§Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
18
T¹p chÝ luËt häc
Ths. NguyÔn ViÖt C−êng *
ộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) có một
chương (Chương III) với 14 điều quy
định về thẩm quyền của toà án. Khác với các
văn bản pháp luật tố tụng được ban hành
trước đó, BLTTDS chia các việc thuộc thẩm
quyền của toà án thành các tranh chấp, các
yêu cầu về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh, thương mại, lao động và quy định liệt
kê các tranh chấp, yêu cầu này thuộc thẩm
quyền của toà án. Việc quy định này thuận
lợi cho cơ quan, người tiến hành tố tụng,
tham gia tố tụng dễ dàng xác định được vụ
việc dân sự nào thuộc thẩm quyền của toà
án. Tuy nhiên, việc liệt kê cũng dẫn đến tình
trạng không liệt kê hết được những quan hệ
tranh chấp phát sinh trong thực tế. Do vậy,
muốn xác định tranh chấp, yêu cầu nào khác
thuộc thẩm quyền của toà án phải căn cứ vào
các quy định ở văn bản pháp luật khác có
quy định về vấn đề này.
1. Những tranh chấp, yêu cầu dân sự
với một bên là người có quốc tịch Việt
Nam hay giữa người cha và người mẹ là
người không có quốc tịch nhưng có nơi
thường trú tại Việt Nam về quốc tịch của
người con (Điều 17 LQTVN).
Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất
và tài sản gắn liền với đất. Theo quy định
của Luật đất đai năm 2003 thì thẩm quyền
của toà án được mở rộng hơn so với quy
định của Luật đất đai năm 1993. Toà án
không những có thẩm quyền giải quyết các
B
* Chánh toà Toà lao động
Toà án nhân dân tối cao §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
T¹p chÝ luËt häc
19
tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương
sự đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo Luật đất đai năm 1987, 1993, 2003 mà
còn có thẩm quyền giải quyết cả những tranh
chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự
chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
nhưng đã có một trong các loại giấy tờ quy
định tại khoản 1, 2, 5 Điều 50 Luật đất đai
136 Luật đất đai năm 2003 và Nghị định số
181/2004/NĐ ngày 29/10/2004 của Chính
phủ hướng dẫn thi hành Luật đất đai không
chỉ rõ loại tranh chấp nào phải qua ủy ban
nhân dân cấp xã hoà giải, hơn nữa hoà giải là
cơ hội tốt để các bên tranh chấp có điều kiện
thỏa thuận giải quyết việc tranh chấp, không
những giải quyết được mâu thuẫn giữa các
bên tranh chấp mà còn góp phần bảo đảm
đoàn kết trong khu dân cư, góp phần giữ gìn
trật tự an ninh xã hội, vì vậy tất cả các tranh
chấp đất đai đều cần phải qua ủy ban nhân
dân cấp xã hoà giải trước khi khởi kiện đến
toà án. Ý kiến thứ hai cho rằng khoản 6 Điều
105 Luật đất đai năm 2003 quy định quyền
của người sử dụng đất là “khiếu nại, tố cáo,
khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử
dụng đất hợp pháp của mình và những hành
vi khác vi phạm pháp luật về đất đai” và
Điều 135 Luật đất đai năm 2003 quy định:
“Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện
trạng sử dụng đất thì ủy ban nhân dân xã,
phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến
cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải
quyết theo quy định về quản lý đất đai”. Với
các quy định trên thì ủy ban nhân dân cấp xã
chỉ hoà giải những tranh chấp liên quan đến
quyền đối với đất đai như tranh chấp về mốc
giới đất, về thừa kế đất còn các tranh chấp
khác không liên quan đến việc phải xác định
BLTTDS phân loại tranh chấp này thành hai
loại tranh chấp về dân sự và tranh chấp về
kinh doanh, thương mại. Những tranh chấp
về sở hữu trí tuệ, bao gồm tranh chấp về
quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp. Vì
vậy, chỉ những tranh chấp về quyền tác giả,
quyền sở hữu công nghiệp mà các bên tranh
chấp không cùng có mục đích lợi nhuận thì
mới thuộc nhóm tranh chấp dân sự.
Đối với những tranh chấp về sở hữu trí tuệ,
chuyển giao công nghệ mà cả hai bên đều có mục
đích lợi nhuận thì không phải là tranh chấp dân
sự. Thông tư liên tịch số 01/2001/TANDTC-
VKSNDTC-BVHTT Ngày 25/12/2001 của Toà
án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân
tối cao, Bộ văn hóa thông tin hướng dẫn thi
hành một số điều của Bộ luật dân sự trong
việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến
quyền tác giả tại toà án nhân dân có liệt kê 6
loại tranh chấp được giải quyết theo thủ tục
giải quyết các vụ án dân sự. Thông tư này có
trước BLTTDS, vì vậy, có những loại tranh
chấp được nêu trong Thông tư này cần phải
xem xét lại như các tranh chấp về quyền tác
giả đối với phần mềm máy tính giữa người
cung cấp tài chính hoặc các điều kiện vật chất
có tính quyết định cho việc xây dựng, phát
triển phần mềm máy tính với người thiết kế,
xây dựng phần mềm máy tính. Tranh chấp này
theo chúng tôi chỉ khi người cung cấp tài chính
T¹p chÝ luËt häc
21
Điều 65 Luật hôn nhân và gia đình quy
định: “Con có quyền xin nhận cha, mẹ của
mình kể cả trong trường hợp cha, mẹ đã
chết”. Trong trường hợp cha, mẹ còn sống
nếu người con yêu cầu xin nhận cha, mẹ
hoặc cha, mẹ yêu cầu nhận con nếu không có
sự tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của cơ
quan hộ tịch giải quyết, nếu có sự tranh chấp
sẽ do toà án giải quyết. Vấn đề đặt ra người
con xin xác nhận cha, mẹ mà người cha,
người mẹ họ đã chết thuộc thẩm quyền của
toà án hay thuộc thẩm quyền của cơ quan hộ
tịch. Theo chúng tôi điểm 5 Điều 27
BLTTDS đã quy định chỉ khi có tranh chấp
về việc xác định cha, mẹ cho con hoặc xác
định con cho cha, mẹ mới thuộc thẩm quyền
của toà án. Vì vậy, nếu việc người con xin
xác nhận cha, mẹ mà cha, mẹ đã chết không
có tranh chấp thì thuộc thẩm quyền của cơ
quan hộ tịch. Thông thường khi cha, mẹ còn
sống, con xin nhận cha, mẹ hoặc ngược lại,
nếu có tranh chấp thì là tranh chấp giữa
người xin nhận với người có quyền đồng ý
hay không đồng ý nhận, tức giữa con với
cha, mẹ. Còn trong trường hợp cha, mẹ đã
chết mà con xin nhận cha, mẹ, theo chúng
2000 và Nghị quyết số 35/2000/QH không
được coi đó là quan hệ vợ chồng, vì vậy,
phải coi trường hợp này là vụ án về hôn
nhân gia đình bằng bản án toà án tuyên
không công nhận quan hệ vợ chồng.
3. Những tranh chấp, yêu cầu kinh
doanh thương mại thuộc thẩm quyền của
toà án
3.1. Những tranh chấp về quan hệ tài sản
Khác Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ
an kinh tế, BLTTDS không dùng khái niệm
tranh chấp hợp đồng kinh tế mà dùng khái
niệm tranh chấp kinh doanh thương mại.
Để phân biệt giữa tranh chấp về dân sự
và tranh chấp về kinh doanh thương mại §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
22
T¹p chÝ luËt häc
trong các quan hệ về tài sản, khoản 1 Điều
29 BLTTDS lấy tiêu chí về đặc điểm và mục
đích của chủ thể tranh chấp. Đó là tranh chấp
phát sinh giữa các cá nhân, tổ chức có đăng
ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận
thì đó là tranh chấp kinh doanh thương mại
tương ứng với vụ án kinh tế được quy định
trong Luật tổ chức toà án nhân dân năm
doanh và đều có mục đích lợi nhuận.
Cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh
đòi hỏi phải do cơ quan có thẩm quyền cấp
giấy đăng ký kinh doanh theo quy định của
pháp luật. Ví dụ: Hợp tác xã thì do uỷ ban
nhân dân cấp huyện nơi hợp tác xã dự định
đặt trụ sở chính cấp giấy chứng nhận.
Về nguyên tắc, các chủ thể chỉ được hoạt
động sản xuất kinh doanh sau khi được cấp
giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh nhưng
trên thực tế nhiều hợp tác xã, doanh nghiệp
hoạt động sản xuất kinh doanh trước khi
được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh nhưng đến khi xảy ra tranh chấp họ đã
có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
Ngược lại, có trường hợp khi hoạt động các
chủ thể đã có giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh nhưng khi xảy ra tranh chấp thì họ bị
thu hồi giấy chứng nhận đó. Cũng có trường
hợp có chủ thể hoạt động ngoài phạm vi giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh, tức là kinh
doanh những ngành nghề mà doanh nghiệp
đó không đăng ký kinh doanh nhưng đều có
mục đích lợi nhuận, trong những trường hợp
này nếu xảy ra tranh chấp theo chúng tôi
những tranh chấp đó được coi là tranh chấp
kinh doanh, thương mại.
(1)
Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP ngày
Một cá nhân không có đăng ký kinh doanh
nhưng họ vẫn mua nhà của các công ty kinh
doanh địa ốc về bán lại cho những người
khác để kiếm lời. Nếu xảy ra tranh chấp giữa
cá nhân đó với công ty kinh doanh địa ốc thì
không thể coi đây là tranh chấp kinh doanh
thương mại.
Mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức
quy định tại khoản 1 Điều 29 BLTTDS là mục
đích sinh lợi mà cá nhân, tổ chức mong muốn
đạt được trong hoạt động kinh doanh, thương
mại không phân biệt có thu được lợi nhuận hay
không thu được lợi nhuận trong hoạt động đó.
Theo Nghị quyết số 01/2005 NQ - HĐTP ngày
31/3/2005 của HĐTPTANDTC, “hoạt động
kinh doanh, thương mại không chỉ là hoạt
động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh,
thương mại mà còn bao gồm cả hoạt động
khác phục vụ thúc đẩy nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh, thương mại”. Vì vậy,
ngoài những hoạt động kinh doanh thương
mại mang lại lợi nhuận trực tiếp như mua
hàng về bán lấy lời thì có những hoạt động
phục vụ cho nhu cầu kinh doanh, thương mại
tuy không phát sinh lợi nhuận nhưng vẫn
được coi là có mục đích lợi nhuận. Ví dụ: Để
phục vụ cho nhu cầu kinh doanh thương mại
công ty X đã thuê văn phòng của công ty
kinh doanh địa ốc Y, giao dịch trên của
Công ty X không trực tiếp mang lại lợi
T¹p chÝ luËt häc
3.2. Những tranh chấp về sở hữu trí tuệ
So với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các
vụ án kinh tế, BLTTDS đã quy định thêm
các tranh chấp về sở hữu trí tuệ, chuyển giao
công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và
đều có mục đích lợi nhuận thuộc tranh chấp
về kinh doanh thương mại. Khác với các
tranh chấp về tài sản, loại tranh chấp này
BLTTDS chỉ lấy tiêu chí mục đích của các
bên tranh chấp để phân biệt tranh chấp dân
sự hay tranh chấp kinh doanh thương mại.
Việc xác định khi nào các bên tranh chấp
“đều có mục đích lợi nhuận”, Nghị quyết số
01/2005/NQHĐTP nêu trên chưa có hướng
dẫn cho loại tranh chấp này. Theo chúng tôi,
đối với các tranh chấp về sở hữu trí tuệ phát
sinh giữa tác giả, chủ sở hữu tác phẩm với
người sử dụng tác phẩm đó, hay giữa chủ sở
hữu đối tượng sở hữu công nghiệp với người
sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp đó
mà tác giả, chủ sở hữu tác phẩm hay chủ sở
hữu đối tượng sở hữu công nghiệp đã được
người sử dụng trả một khoản tiền do các bên
thỏa thuận, còn người sử dụng dùng tác
phẩm, hay đối tượng sở hữu công nghiệp đó
để khai thác kiếm lời với những điều kiện hai
bên đã thỏa thuận. Ví dụ: Một tác giả chuyển
các thành viên của công ty… so với các
quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết
các vụ án kinh tế thì BLTTDS chỉ bổ sung
thêm các tranh chấp có liên quan đến việc
sáp nhập, hợp nhất, chia tách, chuyển đổi
hình thức của công ty cho phù hợp với
thực tế. Việc phân biệt cụ thể các trường
hợp tranh chấp này đã được hướng dẫn cụ
thể trong điểm 3.5 mục 3 Phần I của Nghị
quyết số 01/2005/NQ - HĐTP nêu trên.
3.4. Những yêu cầu về kinh doanh thương mại
Những yêu cầu kinh doanh thương mại
thuộc thẩm quyền của toà án quy định tại
Điều 30 BLTTDS. Tuy nhiên, những loại
việc này đã được các văn bản pháp luật khác §Æc san vÒ bé luËt tè tông d©n sù
T¹p chÝ luËt häc
25
quy định như yêu cầu liên quan đến việc
trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết
các vụ tranh chấp, đã được quy định trong
Pháp lệnh trọng tài thương mại và Nghị
quyết số 05/2003 ngày 31/7/2003 của
HĐTPTANDTC hướng dẫn thi hành Pháp
lệnh này. Yêu cầu công nhận và cho thi hành
tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh
cơ quan bảo hiểm, giữa người sử dụng lao
động với cơ quan bảo hiểm, tranh chấp về
bồi thường thiệt hại giữa người lao động với
doanh nghiệp xuất khẩu lao động.
Khác với Pháp lệnh, BLTTDS quy định
những loại tranh chấp lao động cá nhân bắt
buộc phải qua hoà giải cơ sở trước khi khởi
kiện đến toà án, nếu các đương sự đã yêu
cầu hội đồng hoà giải lao động cơ sở hay hoà
giải viên lao động cấp huyện hoà giải nhưng
nếu hội đồng hoà giải lao động cơ sở hay
hoà giải viên lao động không tiến hành hoà
giải trong thời hạn do pháp luật quy định thì
họ cũng có quyền khởi kiện ra toà. Theo
Điều 164 BLLĐ thì “thời hạn do pháp luật
quy định” là 7 ngày kể từ ngày hội đồng hoà
giải cơ sở hay hoà giải viên lao động nhận
được đơn yêu cầu hoà giải.
Theo Điều 31 BLTTDS thì “tranh chấp
về bồi thường thiệt hại giữa người lao động
và doanh nghiệp xuất khẩu lao động” là
tranh chấp lao động nhưng thực tế giữa
người lao động và doanh nghiệp xuất khẩu
lao động còn có nhiều tranh chấp khác như
tranh chấp về thanh lý hợp đồng; tranh chấp
tiền bảo hiểm xã hội… Những tranh chấp
này là tranh chấp lao động hay tranh chấp
dân sự. Theo chúng tôi, hợp đồng đưa người
lao động đi làm việc ở nước ngoài không
phải là hợp đồng lao động vì doanh nghiệp
lao động phải cộng tác chặt chẽ và tạo điều
kiện thuận lợi để công đoàn hoạt động theo
các quy định của BLLĐ và Luật công đoàn”.
Như vậy, trong những trường hợp người sử
dụng lao động gây khó khăn, cản trở việc
thành lập công đoàn, hoạt động của công
đoàn thì tập thể người lao động thông qua
đại diện của họ là ban chấp hành công đoàn
lâm thời yêu cầu người sử dụng lao động
phải chấm dứt những hành vi cản trở, gây
khó khăn cho việc thành lập, gia nhập, hoạt
động công đoàn của người lao động.
Đối với những yêu cầu về lao động, đây
là loại việc mới trước đây Pháp lệnh thủ tục
giải quyết các tranh chấp lao động chưa quy
định. Hiện nay, những yêu cầu về lao động
được quy định tại Điều 32 BLTTDS.
5. Thẩm quyền của toà án các cấp
Điều 33, 34 BLTTDS quy định thẩm
quyền của toà án các cấp khác với các văn
bản pháp luật tố tụng trước đó. BLTTDS
không lấy các tiêu chí đương sự là người
nước ngoài hoặc là người Việt Nam ở nước
ngoài hay “có nhân tố nước ngoài”, “có yếu
tố nước ngoài” hay “giá trị tranh chấp” mà
lấy tiêu chí các tranh chấp, yêu cầu “có
đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần
phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của
Việt Nam ở nước ngoài, cho toà án nước