Giải pháp thúc đẩy CPH doanh nghiệp nhà nước - Pdf 12

Lời nói đầu
Cổ phần hoá(CPH) một bộ phận doanh nghiệp nhà nớc(DNNN) là chủ trơng
lớn của đảng và nhà nớc nhằm huy động vốn nhàn rổi trong xã hội để tiếp sức thêm
nguồn lực cho doanh nghiệp (DN) góp phần cơ cấu lại DN trong nền kinh tế quốc
dân. Với yêu cầu đó, hệ thống DN đợc sắp xếp lại theo nghị định 388/HĐBT và
nghị định 500/TTG của thủ tớng chính phủ. Số lợng DNNN giảm từ trên 12.000 DN
(1991) xuống còn trên 6.000 DN (1997). Có khoảng trên 70 công ty nhà nớc nguồn
vốn tại doanh trên 70.000 tỷ đồng. Hàng năm số vốn này tiếp tục tăng trởng và đợc
đầu t mở rộng sản xuất.
Cổ phần hoá là một giải pháp kinh tế lớn đuợc lựa chon nhằm thực hiện chiến
lợc chung là phát triển kinh tế thị trờng có định hớng xã hội chủ nghĩa.
Tuy nhiên cho đến nay CPH diễn ra cha thực sự nhanh chóng và đồng bộ, bởi
còn gặp nhiều khó khăn. Để giải thích tình trạng này một số nguyên nhân đã đợc
chỉ ra nh : Mục tiêu CHP cha đợc rỏ ràng, ca đợc sự hởng ứng nhiệt tình của cán bộ,
công nhân viên chức các công ty thuộc diện CPH. Thị trờng chứng khoán đợc hình
thành cha lâu nên còn khá mới lạ với ngời Việt nam. Chiếm đội ngủ cán bộ kinh
doanh giỏi, hệ thống pháp luật cha đáp ứng kịp sự phát triển nhanh chóng của nền
kinh tế nớc nhà, còn có nhiều kẻ hở trong pháp luật.
Đến năm 1992 bằng quyết định 202/CT ngày 8/6/1992 của thủ tớng chính phủ
cho thí điểm một bộ phận DNNN thành công ty cổ phần. Lúc đó công tác CPH mới
thực sự đi vào cuộc sống và nó trở thành một giải pháp hữu hiệu để cơ câú lại khu
vực DNNN và nâng cao hiệu quả hoạt động của DN cổ phần. Tuy nhiên từ khi bắt
đầu khởi xớng cho đến khi thí điểm đã gần 10 năm nay nhng chỉ mới chuyển đợc
không nhiều DNNN thành công ty cổ phần theo nghị định 28/CP. Trog đó Bộ Giao
Thông Vận Tải có một công ty đó là công ty cổ phần đại lý liên hiệp vận tải
(GEMADEP).
Sau 4 năm làm thí điểm bằng nghị định 28/CP ngày 7/5/1996 và quyết định
548/TTG ngày 13/8/1996 của thủ tớng chính phủ đã chính thức hoá từ thời kì làm
thử sang thời kì làm thật. Việc chuyển một DNNN sang công ty cổ phần mà ta gọi
quen là cổ phần hoá. Tại đại hội đảng VIII, chủ trơng kinh tế lớn này lại đợc khẳng
định một lần nữa với yêu cầu tổng kết kinh nghiệm, hoàn chỉnh khuôn khổ pháp lý

DNNN. Vậy khái niệm t nhân hoá rộng hơn, khó khăn hơn quá trình cổ phần hoá.
Quá trình CPH phải nhằm giải quyết đợc 4 vấn đề :
Về sở hữu: nhằm đa dạng hoá quyền sở hữu và cụ thể hoá chủ sở hữu.
Về hoạt động : nhằm thơng mại hoá mọi hoạt động của DN.
Về quản lý: luật pháp hoá tổ chức quản lý( theo luật công ty đã ban hành và các
luật khác)
Về hiệu quả: nhằm nâng coa hiệu quả sản xuất kinh doanh của DN. Ba vấn đề
đầu sẻ là tiên đề cho vấn đề thứ t.
Hình thức CPH có thể khác nhau tuỳ theo điều kiện:
Có thể bán DNNN cho các cổ đông là t nhân, cá thể trong trờng hợp nhà nớc
không cần giữ DN đó trớc hình thức quốc doanh.
Có thể bán DNNN cho các cổ đông có từ hai đến bốn thành phần: quốc doanh
và tập thể , quốc doanh và t nhân, tập thể và t nhân
Trong thực tế có thể bán DNNN cho các DN và các DNNN khác. trờng hợp
này vẩn có lợi hơn là giử DNNN nh củ vì nó không thể đạt yêu cầu thứ nhất là CPH
DNNN nhng đạt ba yêu cầu tiếp theo.
Trong quá trình thực hiện QĐ 202/CT của chủ tịch hội đồng bộ trởng về CPH,
nhà nớc cần phải kết hợp hai biện pháp kinh tế và hành chính.
3
Nội dung chính của biện pháp hành chính là nhà nớc ra lệnh bắt buộc DN
phải thực hiện CPH, nế thấy đủ điều kiện mà lảnh đạo DN không chịu làm. chúng
ta không có con dờng nào khác tiến lên ngoài con đơng CPH phần lớn các DNNN.
Nhng đây là con đờng chông gai là cục cách mạng thực sự. Cuộc cách mạng này có
khi còn ác liệt hơn cách mạng có hai chiến tuyến: địch ta rỏ rệt vì về hình thức
quân ta đánh quân mình . Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng, mặc dù ta có nhiều
điều kiện thuận lợi, củng không nên đơn giản hoá và nóng vội trong việc CPH các
DNNN.
Quá trình cổ phần hoá.
Nội dung thí điểm CPH một số DNNN ở Việt nam. Nh mọi ngời đều biết, từ
1986 Việt Nam chủ trơng đẩy mạnh công cuộc đổi mới về mọi mặt. Đến tháng

Trờng hợp các cổ đông là các DN tổ chức kinh tế quốc doanh thì chỉ chuyển
uyền sử dụng của tài sản nhà nớc mà thôi.
Mục tiêu thứ hai là: phải huy động đợc một lợng vốn nhất định ở trong và
ngoài nớc để phát triển sản xuất kinh doanh. Các DNNN thiếu vốn nghiêm trọng
nhng lấy ở đâu ? nhà nớc khoong thể và không nên tiếp tục cung cấp vốn cho một
khu vực làm ăn kém hiệu quả. Vậy để có vốn DNchỉ có thể huy động dợc qua hình
thức cổ phần hoá. Việc bán cổ phần cho ngời nớc ngoài là cần thiết và có thể làm đ-
ợc vì:
Ta đang thiếu vốn mà họ đang thừa vốn, đang cần thị trờng đầu t.
Ta thiếu kỉ thuật mà họ đã phát triển.
Ta thiêú kiến thức và kinh nghiệm quản lýkinh tế thị trờng trong khi họ dày
dặn và sẳn sàng truyền đạt cho ta.
Song bán cổ phần cho ngời nớc ngoài trong khi làm thí điểm là không nên vì:
Một là, thí điểm thì có thể thanh công hoặc thất bại vì thế không thể để ngời n-
ớc ngoài chịu rủi ro đó.
Hai là, các luật lệ để chi phối ngời nớc ngoài trong lỉnh vực này còn cha đủ,
chúng ta đã có luật công ty và luật đầu t của nớc ngoài ở Việt Nam nhng vẩn cha
đủ.
Mục tiêu thứ ba của CPH các DNNN là tạo điều kiện để ngòi lao động thực sự
làm chủ DN. Chúng ta đã loay hoay mãi mà cha đa lại cho ngời lao động một sự
làm chủ thực sự. Ngoài ra ngời lao động đã giác ngộ ra rằng, nếu không làm chủ đ-
ợc về kinh tế thì mọi sự làm chủ khác đều vô nghĩa, hình thức.
5
Đối tợng làm thí điểm CPH các DNNN có đủ ba điều kiện :
Thứ nhất là, chỉ những DN có quy mô vừa ( không quá lớn củng không qua
nhỏ).
Thứ hai, phải là các DN không thuộc diện nhà nớc cần đầu t 100% vốn (nh
anh ninh quốc phòng hoặc một số ngành then chốt) và phải đợc chính phủ xác định
là một DN cụ thể.
Thứ ba, phải là các DN đang làm ăn có lãi hoăc tuy trớc măt gặp khó khăn nhng

các nàh đầu t trong và ngoài nớc củng nh dân chúng thực hiện một cách yên tâm
công việc CPH DNNN trên phạm vi rộng lớn.
Xác định giá trị của doanh nghiệp.
Đây là vấn đề quan trọng nhất và khó khăn nhất trong những vấn đề phải giải
quyết trong quá trình CPH bởi vì nếu xác định giá trị của DN cao hơn thực tế thì
sẻ làm cho giá cổ phiếu tăng lên, ngời mua cổ phiếu sẻ giảm đi. Nhng ngợc lại nếu
xác định giá trị DN thấp hơn thực tế thì giá cổ phiếu sẻ giảm ngời mua cổ phiếu sẻ
tăng lên nhà nớc sẻ mất vốn. Giá trị của DN khi CPH (đem bán) gồm ba bộ phận:
Một là, giá trị tài sản của DN.
Hai là, giá đất mà DN đã sử dụng vào sản xuất kinh doanh.
Ba là, giá trị các yếu tố làm tăng hiệu quả của DN nh: Giám đốc, tiếng tăm của
DN, đội ngủ kỉ s giỏi và công nhân lành nghề.
Cơ cấu cổ phần, chế độ cổ phần
Đối với DNNN hoạt động kém hiệu quả nhà nớc có thể cho cán bộ công nhân
100% giá trị cổ phần tài sản cố định thuộc nguồn vốn ngân sách mà cán bộ công
nhân đợc hởng tuỳ theo năm công tác. Đối với tài sản cố định thuộc nguồn vốn vay
và vốn lu động nhà nớc giải quyết nh DN hoạt động có hiệu quả. Việu chia cho giai
cấp công nhân một số cổ phần trên tổng số tài sản cố định của nhà nớc mà đã bao
năm họ giữ gìn thì củng không có gì là không hợp lý. Việc chia này hoàn toàn khác
với việc chia ruộng cho nông dân, họ chỉ đợc chia cổ phần còn tài sản vẩn để chung
mới sản xuất đợc.
Phân phối lợi nhuận, lợi tức cổ phần.
Các cổ đông tuỳ theo số lợng cổ phần của mình trong công ty và kết quả kinh
doanh mà đợc hởng lợi nhuận, lợi tức. Nếu cổ đông cùng góp phần vào kinh doanh
với công ty thì đợc hởng lợi nhuận bình đẳng nh nhau sau khi đã trừ đi các khoản
chi phí, quĩ thuế nếu cổ đông cho công ty vay thì đợc hởng lợi tức tuỳ thuộc vào lải
suất hiện tại của ngân hàng.
Vấn đề ngời lao động.
7
CPH các DN, có u tiên bán cổ phiếu cho các công nhân viên chức trong DN,

về cực nghèo ngày càng lớn. Hàng ngày vẩn phải bán sức lao động để kiếm sống,
một giờ không có việc là không có lơng. Đối với ngời nông dân chính nhờ nghị
quyết 10 về nông nghiệp, ngời nông dân đợc chia ruộng đất, họ làm chủ mảnh đất
8
của họ, họ hăng say lao động nên đời sống đợc cải thiện. Nên việc chia cho công
nhân ít cổ phần của công ty là rất hợp lý
1.2 CPH DNNN là sự lựa chọn tất yếu.
CPH một yêu cầu bức thiết của các DNNN.
Từ thực tiển tiến hành phảt triển nền kinh tế đất nớc theo định hớng XHCN và
nhửng kinh nghiệm thu đợc qua quá trình chỉ đạo, điều hành sản xuất kinh doanh
chúng ta đã xác định đợc rằng cải cách DNNN một cách triệt để là yêu cầu có tính
chất quyết định để tăng cờng động lực phát triển sản xuất và thúc đẩy DN hoạt
động có hiệu quả hơn.
Trong nhiều năm qua đảng và nhà nớc ta đã tập trung tiến hành công tác sắp
xếp đổi mới cá DNNN và đã đạt đợc một số kết quả nhất định nh giảm mạnh số l-
ợng DNNN, nâng cao quy mô vốn bình quân, giảm bớt đợc sự tài trợ của ngân sách,
tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các DN, bớc đầu đã phát huy
quyền chủ động kinh doanh của đơn vị kinh tế cơ sở, giảm mạnh sự can thiệp hành
chính vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên do đặc điểm và thực trạng DNNN vẩn còn phải tiến hành một cách
thận trọng, lâu dài vì phải giải quyết đồng bộ nhiều vấn đề phúc tạp trong các lỉnh
vực kinh tế và lỉnh vực đời sống xã hội mới đạt đợc kết quả mong muốn. Hiện nay
tất cả những khó khăn xuất phát từ nội bộ nền kinh tế, thì biến động của cuộc
khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực đang tiếp tục lan rộng và theo chiều sâu của
ảnh hởng theo chiều hớng xấu đến nèen kinh tế nớc ta. điều này cho thấy tính cấp
bách phải khẩn trơng nâng cao hiệu quả và sức mạnh của nền kinh tế để đảm bảo
cho sự phát triển đất nớc một cách ổn định, vững chắ không những cho năm trớc mà
còn tơng lai lâu dài. Nghị quyết hội nghị trung ơng 4 (khoá VIII) đã dành một phần
quan trọng cho mục tiêu đổi mới mạnh mẽ các DNNN, phấn đấu đa chúng trở
thành lực lợng thực sự chủ đạo, dẩn dắt các DN thuộc các thành phần kinh tế khác

sản xuất kinh doanh và đầu t phát triển của doanh nghiệp, một mặt vừa góp phần
tháo gở đợc khó khăn cho ngân sách nhà nớc. Mặt khác vốn và tài sản của DNNN
nhờ cổ phần hoá thu hồi lại sẻ đợc đầu t, mở rộng sản xuất, tăng thêm tài sản cố
định, góp phần thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Tạo đông lực mới trong quản lý DN. ở
công ty cổ phần ngời chủ mới của DN gắn chặt với sự thành bại của hoạt động sản
xuất kinh doanh, vì thế họ rất đoàn kết gắn với hoạt động sản xuất kinh doanh. Tìm
kiếm và đa ra phơng hớng hoạt động phù hợp nhằm tăng sự cạnh tranh của sản
phẩm họ sản xuất ra, quan tâm tới công ty, lao động với tinh thần trách nhiệm cao.
Mặt khác đây là công việc rất nhạy cảm, song ta lại cha có kinh nghiệm để khi triển
khai CPH vừa mang lại tăng trởng kinh tế vừa giữ vngr hớng XHCN vì vậy phải tiến
hành thận trọng phải dần dần qua thực tế để hoàn thiện.
10
Về nhận thức: Một số bộ và địa phơng, tổng công ty nhà nớc cha nhận thức
đầy đủ ý nghĩa chủ trơng cổ phần hoá một bộ phận DNNN, do đó thiếu tính chủ
động và ca kiên quyết trong việc tổ chức triển khai thực hiện. Công tác tuyên truyền
vận động từ trong Đảng, trong bộ máy nhà nớc từ trung ơng đến địa phơng cha đợc
đẩy mạnh.
Tồn tại trong bộ phận doanh nghiệp nhà nớc khi tiến hành cổ phần hoá: Nói
chung các DNNN đều có các khoản nợ, trong đó nhiều DNNN có nhửng khoản nợ
rất lớn hoạc là do thua lỗ trong hoạt đọng kinh doanh hoặc là do đầu t phát triển.
Do vậy khi lập phơng án CPH, việc da ra cách giải quyết phù hợp nhất để xử lý các
món nợ cho các DN thờng gặp phải vấn đề nan giải là phải làm trong sạch tình hình
tài chính, nghĩa là phải định đợc hớng thanh toán công nợ. Bên cạnh đó việc xác
định giá trị DNNN chuyển sang cổ phần hoá củng gây tranh cải kéo dài. để đẩy
mạnh việc CPH DNNN cần thực hiện một số biện pháp sau :
Khắc phục tình trạng chậm trể trong việc tiến hành cổ phần hoá, chính phủ
vừa ra quyết định số 41/TTG ngày 29/6/1998, trong đó đã xác định cụ thể hơn
phạm vi CPH. Công việc trớc hết là phải tổ chức tuyên truyền sâu rộng và giải thích
cho ngời lao động trong các DN và toàn xã hội hiểu và nhận thức đúng vầ nội dung
của nghị định để họ quan tâm và tích cực hởng ứng. Trớc hết cần làm cho cán bộ

tế đất nớc.
Cải cách và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống DNNN là vấn đề nhức
nhối đối với các nhà quản lý kinh tế ở nơcs ta. Bức tranh toàn cảnh về khu vực
DNNN hiện đang còn nhiều mảng tối, thể hiện tính kém hiệu quả của khu vực này.
sự yếu kém của khu vực DNNN phảm ánh rỏ nét qua hai chỉ tiêu sau đây:
- Số DN thua lỗ có chiều hớng tăng lên: năm 1995 có 16% DNNN làm ăn
thua lỗ, năm 1996 có 22% và năm 1997 con số này tăng lên 32%, nếu
tính đúng , tính đủ thì số DNNN thua lỗ lên tới 50%.
- Tỷ lệ lãi bỏ ra trên mỗi đồng vốn giảm sút: năm 1995, tỷ lệ này là 14%;
năm 1996 12%, năm 1997 chỉ còn 8%. Các nguyên nhân dẩn đến thua
lỗ kém hiệu quả của các DNNN kể ra rất nhiều song theo tôi có thể nêu
ra hai nguyên nhân cơ bản sau:
Thứ nhất DN thiếu vốn để hoạt động. để sản phẩm có chất lợng cao, yêu cầu
hàng đầu là DN phải đổi mới công nghệ. Hiện nay khoảng 90% thiết bị công
12
nghệ trong các doanh nghiệp đã bị lạc hậu từ 2 đến 3 thế hệ so với công nghệ thế
giới, có loại còn lạc hậu từ 4-5 thế hệ. Vốn lu động chiếm khoảng 20% tổng số
vốn nhà nớc tại DN, nhng một nữa là vật t ứ đọng, mất phẩm chất, nợ khó đòi
vốn đi vay không còn là nguồn vốm bổ sung tạm thời mà trở thành nguồn vốn có
(tỷ lệ vốn tự có trên vốn vay bằng 20/80 thậm chí 10/90). Trong điều kiện đó DN
trả lãi đã khó cha nói đến trả gốc. Tổng số nợ của DNNN tơng đơng với số vốn
hoạt động của DN. số tiền lãi vay gia tăng thì chi phí sản xuất củng gia tăng, phần
tài chính tích luỹ trở nên nhỏ bé.
Thứ hai, phơng thức quản lý DNNN vẩn còn mang nặng dấu ấn của cách làm
củ, không thích ứng với cơ chế thị trờng. Các DNNN vẩn đợc nhà nớc bảo trợ về
nhiều mặt đặc biệt là trong quan hệ tín dụng với ngân hàng (mức vay và lãi u đải
hơn đối với các doanh nghiệp khác, đợc miển thế chấp, đợc khoanh nợ và xoá nợ )
cha phải nộp tiền thuê đất, đợc xuất nhập khẩu trực tiếp, nhiều DNNN thua lỗ nhng
vẩn tồn tại dựa vào cái phao nhà nớc. Vì vậy các DNNN vẩn làm ăn theo cơ chế
củ,không đổi mới cung cách quản lý nâng cao hiệu quả hoạt động. Cung cách quản

thể là ai? Vấn đề này có ba ý kiến khác nhau:
Ông chủ của DNNN phải là bộ trởng bộ tài chính.
Ông chủ DNNN là bộ trởng chủ quản (bộ chuyên ngành kinh tế kỉ thuật)
Ông chủ của DNNN phải là Bộ trơng bộ quản lý các DNNN(ở Việt nam cha
có bộ này).
Trong ba phơng án đó tôi cho rằng phơng án một là hợp lý hơn cả. Bởi vì bộ
trởng Bộ tài chính đợc chính phủ giao trách nhiệm quản lý vốn, tài sản của DNNN.
Bộ tài chính có khả năng làm đợc việc này do đó các hệ thống quản lý và đội ngủ
cán bộ đông đảo liên quan trực tiếp tới các hoạt động của các DNNN nh: hệ thống
thuế, hệ thông kho bạc nhà nớc, hệ thống các tài vụ chúng tôi củng thấy rõ rằng:
Nếu nhà nớc uỷ quyền cho Bộ tài chính làm ông chủ của các DNNN thì bản thân bộ
tài chính củng phải có những đổi mới về cả hai mặt bộ máy và đội ngũ cán bộ mới
để có khả năng hoàn thành trách nhiệm đợc giao.
Còn việc thành lập bộ máy mới trong tình trạng này e rằng không một ai chấp
nhận vả lại bộ đó sẻ có bộ máy tơng tự bộ tài chính hay sử dụng bộ máy này của bộ
tài chính và các bộ liên quan để quản lý.
Tóm lại khi cha xác định đợc ông chủ đích thực của DNNN thì nguyên tắc tập
trung dân chủ bị vi phạm ngay: Tập trung cho ai và mở rộng dân chủ với ai? Sự lạm
dụng và lợi dụng việc mở rộng dân chủ để thao túng DN, tham nhủng, vụ lợi đã đến
lúc nghiêm trọng, không ai chịu nổi ! Kết quả là DN thì mất phơng hớng, còn ngời
lao động thì mất động lực lao động. đó là nguy cơ thực sự!
14
Nguyên nhân thứ hai, trong khi mở rộng quyền tự chủ sản xuất kinh doanh (là
đúng và còn phải mở rộng hơn nữa đối với khu vực sản xuất) thì cha xác định giới
hạn cho phép, nghĩa là cha có một khuôn khổ pháp luật đầyđủ và có hiệu lực để
dảm bảo cho các DN không đi quá đà hoặc e dè, lo sợ. Bằng chứng là, cho đến nay
(8/1992) nớc ta vẩn cha có luật ngân sách, luật DN, luật lao động, là nhửng luật tối
cần cần thiết để DNNN hoạt động đúng pháp luật.
Có thể thấy rất rõ là quyền tự chủ đối với các DNNN ở nớc ta hiện nay vừa cha
đủ vừa quá tải (nhất là các lỉnh vực yếu tố giáo dục ) Nguyên nhân chính là ch a có

DNNN cần phải phân ra ba loại và áp dụng các giải pháp cơ bản cho ba loại sau:
Loại 1: Là các DN mà trong điều kiện hiện nay cần phải giữ lại hình thức quốc
doanh bao gồm các loại DN hoạt động trong 4 lỉnh vực sau đây.
Các DN hoạt động phục vụ công tác an ninh quốc phòng:
+ sản xuất vũ khí đạn dợc.
+ Sản xuất thuốc nổ, thuốc độc.
+ Sản xuất phơng tiện phát sóng truyền tin.
Tóm lại trong nền kinh tế thị trờng , ở bất cứ nớc nào sự tồn tại của DNNN nh
một yếu tố khách quan nhng do vai trò của DNNN trong các nớc không giống nhau
(vì có chiến lợc phát triển kinh tế xã hội khác nhau), nên số lợng DNNN ở mỗi
nớc củng khác nhau, cha có cơ sở lý luận và thực tế để quy định phải để lại bao
nhiêu % DNNN.
Loại 2: là các DN không cần giữ hình thức quốc doanh đang làm ăn có lãi,
không có lãi hoặc thua lỗ nhng cha đến nớc phải sát nhập cho thuê hoặc giải thể.
Trong hơn 12.000 DNNN hiện nay thì loại này chiến đa số khoảng 60-70%.
Loại 3: là các DN thua lỗ kéo dài, không có khả năng thanh toán, đã dùng
nhiều biện pháp hỗ trợ nhng không vực dậy đợc, loại này hiện nay khoảng 20
25%. Các giải pháp cho từng loại phải phù hợp với tình trạng, đặc điểm vai trò của
mỗi loại.
Có thể sử dụng những giải pháp sau đây đối với loại một:
Thực hiện quy chế hội đồng quản trị.
Thực hiện quy chế giao vốn, bảo toàn và phát triển vốn.
Thực hiện chế độ thuế, tín dụng.
Bỏ chế độ ba giữ nh hiện nay, chỉ cần khống chế quỷ tích luỷ từ 35% trở lên,
lập quỷ dự phòng rủi ro khoảng 5% còn phần lợi nhuận còn lại sau khi DN đã làm
đầy đủ nghĩa vụ với NSNN do hội đồng quản trị quyết địnhviệc phân phối và sử
dụng.
16
Thực hiện chế độ tiền lơng theo chức danh tiêu chuẩn và các định mức thống
nhất.

các công ty siêu quốc gia.
17
Nhửng năm 20-30 của thế kỉ XX với cuộc cách mạng công nghiệp phải xây
dựng cơ sở hạ tầng: Đờng sắt,điện lực, khai thác mỏ cần nhiều vốn do đó công ty cổ
phần phát triển rất nhanh.
Ví dụ: ở nớc Anh năm 1862 có 165 công ty cổ phần, năm 1890 có 21006
công ty cổ phần, đến năm 1962 có 428.000 công ty cổ phần ; ở Mỹ năm 1904 công
ty cổ phần mới chiếm 23,6% công ty cả nớc, năm 1947 công ty cổ phần chiếm 69%
công ty cả nớc, đến năm 1962 chiếm 78% tổng công ty cả nớc.
Nh vậy ở các nớc t bản phát triển hình thức kinh tế phổ biến hiện nay là công
ty cổ phần. Nghiên cứu logic và lịch sử hình thành phát triển công ty cổ phần ở các
nớc TBCN về cơ bản đợc thực hiện theo ba con đờng sau:
Thứ nhất con đờng tryuền thống sự liên kết t bản trong nớc và hình thanh công
ty cổ phần. Trong giai đoạn đầu của phơng thứ sản xuất TBCN, các nhà t bản chủ
yếu xuất thân từ thợ cả, ngời chủ phờng hội, thơng nhân ngời cho vay nặng lãi và
ngời Fec-mi-ê TBCN. Lúc đầu họ lập ra các xí nghiệp TBCN riêng rẻ kinh doanh
độc lập, thuê mớn công nhân lao động làm thuê. Dần dần với sự phát triển của sức
sản xuất và chế độ tín dụng, họ đã liên kết với nhau dựa trên quan hệ nhân thân và
chữ tín, đó là các công ty chung vốn. Vì vậy nó tồn tại trong khoảng thời gian rất
ngắn nhất định với rất nhiều hình thức đa dạng: hợp tác xã, công ty dân sự công ty
hợp doanh, công ty dự phần sau này nó nhờng chỗ cho công ty chung vốn ở mức
cao hơn đó là công ty cổ phần, công ty cổ phần là công ty đối vốn, trách nhiệm hu
hạn tổ chức chặt chẻ, có t cách pháp nhân.
Công ty cổ phần đầu tiên ra đời trong lỉnh vực thơng nghiệp, năm1600 công ty
đông ấn của Anh đợc thành lập với sự tham gia của 1000 thơng nhân. hoạt động của
công ty theo liên kết lỏng lẻo. Ngời đầu t góp vốn theo chuyến đi biển. Sau mới
chuyển đi tiến hành quyết toán cho từng ngời tham gia nhận lại vốn cổ phiếu và tiền
lãi. đến giai đoạn công nghiệp cơ khí sự phát triển mới về kỉ thuật đặt ra nhu cầu về
vốn rất lớn mà mỗi nhà t bản không đáp ứng nỗi. điều đó đòi hỏi các nhà t bản phải
liên kết nhau lại để đáp ứng nhu cầu sản xuất. Hơn nữa đến gia đoạn này thị trờng

hạn, xí nghiệp 100% vấn nớc ngoài, cho thuê đặc khu kinh tế, hợp đồng hợp tác
kinh tế... sự xuất hiệnngày càng nhiều các văn phòng đại diện trên thế giới đã tạo
nên các tập đoàn tài chính kiểm soát nền kinh tế thế giới. Theo số liệu cha đầy đủ,
hiện nay có khoảng 2000 công ty độc quyền quốc tế với hơn 33 triệu lao động làm
thuê. Sự liên kết t bản quốc tế có rất nhiều hình thức khác nhau trong đó có công ty
cổ phần. Vì vậy, con đờng thứ hai hình thành công ty cổ phần là liên kết t bản quốc
tế.
19
Thứ ba, quá trình CPH DNNN để hình thanh công ty cổ phần. Thế kỷ XX
cùng với những thành tựu mới của khoa học kỷ thuật và xã hội hoá cao của lực lợng
sản xuất đã xuất hiện DNNN nh một công cụ để nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh
tế, chống lại những căn bệnh của CNTB. Trong các nớc t bản phát triển, tỷ lệ sở
hữu nhà nớc khác nhau. Có nớc ít nh Mỹ là 2%, Anh là 8% Nhật 11%, có nớc cao
nh Italia 39-40%, có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau, song tất cả các DNNN
đều có đặc điểm chung là kém hiệu quả.
Vì vậy đầu thập kỷ 80 đến nay, ở tất cả các nớc TBCN đều diễn ra quá trình t
nhân hoá các xí nghiệp quốc doanh trên quy mô lớn với nhiều hình thức phong phú
bằng nhiều biện pháp và bớc đi khác nhau, phổ biến nhất là bán đấu giá các cổ
phiếu của xí nghiệp cho tất cả những ai muốn mua thông qua số giao dịch chứng
khoán. ở Anh đầu những năm 1988 đã bán 40% tài sản khu vực quốc doanh trị giá
hơn 20 tỷ bảng Anh, ở pháp cha đầy năm rỡi đã bán ra 1/3 chơng trình t nhân hoá
thu 7 tỷ Frăng. Tây Đức, năm 1984 1987 bán hoàn toàn hay một phần cổ phiếu
khống chế của nhà nớc trong hơn 50 công ty với tổng giá trị hơn 5 tỷ Mác.
Ví dụ: ở Anh để giữ ảnh hởng của mình trong một hoạt động các công ty đ-
ợc t nhân hoá một phần. Nhà nớc vẩn giữ quyền bổ nhiệm các quan chức làm nhiệm
vụ theo dõi sao cho trong các điều lệ xí nghiệp không có những thay đổi căn bản.
Tóm lại chơng trình t nhân hoá ở các nớc t bản có thể phân làm ba phần sau:
- Trớc hết đối với DN có tầm quan trọng an ninh quốc phòng gắn với chế
độ chính trị, nghiên cứu khoa học... nhà nớc không t nhân hoá.
- Đối với các DN quan trọng nhà nớc chuyển sang hình thức sở hu t nhân

Chí Minh), nhà máy giấy Hiệp An, (Bộ công nghiệp). Còn công ty Legamex (sở
công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh) và xí nghiệp nhựa Bình Minh. (Bộ công
nghiệp) đang còn vớng mắc cha chuyển thành công ty cổ phần.
Quá trình CPH DNNN đang gặp rất nhiều khó khăn cả từ phía cơ quan cấp trên
nh: Nếu đồng nhất CPH với t nhân hoá, sẻ mất CNXH; Mặt khác vẩn cha có văn
bản pháp lý của quốc hội nên khó xử lý; đồng thời bên dới củng vấp phải những trở
ngại nh: Khó xác định giá trị DN, lực cản trở từ phía cán bộ công nhân viên xí
nghiệp, do cha có thị trờng đầu ra cổ phiếu. Muốn thúc đẩy quá trình CPH DNNN
cần sử dụng nhiều hình thức CPH.
DNNN bán cổ phần cho công chúng (của trên bán cho công nhân viên trong xí
nghiệp) để giảm bớt phần vốn nhà nớc trong DN trơ thành sở hữu hổn hợp có phần
vốn của công nhân.
DNNN vẩn giữ nguyên và gọi thêm vốn bằng cách phát hành cổ phiếu trong
công chúng và nớc ngoài.
DNNN lập công ty cổ phần mới và giọi vốn công chúng cả trong và ngoài nớc
trong vấn đề CPH DNNN cần lu ý ba điểm:
21
Thứ nhất, nên có hình thức khuyến khích công nhân viên mua cổ phiếu trong
công ty mình bằng cách cho không cổ phiếu, bán và cho trả dần. Việc tạo điều kiện
cho ngời làm công tham gia sở hữu nhằm nhiều mục đích, trong đó có việc ngăn
cản ngời làm công chống đối quá trình cổ phần hoá.
Thứ hai, dù dới hình thức nào thì nhà nớc vẩn phải nắm giữ một số vốn đủ sức
điều tiết, khống chế nền kinh tế củng nh chính trị và mục tiêu khác. kinh nghiệm
trên thế giới cha có một nớc nào t nhân hoá hoàn toàn mặc dù chế độ chính trị phục
vụ t bản t nhân. nớc ta, nhà nớc cần phải nắm giữ tỷ lệ khống chế định hớng nền
kinh tế nhiều thành phần theo quỷ đạo XHCN. Khuyến khích thành lập các xí
nghiệpliên doanh với nớc ngoài dới hình thức công ty cổ phần. để khuyến khích nớc
ngoài đầu t vào Việt Nam, cần giảm bớt thủ tục phiền hà tropng việc xét duyệt,
thẩm định dự án và triển khai dự án liên doanh. trình độ xã hội hoá thấp do đó việc
biến các công ty vừa và nhỏ thành các công ty cổ phần là quá trình từ từ, thận trọng

hợpvới xu thế phát triển về kinh tế của nớc ta trong tơng lai.
CPH con đờng tất yếu nhng không êm ả.
Nền kinh tế nhiều thành phần bản chất đã chứa nhiều yếu tố cạnh tranh, mà
trong cuộc cạnh tranh này DNNN luôn ở vào thế bất lợi đó là bộ máy cồng kềnh cơ
chế quản lý lắm tầng nấc xung quanh, tuy nhiên vẩn còn nhiều lợi thế, vốn nhà nớc
để lại thấp, mối quan hệ giữa con ngời con ngời còn để lại bản chất của chế độ
XHCN, không có bóc lột, không có đánh đập cúp lơng. Nh chúng ta đã thấy trong
các liên doanh với nớc ngoài bình đẳng trong lao động .
Các thành phần kinh tế đợc phát huy, tất yếu dẫn đến hình thức đa dạng hoá sở
hữu; Nếu để cho nó tự phát điều tiết thì đến một lúc nào đó các DN XHCN sẻ tự
đào thải bởi sự vơn lên của các thành phần kinh tế chiến lỉnh thị trờng nh là quy
luật tất yếu của nền sản xuất hành hoá. Cho đến nay gần 6.000 DNNN phần lớn
hoạt động trong tình trạng thiếu vốn, thiếu thị trờng cha tìm đợc lối thoát. sự nhận
biết những chuyển đổi khách quancủa các DN ngay từ năm 1992 chính phủ đã CPH
thí điểm ở 10 DN và năm 1996 chính phủ đã có nghị định 28/cp về chuyển một số
DNNN thành công ty cổ phần. đây là chiến lợc lớn để huy động vốn, chuyển dần
quyền sở hữu cho ngời lao động góp phần chống tham nhủng lảng phí, tạo nên ph-
ơng thức quản lý sáng tạo nhanh nhạy và hiệu quả trong cơ chế thị trờng. Nó không
phải là t nhân hoá nh đang tiến hành ở các nớc đông âu mà là đảm bảo quyền làm
chủ thực sự của ngời lao động dới hình thức góp cổ phần mua cổ phiếu và đợc nhà
nớc để lại một phần trong các quỷ làm vốn cổ phần. Đến nay mới có 10 DN chuyển
thành công ty cổ phần. Về hiệu quả không ai nghi ngờ, thu nhập của ngời lao động
tăng lên rõ rệt, tài sản đợc bổ sung, ai củng quan tâm đến sản xuất. ở khách sạn Sài
23
Gòn từ sau ngày công ty cổ phần ra đời đời sống của ngời lao động tăng gấp 3-4 lần
trớc đây, bình quân lơng t 1,7-3,5 triệu đồng/tháng; của Gemadep bình quân 2,4
triệu đồng/tháng, cổ phiếu giá trị thực gấp 2,3 lần so với giá trị ban đầu. Cái lợi của
CPH ai củng thấy song bớc tiến hành của nó còn quá chậm chạp, thậm chí có nơi
còn cha mặn mà với chủ trơng lần này ngay cả trong ngành du lịch bởi những
nguyên nhân sau:

đồng thời lựa chon thêm một số DN vừa và nhỏ thuộc các ngành sản xuất hàng tiêu
dùng, chế biến nông sản, các DN dịch vụ, các DN thơng mại không chi phối lớn
đến đời sống nhân dân, các DN vận chuyển. Với t tởng chỉ đạo của bộ chính trị,
chúng ta sẻ từng bớc tiến hành CPH các DN trong ngành, nhằm rút ra bài học cho
bớc sau này.
1.3 Kinh nghiệm cổ phần hoá DNNN một số nớc.
CPH ở các nớc XHCN trớc đây thuộc đông âu.
Khác với đa số các nớc phát triển và đang phát triển, nơi có mộnt nền kinh tế
thị trờng đang vận động với quá trình CPH, ở đó hớng vào việc thúc đẩy các hoạt
động thi trờng sẳn có thì đối với các nớc XHCN ở đông âu quá trình CPH đã trở
thành cuộc thử nghiêm quan trọng đối với các chính phủ mới thành lập. Trong việc
cam kết chuyển sang nề kinh tế thị trờng và sang một hệ thống chính trị dựa trên
quyền sở hữu t nhân và quyền tự do các nhân. đối với các nớc này việc tiến hành
CPH đợc đặt trong một chơng trình t nhân hoá. Nớc cộng hoà dân chủ Đức trớc
đây, do những điều kiện đặc biệt thuận lợi hơn so với các nớc khác nên đã thực hiện
quá trình t nhân hoá và CPH với nhịp độ nhanh nhất. Các nớc nh Tiệp Khắc (cũ)
Hungary, Balan củng đang thực hiện chơng trình này một cách tích cực việc t nhân
hoá và CPH hàng ngàn cửa hàng, hàng ngàn xí nghiệp vừa và nhỏ. Đợc diển ra
nhanh hơn so với việc triển khai các công ty lớn. Trong các nớc đều đặt ra các hệ
thống pháp lý cần thiết cho việc CPH các DNNN đã vợt qua những trở ngại ban đầu
cho việc chuyển kinh tế từ kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trờng.
Nhng số DN cổ phần hoá vẩn còn hạn chế so với dự kiến. Khu vực kinh tế nhà nớc
chiếm tỷ trọng gần nh tuyệt đối nên việc tiến hành t nhân hoá và CPH ở các nớc
này gặp nhiều khó khẳn trở ngại. Liên xô (củ) khi bớc vào công cuộc CPH đang
phải lấy tiền lơng hàng chục vạn DNNN và tổng nguồn vốn là 3500 tỷ rup (1990)
trong đó vốn cố định là 2700 tỷ rup và vốn lu động là 800 tỷ rup; tổng số tài sản
khu vực là 2000 tỷ rup (khoảng 30 tỷ USD)với khoản nợ nớc ngoài là 1400 tỷ
(khoảng 20 tỷ USD), còn ba lan thì với hơn 700 DNNN trong đó 500 DN quy mô
lớn và một khoản nợ nớc ngoài không nhỏ.
Quan niện phổ biến ở các nớc Đông Âu trong cải cách kinh tế nhằm chuyển


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status