Báo cáo "Một số vấn đề về đối tượng áp dụng chế độ tuyển dụng vào biên chế nhà nước " - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 11ThS. Nguyễn Hữu Chí *
uyển dụng vào biên chế (TDVBC)
nhà nớc là hình thức tuyển dụng
đợc áp dụng phổ biến ở nớc ta.
Trong thời kì kinh tế tập trung bao cấp,
TDVBC gần nh là biện pháp huy động
lao động duy nhất nhằm đảm bảo nhu cầu
lao động không chỉ cho cơ quan, xí
nghiệp, công, nông, lâm trờng của Nhà
nớc mà còn giải quyết nhu cầu nhân sự
cho các tổ chức chính trị - x hội. Các
văn bản pháp luật quy định chế độ
TDVBC thời kì đó là Nghị định số 24/CP
ngày 13/13/1963 ban hành Điều lệ tạm
thời về tuyển dụng và cho thôi việc đối
với công nhân, viên chức nhà nớc và
một số văn bản hớng dẫn. Sự áp dụng
chế độ này là cần thiết trong giai đoạn đất
nớc phải tập trung tài lực, vật lực cho
cuộc chiến tranh chống Mĩ cứu nớc. Tuy
nhiên, sau khi miền Nam đợc giải
phóng, đất nớc đợc thống nhất, việc
tiếp tục duy trì TDVBC nh là hình thức
tuyển dụng độc nhất trong quá trình
tuyển chọn và thu hút lao động đ gây ra

nhằm đáp ứng đòi hỏi của x hội là tất
yếu khách quan. Từ đây, đặt ra vấn đề
cần phân định ranh giới, xác định rõ ràng
phạm vi, đối tợng áp dụng cho từng hình
thức tuyển dụng lao động.
Hiện nay, theo quy định của một số
văn bản pháp luật nh Pháp lệnh cán bộ,
công chức ngày 26/2/1998 và các văn bản
hớng dẫn pháp lệnh này nh Nghị định
số 96/CP, Nghị định số 97/CP ngày
17/11/1998 và Nghị định số 198/CP ngày
31/12/1994 hớng dẫn thực hiện một số
quy định về hợp đồng lao động của Bộ
luật lao động thì đối tợng áp dụng chế
độ TDVBC đ rõ ràng hơn.
Trớc hết, chế độ TDVBC đợc áp
dụng để tuyển dụng công chức nhà nớc.
Đây là đối tợng chủ yếu của chế độ
TDVBC. Về bản chất, công chức nhà
nớc cũng là ngời lao động đi làm trớc
T

* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
12 - Tạp chí luật học

hết với mục đích để có thu nhập nuôi

Trớc hết là đối với các đối tợng
thuộc tổ chức chính trị và tổ chức chính
trị - x hội. Hệ thống các tổ chức chính trị
và chính trị - x hội ở nớc ta đợc tổ
chức thống nhất bao gồm: Đảng cộng sản
Việt Nam, Mặt trận tổ quốc Việt Nam,
công đoàn, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ
Chí Minh, Hội phụ nữ Việt Nam T
cách và địa vị pháp lí của các tổ chức này
đ đợc văn bản pháp lí cao nhất (Hiến
pháp 1992) của Nhà nớc ta ghi nhận.
Xét về mặt bản chất, các tổ chức chính trị
và tổ chức chính trị - x hội ra đời trên cơ
sở tự nguyện của các thành viên, hoạt
động nhân danh tổ chức mình nhằm thỏa
mn các nhu cầu có tính nội bộ. Do đó,
hiện nay ở hầu hết các nớc trên thế giới
nói chung kinh phí hoạt động của các tổ
chức x hội trong đó kể cả chi phí liên
quan đến đảm bảo nguồn nhân lực cho
hoạt động của tổ chức x hội đều phải do
các tổ chức đó tự trang trải thông qua sự
đóng góp của các thành viên và các
nguồn thu nhập khác chứ không phải từ
ngân sách nhà nớc. Tuy nhiên, ở các
nớc x hội chủ nghĩa trớc đây và ở
nớc ta nói riêng, ngoài tính chất x hội,
các tổ chức x hội nói trên còn là những
tổ chức chính trị trong hệ thống tổ chức
chính trị - x hội thống nhất, đợc pháp

hội khác. Rõ ràng, để đảm bảo cơ chế
một đảng lnh đạo trong điều kiện có sự
hiện diện nhiều tổ chức chính trị - x hội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 13

thì việc chi phối về mặt kinh tế thông qua
đó tạo sự ảnh hởng về mặt chính trị
trong hoạt động của các tổ chức chính trị
- x hội từ đảng cầm quyền là một trong
những cơ sở quan trọng cho sự tồn tại của
cơ chế này nhằm ngăn ngừa sự đa nguyên
về chính trị.
Tóm lại, xét về mặt nguyên tắc, cũng
nh lịch sử của vấn đề thì hiện nay và
trong tơng lai, hoạt động của các tổ chức
chính trị - x hội ở nớc ta nói chung và
lĩnh vực tuyển dụng lao động nói riêng ít
nhiều cần đợc Nhà nớc bao cấp về kinh
phí. Tuy nhiên, trong điều kiện của nền
kinh tế thị trờng quan điểm nói trên cần
đợc xem xét và áp dụng với sự đổi mới
rất lớn về mặt nội dung và phạm vi. Nếu
nh trớc đây tất cả những ngời lao
động làm việc trong các tổ chức chính trị
- x hội đều thông qua chế độ TDVBC,
đợc Nhà nớc đảm bảo toàn bộ quyền
lợi và chế độ thì hiện nay đối tợng làm

của những đối tợng này khi thực hiện
quan hệ lao động là khác nhau: Một bên
nhân danh công quyền, một bên nhân
danh tổ chức mình. Quan điểm trên cho
phép chúng ta dung hòa đợc các yêu cầu
về mặt khoa học quản lí hành chính, lao
động với những yêu cầu có tính lịch sử và
thực tiễn ở nớc ta, từ đó lí giải đợc vì
sao khác với nhiều quốc gia, ở nớc ta -
hình thức TDVBC không chỉ áp dụng với
công chức nhà nớc mà còn áp dụng với
một số đối tợng thuộc tổ chức chính trị -
x hội.
Chế độ TDVBC còn đợc áp dụng với
các chức danh thành viên hội đồng quản
trị, giám đốc (tổng giám đốc), phó giám
đốc (phó tổng giám đốc), kế toán trởng
trong doanh nghiệp nhà nớc. Nh vậy,
khác với các doanh nghiệp khác là mọi
đối tợng tham gia quan hệ lao động đều
có thể hình thành quan hệ thông qua chế
độ hợp đồng lao động, với doanh nghiệp
nhà nớc ba chức danh giám đốc, phó
giám đốc, kế toán trởng phải là ngời
của Nhà nớc, đợc Nhà nớc bổ nhiệm
giữ các trọng trách đó. Theo chúng tôi cơ
chế bổ nhiệm này đợc áp dụng vì những
yêu cầu sau đây:
Thứ nhất, khi tham gia kinh doanh,
doanh nghiệp nhà nớc sử dụng số lợng

diện mạo của doanh nghiệp trong nền
kinh tế thị trờng theo định hớng x hội
chủ nghĩa, tức nó phải là các doanh
nghiệp mẫu mực không chỉ trong lĩnh vực
kinh doanh đợc thể hiện qua tốc độ tăng
trởng, năng suất, chất lợng, hiệu quả
mà còn gơng mẫu trong việc thực hiện
pháp luật, thực hiện trách nhiệm của
doanh nghiệp đối với Nhà nớc, với x
hội (thông qua nghĩa vụ thuế, bảo vệ môi
trờng, tham gia giải quyết các vấn đề x
hội ) với việc đảm bảo các quyền và lợi
ích hợp pháp của ngời lao động trong
quan hệ lao động.
Nh vậy, vai trò và trách nhiệm của
doanh nghiệp nhà nớc trong nền kinh tế
thị trờng theo định hớng x hội chủ
nghĩa là rất quan trọng và nặng nề. Trọng
trách của chúng không chỉ thuần túy về
mặt kinh tế - x hội mà nó còn là sự kiểm
nghiệm thực tế cho sự tồn tại và phát triển
bền vững của mô hình kinh tế thị trờng
theo định hớng x hội chủ nghĩa. Đây
cũng chính là những cơ sở lí luận cho
việc duy trì chế độ bổ nhiệm các chức
danh lnh đạo doanh nghiệp nhà nớc.
Tuy nhiên, hiện nay cũng có quan
điểm cho rằng, đối với doanh nghiệp nhà
nớc, nên chăng áp dụng cơ chế thuê
giám đốc nh bất cứ doanh nghiệp nào

Thứ hai, xuất phát từ một trong những
yêu cầu của nền kinh tế thị trờng, đó là
vấn đề cạnh tranh. Hiện nay, với cơ chế
bổ nhiệm các chức danh lnh đạo trong
doanh nghiệp nhà nớc mà thông thờng
là từ những ngời thuộc đối tợng
TDVBC (về mặt pháp lí Nhà nớc có thể
bổ nhiệm các chức danh này đối với
những ngời làm hợp đồng lao động
nhng thực tế rất hn hữu xảy ra), các
chức vụ lnh đạo này thờng có tính ổn
định và thời hạn đảm đơng chức vụ
không hạn chế trong khi tất cả những đối
tợng lao động khác của doanh nghiệp
nhà nớc thực hiện quan hệ lao động theo
chế độ hợp đồng lao động nên thực tế các
chức vụ lnh đạo này đối với họ là rất xa vời nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 15

nếu không muốn nói là không tởng. Do đó,
nó hạn chế phần nào sự phấn đấu, học tập,
trau dồi chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất
để vơn lên của ngời lao động. Nh vậy, cơ
chế tuyển dụng, bổ nhiệm hiện hành của
doanh nghiệp nhà nớc ít nhiều làm giảm sự
cạnh tranh trong quan hệ lao động của doanh
nghiệp nhà nớc.

cũng nh quyền lợi của giám đốc doanh
nghiệp nhà nớc, không nên chỉ quy định
chung chung nh hiện nay.
Tóm lại, hình thức TDVBC đ, đang
và sẽ còn là hình thức tuyển dụng lao
động quan trọng ở nớc ta bởi kết quả
của nó là sự tạo lập nên hệ thống đội ngũ
công chức nhà nớc có đủ phẩm chất và
năng lực, có khả năng thực thi nhiệm vụ,
chức năng của Nhà nớc. Mặt khác, chế
độ TDVBC còn đáp ứng nhu cầu về bộ
phận nhân lực chủ yếu và quan trọng nhất
của các tổ chức chính trị - x hội đ đợc
Nhà nớc thừa nhận và xác định chỉ tiêu
biên chế. Đây vừa là sự công nhận vai trò,
vị trí, công lao đồng thời cũng là đòi hỏi
sự chung sức cống hiến, đóng góp của
các tổ chức chính trị - x hội vào tiến
trình phát triển kinh tế - chính trị - x hội
chung của đất nớc. Hơn nữa, chế độ
TDVBC còn là cơ sở để Nhà nớc bổ
nhiệm những ngời u tú vào vị trí lnh
đạo trong bộ phận quan trọng giữ vai trò
chủ đạo của nền kinh tế quốc dân là các
doanh nghiệp nhà nớc. Ngoài ra, chế độ
TDVBC còn đợc áp dụng với một số đối
tợng làm việc trong lực lợng vũ trang,
chức vụ dân cử. Chính với ý nghĩa nh
vậy, trong phạm vi bài viết này chúng tôi
đa ra một vài ý kiến trao đổi về một số


Nhờ tải bản gốc
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status