản trị,trạm y tế công ty.
-Phó giám đốc phụ trách công tác tiêu thụ sản phẩm:Giúp giám đốc
công ty trực tiếp chỉ đạo điều hành công tác thị trường,tổ chức mạng lưới bán
hàng,vận tải hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm nhằm đáp ứng sản xuất kinh doanh
của công ty.Trực tiếp quản lý chỉ đạo các đơn vị:Trung tâm giao dịch tiêu thụ,văn
phòng đại diện tại các tỉnh trong nước và văn phòng đại diện tại nước CHDC
nhân dân Lào.
-Phó giám đốc công ty kiêm giám đốc BQL dự án:Chuẩn bị hồ sơ thiết
kế,dựtoán,tổng dự toán xây dựng công trình để chủ đầu tư tổ chức thẩm định phê
duyệt theo quy định.Lập kế hoạch đấu thầu,lập hồ sơ mời thầu cho các gói thầu.
Các phòng ban:
-Phòng tổ chức lao động:Tham mưu cho giám đốc về công tác tổ chức
cán bộ ,tổ chức sản xuất kinh doanh,tổ chức lao động,tiền lương,tiền thưởng,định
mức lao động,công tác đào tạo,bồi dưỡng thi đua khen thưởng,kỷ luật.
-Phòng Kinh tế Kế Hoạch: Tham mưu giúp giám đốc công ty định
hướng chiến lược sản xuất kinh doanh.Xây dựng toàn bộ hệ thống kế hoạch
thuộc các lĩnh vực trong công ty,kiểm tra đôn đốc việc thực hiện kế hoạch đã đề
ra.
-Phòng Kế toán thống kê tài chính: Quản lý tài chính và giám sát việc
hoạt động kinh tế tài chính trong công ty.Tổ chức chỉ đạo thực hiện toàn bộ công
tác kế toán,hạch toán kế toán theo đúng chuẩn mực kinh tế Việt Nam và hoạch
toán kinh tế nội bộ.
ty.
-Tổng kho vật tư thiết bị: Thực hiện chức năng :nhập,cấp phát,bảo quản
toàn bộ vật tư thiết bị ,phụ tùng,nguyên nhiên vật liệu,kho tàng phục vụ yêu
cầu sản xuất kinh doanh của công ty.
-Văn phòng công ty: Giúp giám đốc công ty tổng hợp mọi hoạt động có
liên quan đến công ty.Tổ chức thực hiện công tác quản lý hành chính và quan hệ
của công ty với các cơ quan bên ngoài.
-Trạm y tế công ty: Quản lý và chăm sóc sức khỏe ban đầu.Khám chữa
bệnh,phòng chống dịch bệnh,cấp cứu tai nạn lao động cho người lao động và
người lao động theo khả năng chuyên môn và phân cấp của ngành y tế.
-Ban quản lý dự án : Là đơn vị trực thuộc công ty,chịu trách nhiệm quản
lý,điều hành dự án đầu tư xây dựng dây chuyền mới nhà máy xi măng Bỉm
Sơn.Ban quản lý dự án chịu trách nhiệm trước pháp luật và chủ đầu tư về việc
thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn được giao.
Nhìn vào có thể thấy công ty đã phân công trách nhiệm chính cho 5 phó
giám đốc : Mỗi phó giám đốc phụ trách một tổ hợp, phòng ban, phân xưởng có
chức năng tương tự và có liên quan đến nhau . Điều đó chứng tỏ công ty đã có sự
nghiên cứu chấn chỉnh sắp xếp bộ máy quản lý, các đơn vị sản xuất một cách hợp
lý để mỗi phó giám đốc phụ trách một lĩnh vực riêng vừa đảm bảo nắm bắt được
tình hình một cách cụ thể, vừa tránh được sự chồng chéo trong quản lý .
4. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
Với hai sản phẩm chính là xi măng PCB 30 và PCB 40 Công ty hiện nay đang
duy trì hai dây chuyền sản xuất là dây chuyền sản xuất theo phương pháp khô và ướt.
4.1. Dây chuyền sản xuất theo phương pháp ướt ( dây chuyền số I)
Dây chuyền số I được Liên Xô giúp đỡ và xây dựng từ năm 1976, đến
năm 1981 tấn xi măng đầu tiên của Công ty được ra đời, đánh dấu một bước tiến
vượt bậc của ngành công nghiệp xi măng lúc bấy giờ. Trải qua hơn 25 năm vận
hành và sản xuất liên tục đến nay dây chuyền vẫn đang tiếp tục sản xuất Clinker
với chất lượng và năng suất cao.
Quy trình sản xuất theo phương pháp ướt
thấp, năng suất thiết bị luôn đạt và vượt công suúât thiết kế.
Nhược điểm: Nhược điểm lớn nhất của lò khô là bắt buộc phải có thiết bị
lọc bụi. Thiết bị này được đưa vào tài sản cố định thu hồi được trong quá trình
sản xuất.
Có thể thấy quy trình sản xuất xi măng là rất phức tạp, hiện nay Công ty
đang kết hợp khai thác cả hai dây chuyền công nghệ, tuy nhiên với những ưu
điểm vượt trội của phương pháp khô thì sản xuất xi măng theo phương pháp lò
khô đang dần được thay thế cho phương pháp ướt.
III.Tình hình hoạt động của công ty năm 2009:
1.Sản xuất
Tình hình hoạt động của các thiết bị chính năm 2009:
+Lò 1 dừng SLC 2 lần trong năm;do đặc thù công nghệ lạc hậu,hoạt động
đã gần 30 năm nên bộ chuyền động luôn trong tình trạng rung giật mạnh.
+Lò 2 dừng SCL 1 lần trong năm ;lò hoạt động tương đối ổn định,năng
suất cao,chất lượng đảm bảo.
+Lò 3: Chưa đi vào hoạt động theo dự kiến.
+Nghiền xi măng:Đạt mức sản lượng sản xuất cao nhất từ trước tới nay.
+Đóng bao:Dây chuyền đóng bao 2 mới đã chạy bảo hành năng suất
nhưng thiết bị trục trặc,hư hoảng nhiều,thiếu phụ tùng thay thế,dự phòng Dây
chuyền đóng bao 1 đã chạy quá tải ,dự kiến quý I/2010 chạy bảo hành năng suất.
Sản lượng sản xuất của đóng bao mới là 702.436.45 tấn /2.570.228 tấn
tổng sản lượng,chiếm 23,33%.
2.Sản lượng sản xuất và mua ngoài năm 2009:
Bảng 1 :Sản lượng sản xuất và mua ngoài năm 2009
Kế hoạch Cả năm %TH/KH
% so với 2008
I SẢN XUẤT
1 Clinker Tấn 2200000 172708
78,53
99,78
132
909.374
134.123
85.778
2001
1100000
1285368
117
856.047
72.347
62.526
2002
1300000
1528011
118
1018.644
41.956
25.28
2003
1670000
2006259
120
1307.14
83.664
65.016
2004
2100000
2476957
118
1560.231
2009
2450000
2630125
107.4
2325.3
100.606
216.011
Lợi nhuậnNăm
Sản lượng
Doanh thu Nộp NS
(Nguồn:Phòng kinh tế kế hoạch)
Doanh thu và lợi nhuận của công ty ngày càng đươc tăng lên.Bởi vì nhu
cầu xi măng trong xây dựng các năm gần đây vẫn tăng. Trước năm 2003 với
công nghệ lạc hậu và nguồn vốn hạn hẹp nên lợi nhuận đem lại thấp,nhưng tỷ lệ
nộp vào ngân sách khá cao.Từ năm 2003 đến nay lợi nhuận hàng năm đều
tăng.Từ năm 2006 đến nay lợi nhuận tăng khá cao,như vậy có thể thấy được
chính sách cổ phần hóa công ty là đúng đắn.
Phần II:CÁC HOẠT ĐỘNG LIÊN QUAN ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ
TSCD vô hình khác 988.313 1078.805 1253.805
T
ổng
110.396
110486.492
110661.5
(Nguồn:Phòng kế toán)
Tình hình đầu tư vào tài sản hữu hình có tăng lên nhưng tăng với tỉ lệ rất
ít.Cụ thể quyền sử dụng đất,nhãn hiệu hàng hóa,bản quyền bằng sáng chế,giấy
phép và giấy chuyển nhượng không tăng ở cả 3 năm.Tổng TSCD vô hình tăng là
do tổng tài sản vô hình khác tăng lên.
Bảng 5 :Giá trị tài sản
Đ vị:Triệu đồng
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
I.TSCĐ 1084585 1892563 2424612
1.TSCĐ hữu hình 824736 690339 725436
Nguyên giá 1778625 1815017 1956546
Giá trị hao mòn lũy kế 953889 1124678 1231112
2.TSCĐ thuê tài chính
Nguyên giá
Giá trị hao mòn lũy kế
3.TSCĐ vô hình 94183 89013 85860
Nguyên giá 110396 110487 110662
Giá trị hao mòn lũy kế 16213 21474 24801
4.Chi phí xd cơ bản dở dang 165666 1113211 1613316
1722
1648
1572
2.Lao động gián tiếp
1101
1066
1016
II.Phân theo chức năng
2823
2714
2588
1.Khối quản lý
703
692
658
2.Khối sản xuất
1722
1648
1572
3.khối kinh doanh
398
374
358
III.Phân theo trình độ
2823
2714
2588
1.Đại học và trên đại học
320
320
(Nguồn: Phòng tổ chức lao động)
Từ bảng 4 có thể rút ra kết luận: Tổng số lao động của toàn công ty
giảm là do số lao động ở trình độ lớp học nghề giảm, năm 2008/2007 giảm 96
người tương ứng 4,94 còn năm 2009/2008 giảm 97 người tương ứng 0,52%. Hơn
nữa do trình độ cao đẳng, trung cấp, chưa qua đào tạo cũng có chiều hướng giảm
xuống, duy nhất trình độ đại học và trên đại học năm 2008/2007 là không đổi
nhưng đến năm 2009/2008 đã tăng 6 người tương ứng 1,88% so với tổng số lao
động đại học và trên đại học tương ứng trình độ phần nào đó đã được nâng cao,
sử dụng lao động có chất xám xu hướng ngày càng nhiều để tạo cho quá trình sản
xuất có năng xuất cao, hiệu quả tốt hơn.
Do tình hình sản xuất tiêu thụ hiện nay cuả công ty có chiều hướng phát
triển cho nên vấn đề đãi ngộ tài chính cho CBCNV tương đối tốt.
Cùng với sự phát triển sản xuất, đội ngũ những người lao động trong công
ty đã tăng cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh việc phát triển lực lượng lao
động bằng cách thu hút nguồn nhân lực từ các trường đại học, cao đẳng, trung
học chuyên nghiệp và dạy nghề công ty còn thực hiện đào tạo, bồi dưỡng tay
nghề cho cán bộ công nhân viên ở từng phân xưởng cũng như từng đơn vị sản
xuất.
Việc đầu tư ở nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở sự tăng lên của số công
nhân viên có trình độ cao mà còn thể hiện ở sự tăng lên của quỹ lương,sự trích
lập các quỹ khen thưởng để động viên công nhân viên .
Bảng 8 :Tình hình đầu tư vào nguồn nhân lực
Đvi:đồng
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
Số lao động(người) 2823 2714 2588
Tổng quỹ tiền lương( đồng) 5081000000 5.428E+09 5435000000
Mức lương bình quân/người/tháng
1800000 2000000 2100000
Mức lương tối thiểu 650000 700000 750000
Mức lương tối đa 5000000 5300000 5500000
1.Vốn chủ sở hữu 1018 1170 1544 152 14.931 374
31.97
2.Nguồn kinh phí và quỹ khác
6 10 15 4 66.667 5
50
Tổng nguồn vốn 2337 4632 6509 2295 98.203 1877
40.52
Chỉ tiêu 2007 2008 2009
So sánh
2008/2007
2009/2007
(Nguồn:Phòng kế toán)
Qua bảng trên ta thấy tình hình tài chính về vốn đã có chiều hướng tăng
lên.Tổng vốn vay tăng lên 163%của năm 2008 so với 2007 ,sang năm 2009 đã có sự
điều chỉnh trong tỉ lệ vốn vay chỉ còn tăng 43%.Điều này cho thấy trong cơ cấu vốn
phần vốn vay vẫn chiếm một tỉ lệ rất cao.Phần vốn chủ sở hữu cũng tăng đáng
kể.Năm 2008 chỉ tăng 15% sang năm 2009 tăng 32% .Lý do tăng chủ yếu của tăng
nguồn vốn chủ sở hữu là do công ty sau khi chuyển hóa thành công ty cổ phần đã
phát động các công nhân viên mua cổ phiếu để huy động vốn trong nội bộ công
ty.Sự tăng lên của nguồn vốn chủ sở hữu thì khả năng chi trả cho các khoản nợ ngắn
hạn cũng như dài hạn dễ dàng hơn,giúp cho công ty chủ động hơn trong việc sử
dụng vốn.
Để mở rộng quy mô đầu tư,công ty cũng cố gắng huy động từ nhiều nguồn
khác nhau.Trong đó vay ngân hàng là phổ biến để tạo tiềm lực về vốn,đảm bảo
cho việc đầu tư thực hiện một cách có hiệu quả.Bên cạnh đó công ty được thực
hiện cho việc chào bán cổ phiếu ra thị trường để tăng nguồn vốn và tạo khả năng
chủ động hơn.Theo điều lệ của công ty,hội đồng quản trị sẽ quyết định thời
điểm,phương thức và giá chào bán cổ phiếu trong số cổ phần được quyền chào
bán.
Đại hội đồng cổ đong cũng chịu trách nhiệm các quyết đinh trích lập các
Đơn vị:Triệu đồng
Lĩnh vực và Hình thức Tổng số Tổng giá Tổng giá Chênh lệch