Vấn đề bảo hiểm thất nghiệp ở viêt nam hiện nay - Pdf 12

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
KHOA BẢO HIỂM
ĐỀ TÀI:

BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT NAM
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
PHỤ LỤC
BẢNG KÝ HIỆU CHỮ VIẾT TẮT
BHXH Bảo hiểm xã hội
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
BHYT Bảo hiểm y tế
2
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
LỜI MỞ ĐẦU
Thất nghiệp là hiện tượng kinh tế - xã hội luôn tồn tại trong nền kinh tế thị trường
ở hầu hết các quốc gia, bất kể chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế - xã hội khác
nhau. Tình trạng thất nghiệp của người lao động không chỉ ảnh hưởng đến đời sống cá
nhân người lao động mà còn cản trở sự tăng trưởng của cả nền kinh tế, gây nên rối loạn
chính trị và sự bất ổn định trong toàn xã hội. Vì thế, phần lớn các quốc gia đều chú trọng
xây dựng hệ thống công cụ, chính sách hỗ trợ người lao động khi bị thất nghiệp để giúp
cân bằng kinh tế xã hội. Trong đó, Bảo hiểm thất nghiệp được xem là công cụ hiệu quả
nhất.
Bảo hiểm thất nghiệp đã được áp dụng từ rất sớm ở các nước Châu Âu và một số
nước phát triển ngoài Châu Âu, đem lại nhiều ý nghĩa to lớn cũng như tác dụng tích cực
về mặt kinh tế xã hội. Tuy nhiên, tại Việt Nam thì loại hình bảo hiểm này được coi là khá

cấp cho người thất nghiệp và đảm bảo an toàn cho quỹ. Để khắc phục tình trạng trên và
muốn duy trì, phát triển quỹ BHTN để bảo vệ người lao động thì đòi hỏi khách quan là
phải mở rộng BHTN ở phạm vi quốc gia.
Chính phủ một số quốc gia bắt tay vào tổ chức, hình thành quỹ BHTN
Vào năm 1883, quỹ BHTN do chính quyền tổ chức đầu tiên đã xuất hiện ở Berne
(Thụy Sỹ) nhằm bảo vệ cho tất cả công nhân, không phân biệt là thành viên công đoàn
hay không. Trong khi Thụy sỹ cho ra đời quỹ BHTN thì ở Bỉ và Pháp Chính quyền chủ
trương viện trợ cho các quỹ công đoàn và giới chủ để trợ cấp cho những người lao động
mất việc làm.
Luật hóa việc tổ chức BHTN ở một số nước Châu Âu.
4
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
Vào những năm đầu của thế kỷ XX, có 11 nước đã ban hành luật pháp quốc gia về
BHTN.
Sớm nhất phải kể đến Nauy và Đan Mạch - ban hành Đạo luật quốc gia về BHTN
tự nguyện có sự hỗ trợ về tài chính của Nhà nước lần lượt vào các năm 1900 và 1910.
Năm 1911 , Vương quốc Anh ban hành đạo luật đầu tiên về BHTN bắt buộc, tiếp
sau đó là Italia – năm 1919 - cũng thực hiện theo hình thức này.
Ngoài ra, các nước Hà Lan, Tây Ban Nha, Bỉ, Áo, Cộng hòa liên bang Đức, Nam
Tư cũng tiếp nối với chủ trương bắt đầu bằng viện trợ của Nhà nước cho các quỹ BHTN
tự nguyện.
Nhân rộng việc thực hiện BHTN trên toàn thế giới.
Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, làn sóng thất nghiệp đã thúc đẩy sự ra đời
BHTN của một số quốc gia. Trong những năm 30, do hậu quả từ cuộc khủng hoảng kinh
tế thế giới (1929-1933), nạn thất nghiệp đã tới mức trầm trọng khiến cho các quốc gia
phải quan tâm đến người thất nghiệp một cách có tổ chức và hệ thống hơn. Từ năm 1934,
có thêm một số nước Châu Âu và Bắc Mỹ ban hành các Đạo luật về BHXH và BHTN,

thống kê, đến 2009 đã có 78 nước thực hiện BHTN.
2. Kinh nghiệm triển khai bảo hiểm thất nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới.
2.1. Bảo hiểm thất nghiệp tại các nước phát triển
Trên thế giới có lẽ từ “ Thất nghiệp” đã không còn xa lạ với bất cứ quốc gia nào, dù
là quốc gia phát triển, đang phát triển hay kém phát triển. Để đảm bảo chi tiêu trước cảnh
thất nghiệp là một thách thức đối với người lao động. Thất nghiệp không chỉ ảnh hưởng
đến đời sống của riêng người lao động mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô. Do đó,
BHTN đã ra đời. Lần đầu tiên xuất hiện vào thế kỉ XIX tại Đức , Italia, Thụy Sĩ và lan
rộng ra Pháp ,Anh, Hà Lan,Mỹ …cho tới nay BHTN đã trở thành một phần không thể
thiếu trong hệ thống An sinh xã hội của nhiều nước trong đó có Việt Nam.
Hiện nay, tại các nước phát triển BHTN được thực hiện rộng rãi với những bộ luật
quy định khá toàn vẹn và chặt chẽ. Mỗi nước đều có quy định riêng và thực hiện đựa trên
những nguyên tắc của mình. Hệ thống bảo hiểm được thực hiện rộng khắp cả nước ,quản
6
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
lý linh hoạt và nhiều loại hình bảo hiểm đáp ứng nhu cầu của con người. Dưới đây là một
số mô hình BHTN tại các nước phát triển.
2.1.1.Bảo hiểm thất nghiệp tại Đức:
• Ra đời:
BHTN được bắt đầu thực hiện tại Đức vào năm 1919 và chính thức hóa bằng một
bộ luật vào năm 1927, là một cấu thành trong hệ thống BHXH của Đức bao gồm bảo
hiểm hưu trí, BHYT, BHTN, bảo hiểm tai nạn và bảo hiểm chăm sóc. BHTN là một
chương trình BHXH bắt buộc dựa trên sự đóng góp tài chính của người lao động và chủ
sử dụng lao động. Năm 2003, tỷ lệ đóng góp BHTN là 6,5% lương trong đó người lao
động đóng 50%, chử sử dụng lao động đóng 50%
ST
T

và quỹ hưu trí bắt buộc trong thời gian
TN
4 Thời gian hưởng Chế độ - Không có thời gian chờ áp dụng trước khi
nhận phúc lợi cho người thất nghiệp.
- TG hưởng phụ thuộc vào thời gian làm
việc có đóng bảo hiểm trước đó và tuổi
người LĐ.
8
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
5 Giai đoạn không đủ tiêu
chuẩn hưởng và mất
quyền hưởng
- Bị tước quyền hưởng chế độ trong vòng
12 tuần nếu bị chấm dứt hợp đồng do lỗi
vi phạm hợp đồng hoặc sai phạm trong
công viêc.
- Thời hạn đình chỉ quyền hưởng chế độ
tương tự cũng được áp dụng nếu người
thất nghiệp từ chối nhận công việc được
đề nghị bởi cơ quan việc làm hoặc từ chối
tham gia các chương trình đào tạo.
- Nếu người thất nghiệp đã từng bị tước
quyền hưởng chế độ trong 12 tuần và đã
nhận thông báo bằng văn bản về vấn đề
này thì quyền hưởng chế độ sẽ vĩnh viễn
bị tước nếu đối tượng vi phạm một vấn
đề tương tự.

có cơ hội trở lại thị trường lao động, tìm việc làm mới; trợ cấp thất nghiệp.
- Thay thế một phần thu nhập cho người lao động bị mất việc làm mà không phải lỗi của
họ
10
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
Có thể nhận thấy được vai trò và mức độ hiệu quả của BHTN đối với nền kinh tế
Mỹ đặc biệt là trong những giai đoạn khủng hoảng , tuy nhiên BHTN đã thật sự công
bằng chưa ? Bởi mỗi bang đều có những nguồn luật điều chỉnh bang, khiến cho nhiều
người dân không hài lòng .Họ mong muốn có một mức trợ cấp thống nhất trên cả nước.
Thêm vào đó, phần lớn nguồn trợ cấp thất nghiệp là từ thuế .Đối với nước đang phát triển
như Việt Nam nếu trông chờ vào thuế để trợ cấp thì có thể sẽ dẫn tới hậu quả xấu, không
mong muốn.
Chúng ta có thể tham khảo mô hình BHTN mới ở ChiLe .Một quốc gia đang phát
triển ở Nam Mỹ có nhiều sự tương đồng đối với VN hơn
2.2. Bảo hiểm thất nghiệp tại quốc gia đang phát triển
Bảo hiểm thất nghiệp ở ChiLe:
11
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
Chile đã xây dựng hệ thống BHTN từ năm 1937, là nước đầu tiên ở Tây bán cầu
cải cách hệ thống Bảo đảm xã hội và là nước đầu tiên trên thế giới thực hiện cải cách theo
tài khoản đầu tư cá nhân. Đó cũng là một con đường mới của một nước đầu tiên sử dụng
tài khoản riêng trong hệ thống BHTN.
Hệ thống BHTN chuyển đổi hiện nay của Chile bắt đầu từ tháng 10/2002, được
xây dựng trên cơ sở sự sở hữu tài khoản cá nhân cho tình trạng ngừng việc và làm cơ sở

Bên cạnh đó, Chính phủ cũng lập ra một nguồn quỹ dự trữ cho những người lao
động nào, mà tài khoản tiết kiệm cá nhân của họ không đủ để chi trả khi thất nghiệp. Hệ
thống BHTN mới ở Chile, thực chất là kế hoạch tiết kiệm bắt buộc, mà ở đó người lao
động nhận được lợi thế riêng do phương pháp tài chính. Người lao động sẽ có lợi nếu họ
không khi nào bị thất nghiệp. Đo tài chính của BHTN theo phương thức tiết kiệm cá nhân
nên đã tạo động lực thúc đẩy cho người lao động có gắng sớm tìm được việc làm mới.
Hệ thống BHTN mới dựa vào hệ thống tài chính lập quỹ có hiệu quả hơn hẳn so
với hệ thống tài chính “ tọa chi - tọa thu” trước đây. Điều đó thể hiện rõ trong các nội
dung quản lý tài chính của chương trình BHTN mới: việc thu và chi từ các tài khoản cá
nhân; cập nhật các thông tin thường xuyên, nếu người lao động chuyển đổi chủ sử dụng
lao động; tình trạng tài khoản cá nhân theo mức độ đầu tư và sự theo dõi dòng tiền vào -
ra của quỹ chung.
Bởi tất cả những lợi ích mà chính sách mới trên ,có thể nói đây là mô hình đáng để
cho chúng ta xem xét và học tập.
II. LÝ LUẬN CHUNG VỀ BHTN
1. Khái niệm và đặc điểm của BHTN
1.1. Khái niệm.
BHTN là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động
trong trường hợp bị mất việc làm và đang có nhu cầu tìm việc, đồng thời bao gồm một số
biện pháp giúp họ trở lại với thị trường lao động.
BHTN cũng là một loại hình bảo hiểm con người, song nó có một số đặc điểm
khác như: không có hợp đồng trước, người tham gia và người thụ hưởng quyền lợi là
13
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
một, không có việc chuyển rủi ro của những người thất nghiệp sang những người khác có
khả năng thất nghiệp. BHTN không có dự báo chính xác về số lượng, phạm vi và có thể
bị thiệt hại về kinh tế rất lớn, đặc biệt là trong những thời kì nền kinh tế bị khủng hoảng.

NAM]
cấp chủ yếu là nhằm bù đắp cho người lao động khi gặp phải các trường hợp bị
ngừng hoặc mất thu nhập.
Mối quan hệ của BHTN với BHXH.
Hiện nay còn có ý kiến cho rằng BHTN là một nhánh của BHXH nên nó phải nằm
trong BHXH. Thực ra thì BHTN, BHXH, BHYT và một số loại bảo hiểm khác đều nằm
trong hệ thống An sinh xã hội. Xét về bản chất, BHXH cũng như bảo hiểm xã hội, cùng
xuất phát từ quan hệ lao động nhưng BHTN có đối tượng, mục đích, cách thức giải quyết
riêng, cụ thể là:
- Về đối tượng: là người thất nghiệp chưa tìm được việc làm, luôn luôn sẵn sàng
trở lại làm việc, còn BHXH là người đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu.
- Mục đích: bên cạnh việc trả khoản tiền thất nghiệp cho người thất nghiệp,
BHTN còn có mục đích thứ hai quan trọng không kém là tìm mọi cách đưa
người thất nghiệp trở lại thị trường lao động.
- Cách giải quyết: BHTN không phải chỉ có nghiệp vụ thu chi BHTN mà cơ
quan BHTN và các đơn vị liên quan phải tìm mọi cách để đưa người thất
nghiệp trở lại làm việc (thông qua môi giới, tổ chức đào tạo nghề hoặc tổ chức
việc làm cho người thất nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp nhận người thất
nghiệp vào làm việc )
Như vậy, BHTN khác hẳn với bảo hiểm xã hội, tuy cùng xuất phát từ quan hệ
lao động nhưng các hoạt động chủ yếu phụ thuộc và gắn liền với tình trạng
việc làm. Cho nên ở đa số các nước, BHTN được thực hiện theo một hệ thống
riêng, chỉ có rất ít nước coi BHTN như một nhánh của BHXH.
2. Nội dung cơ bản của BHTN.
II.1. Các đối tượng của BHTN.
• Đối tượng bảo hiểm:
Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất do người lao động rơi
vào tình trạng thất nghiệp.
15
Phạm Thị Thanh Kiều –

II.2. Trợ cấp BHTN.
Trợ cấp BHTN là mức trợ cấp thay tiền lương, tiền công cho người mất việc
làm đẻ họ ổn định cuộc sống và có diều kiện tham gia vào thị trường lao động.
16
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
II.2.1. Điều kiện hưởng:
- Người tham gia BHTN phải nộp phí bảo hiểm trong một thời gian nhất định:
Để được hưởng trợ cấp BHTN, thông thường, người lao động phải có một quá
trình làm việc nhất định vào tham gia đóng bảo hiểm trong một thời gian tối
thiểu. việc quy định thời gian tối thiểu là bao nhiều tùy thuộc vào mỗi quốc
gia.
VD: Pháp quy định là 3 tháng trong 12 tháng cuối trước khi thất nghiệp; Nhật Bản
quy định có 6 tháng tham gia vào hệ thống bảo hiểm trong 12 tháng cuối cùng (hoặc
1 năm đóng bảo hiểm trong 2 năm cuối cho các đối tượng lao động bán thời gian);
Hungari quy định người lao động đã có ít nhất 48 tháng làm việc trước khi mất việc;
Trung Quốc quy định tối thiểu 1 năm tham gia bảo hiểm việc làm và không tự
nguyện thôi việc.
- Phải đăng ký thất nghiệp, đăng ký tìm việc làm tại cơ quan lao động có thẩm
quyền do Nhà nước quy định, có khả năng lao động và sẵn sàng đi làm nếu
nhận được công việc:
Để được hưởng trợ cấp BHTN, người lao động phải đăng ký với cơ quan
dịch vụ việc làm hoặc cơ quan quản lý lao động.
VD: ở Nhật, người thất nghiệp nhất thiết phải đăng ký tại “Cơ quan bảo đảm việc làm
quốc gia”, việc đăng ký phải được thực hiện thường xuyên 4 tuần một lần. Ở Anh,
người thất nghiệp phải đăng ký với “Văn phòng lao động”.
Việc đăng ký này giúp cho cơ quan lao động theo dõi, quản lý, kiểm soát
được số người thất nghiệp cũng như đảm bảo chi trả trợ cấp đúng đối

tháng sau tỷ lệ thấp hơn.
- Xác định theo lũy tiến điều hòa, những người thuộc nhóm lương thấp thì được
hưởng tỷ lệ cao và những người ở nhóm lương cao được hưởng tỷ lệ thấp.
II.2.3. Thời gian hưởng:
Thời gian hưởng trợ cấp BHTN tối đa phụ thuộc chủ yếu vào yếu tố tài chính, vào
quỹ bảo hiểm và thời gian tham gia BHTN, ngoài ra còn phụ thuộc nhiều vào các điều
kiện kinh tế xã hội khác.
Công ước 102 của ILO quy định: “Việc chi trả trợ cấp thất nghiệp có thể giới hạn
ở 13 tuần cho khoảng thời gian 12 tháng, nếu người được hưởng là người làm công ăn
lương; 26 tuần cho khoảng thời gian 12 tháng nếu người được hưởng là người thường trú
mà các phương tiện sinh sống trong khi trường hợp thất nghiệp xảy ra không vượt quá
giới hạn quy định.”
18
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
Theo công ước 168 của ILO thì có thể “giới hạn tới 26 tuần cho mỗi kỳ thất
nghiệp, hoặc tới 39 tuần trong mỗi kỳ 24 tháng”.
Tuy nhiên, ở các nước khác nhau quy định thời gian hưởng trợ cấp BHTN cũng có
sự khác nhau.
VD: quy định ở Cộng hòa Liên bang Đức là 13 tuần, Anh 24 tuần, Italia 25 tuần, Canada
36 tuần, Áo 20 tuần, Trung Quốc tối đa 24 tháng.
II.3. Quỹ BHTN.
Đa số các nước đang phát triển lập quỹ BHTN gồm 3 bên: Người sử dụng lao
động, người lao động và Nhà nước (đóng vai trò bù thiếu). Tùy theo điều kiện kinh tế -
xã hội của từng nước mà mỗi quốc gia có quy định về mức độ đóng góp và cách thức
đóng góp vào quỹ bảo hiểm khác nhau. Hầu hết các quốc gia quy định mức đóng góp
BHTN trong Luật Tài chính để đảm bảo an toàn và chắc chắn cho quỹ hoạt động.
Cần phải lưu ý là sự tham gia của Nhà nước vào quỹ BHTN là khôn thể thiếu, vì

người tham gia đóng góp bắt buộc vào quỹ BHTN. Từ đó hình thành nguyên tắc BHTN
là “lấy số đông bù số ít”. Nguyên tắc này thể hiện việc phân phối lại thu nhập giữa những
người lao động có thu nhập khác nhau, giữa những người có có thu nhập cao và thu nhập
thấp, giữa chủ lao động và người lao động, và giữa những người đóng góp đều đặn và
không đều đặn vào quỹ BHTN. Từ đó cũng cho thấy rằng, khả năng, vai trò của BHTN
không những phân phối lại thu nhập mà còn góp phần thực hiện công bằng xã hội.
3.3. Động viên người lao động hăng hái làm việc
Khi người lao động đang làm việc sẽ có thu nhập, còn khi mất việc làm do các
nguyên nhân khách quan họ được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Như vậy, BHTN đã trở
thành lá chắn an toàn để đảm bảo cuộc sống cho người lao động, làm chỗ dựa vững chắc
cho họ khi tạm thời không có việc làm. Lá chắn an toàn này sẽ làm cho người lao động
gắn bó với công việc, với địa điểm làm việc và yên tâm, tích cực làm việc để tăng thêm
nguồn thu nhập và cũng từ đó có điều kiện tăng mức đóng BHTN để lúc nào đó có thể sẽ
được BHTN. Đó là quan hệ hai chiều mang tính chất tích cực của BHTN đối với người
lao động.
3.4. Hình thành quỹ để phát triển sản xuất kinh doanh
Do việc huy động BHTN bắt buộc đối với người lao động, cũng như người sử
dụng lao động và được nhận phần hỗ trợ của ngân sách Nhà nước, nên đã tồn tích thành
quỹ tiền tệ tập trung trong thời điểm nhàn rỗi cso thể đầu tư một phần vào các hoạt động
20
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
kinh tế để sinh lời, tăng thêm nguồn thu cho quỹ BHTN. Khoản đầu tư này vừa góp phần
phát triển sản xuất – kinh doanh, vừa đảm bảo an toàn cho quỹ BHTN khỏi bị mất giá để
chi trả trợ cấp BHTN cho người lao động.
3.5. Tạo điều kiện gắn bó giữa lợi ích của Nhà nước và người lao động
Đứng trên quan điểm xã hội mà nói thì BHTN là một biện phấp dàn trải rủi ro,
thiệt hại theo cả thời gian và không gian; chia sẻ rủi ro, thiệt hại cho một bộ phấn lớn

Là người sử dụng lao động có sử dụng từ mười 10 người lao động trở lên tại các
cơ quan, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp : đơn vị Nhà nước; doanh nghiệp thành lập theo
luật Doanh nghiệp, luật Đầu tư; các hợp tác xã thành lập theo luật Hợp tác xã; các hộ
kinh doanh cá thể; các doanh nghiệp nước ngoài hoạt động trển lãnh thổ Việt nam có sử
dụng lao động là người Việt nam.
1.3. Điều kiện hưởng BHTN ( Điều 15, Chương 3 )
Người lao động thất nghiệp được hưởng BHTN khi đã đóng tiền BHTN đủ mười
hai tháng trở lên trong vòng hai mươi bốn tháng trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt
hợp đồng lao động / làm việc theo quy định của pháp luật ; đã đăng ký với cơ quan lao
động khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động / làm việc và chưa tìm được
việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký với cơ quan lao động
1.4. Mức trợ cấp thất nghiệp và thời gian hưởng trợ cấp ( Điều 16, Chương 3 )
Mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương, tiền
công tháng đóng BHTN của sáu tháng liền kề trước khi bị mất việc làm hoặc chấm dứt
hợp đồng lao động / làm việc.Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng phụ thuộc
vào thời gian làm việc có đóng BHTN của người lao động và tổng thời gian được hưởng
trợ cấp thất nghiệp hằng tháng được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của
Luật Bảo hiểm xã hội : 03 tháng, nếu có từ đủ 12 đến dưới 36 tháng đóng BHTN; 06
tháng, nếu có từ đủ 36 đến dưới 72 tháng đóng BHTN; 09 tháng, nếu có từ đủ 72 đến
dưới 144 tháng đóng BHTN; 12 tháng, nếu có từ đủ một 144 tháng đóng BHTN trở lên.
1.5. Vấn đề hỗ trợ học nghề ( Điều 17, Chương 3 )
Việc tổ chức thực hiện hỗ trợ học nghề cho người lao động đang hưởng trợ cấp
thất nghiệp do cơ quan lao động thực hiện thông qua các cơ sở dạy nghề. Mức hỗ trợ học
22
Phạm Thị Thanh Kiều –
CQ527216
[BÀN VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP Ở VIỆT
NAM]
nghề bằng mức chi phí học nghề ngắn hạn theo quy định của pháp luật về dạy nghề. Thời
gian được hỗ trợ học nghề không quá 6 tháng tính từ ngày người lao động được hưởng

NAM]
sau thời gian tạm giam, người lao động vẫn trong khoảng thời gian hưởng trợ cấp thất
nghiệp.
1.9. Chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp ( Điều 23, Chương 3 )
Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp
trong các trường hợp sau: hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp; có việc làm; thực hiện
nghĩa vụ quân sự; hưởng lương hưu; sau hai lần từ chối nhận việc làm do tổ chức bảo
hiểm xã hội giới thiệu mà không có lý do chính đáng; không thông báo về tình hình việc
làm với tổ chức BHXH trong ba tháng liên tục; ra nước ngoài để định cư; chấp hành
quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ
sở chữa bệnh hoặc chấp hành hình phạt tù nhưng không được hưởng án treo; bị chết.
1.10. Nguồn hình thành Quỹ bảo hiểm thất nghiệp ( Điều 25, Chương 4 )
Người lao động đóng bằng 1% tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN, người sử
dụng lao động đóng bằng 1% quỹ tiền lương, tiền công tháng đóng BHTN của những
người lao động tham gia BHTN, Nhà nước hỗ trợ từ ngân sách bằng 1% quỹ tiền lương,
tiền công tháng đóng BHTN của những người lao động tham gia BHTN và mỗi năm
chuyển một lần.
Ngoài ra quỹ BHTN còn từ tiền sinh lời của hoạt động đầu tư quỹ và các nguồn
thu hợp pháp khác.
1.11. Việc đăng ký và thông báo về tìm việc làm với cơ quan lao động ( Điều 34, Chương 5
)
Theo nghị định cũ, Nghị định số 127/2008/NĐ- CP, trong thời hạn 7 ngày làm
việc, kể từ ngày bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm
việc, người lao động phải đến cơ quan lao động để đăng ký. Trong thời gian đang hưởng
trợ cấp thất nghiệp, hằng tháng, người thất nghiệp phải đến thông báo với cơ quan lao
động về việc tìm kiếm việc làm.
Nghị định số 100/2012/NĐ-CP kéo dài thời gian đăng ký đến 3 tháng kể từ ngày
bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc nếu người lao
động chưa có việc làm mà có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp.
24

hồ sơ hưởng trợ cấp BHTN hiện cũng không xác định được rõ nguyên nhân nghỉ việc,
cho nên vẫn xảy ra tình trạng trường hợp tự ý nghỉ việc, nhảy việc sang đơn vị khác
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status