Báo cáo " Một số vấn đề về điều kiện nuôi con nuôi " potx - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
42 tạp chí luật học số 3/200
9

TS. Nguyễn Phơng Lan *
ut hụn nhõn v gia ỡnh nm 2000 v
cỏc vn bn hng dn thi hnh ó cú
quy nh v iu kin nuụi con nuụi. Tuy
nhiờn, cú th thy quy nh v iu kin nuụi
con nuụi cha cú s thng nht trong cỏc
vn bn phỏp lut, cha phn ỏnh v phự hp
vi bn cht ca quan h cho-nhn con nuụi.
Trong bi vit ny chỳng tụi mun trao i
mt s ý kin v vic cn thit phi sa i,
b sung hon thin hn cỏc quy nh v
iu kin nuụi con nuụi nhm m bo vic
nuụi con nuụi ỳng vi bn cht ca nú.
Trc ht, cn nhn thc rng vic cho-
nhn tr em lm con nuụi ch thc s cn
thit v vỡ li ớch ca tr em c cho lm
con nuụi khi tr em ú khụng th c nuụi
dng, chm súc trong gia ỡnh rut tht ca
mỡnh vỡ nhng lớ do nht nh. Ch khi ú
vic cho-nhn tr em lm con nuụi mi phự
hp vi quyn ca tr em c sng trong
gia ỡnh, phự hp vi nguyờn tc: Tr em

ngi c nhn lm con nuụi ch b rng
buc bi tui. Theo quy nh ti iu 68
Lut hụn nhõn v gia ỡnh nm 2000, ngi
c nhn lm con nuụi l ngi t 15 tui
tr xung, tr trng hp con nuụi l ngi
tn tt, ngi mt nng lc hnh vi dõn s
hoc lm con nuụi ca ngi gi yu cụ n.
Tuy nhiờn, phỏp lut khụng quy nh tui
ti a ca ngi lm con nuụi trong nhng
trng hp ny. Cú th thy quy nh ny
L

* Ging viờn chớnh Khoa lut dõn s
Trng i hc Lut H Ni nghiªn cøu - trao ®æi
t¹p chÝ luËt häc sè 3/2009 43

mặc dù phản ánh truyền thống đạo đức của
dân tộc nhưng có phần không phù hợp với
thực tế, với bản chất của việc nuôi con nuôi.
Việc nuôi con nuôi trước hết hướng tới đối
tượng là trẻ em không được nuôi dưỡng,
chăm sóc trong gia đình ruột thịt nên việc
nuôi con nuôi là vì lợi ích của trẻ em được
nhận nuôi. Với quy định người trên 15 tuổi
cũng có thể được nhận làm con nuôi mà
không giới hạn độ tuổi tối đa là quá mở rộng
diện những người có thể được nhận làm con

trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài là
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em bị
bỏ rơi, mồ côi, trẻ em bị tàn tật, khuyết tật,
mất năng lực hành vi dân sự, trẻ em là nạn
nhân của chất độc hóa học, trẻ em bị nhiễm
HIV/AIDS, trẻ em mắc các bệnh hiểm nghèo
khác đang sống tại các cơ sở nuôi dưỡng
được thành lập hợp pháp hoặc sống tại gia
đình. Trong trường hợp trẻ em đang sống tại
gia đình mà có quan hệ họ hàng với người
xin nhận con nuôi thì chỉ giải quyết cho làm
con nuôi của cô, cậu, dì, chú, bác (bên nội
hoặc bên ngoại) ở nước ngoài, “nếu trẻ em
đó bị mồ côi cả cha lẫn mẹ hoặc bị mồ côi
mẹ hoặc cha, còn người kia không có khả
năng lao động và không có điều kiện để nuôi
dưỡng trẻ em đó; trường hợp trẻ em còn
cha, mẹ nhưng cả cha và mẹ đều không có
khả năng lao động và không có điều kiện để
nuôi dưỡng trẻ em đó thì trẻ em cũng được
giải quyết cho làm con nuôi. Trong trường
hợp trẻ em tuy có quan hệ họ hàng với người
xin nhận con nuôi, nhưng trẻ em đó còn cả
cha và mẹ, sức khoẻ của trẻ em và của cha
mẹ bình thường, cha mẹ vẫn có khả năng lao
động và có điều kiện để bảo đảm chăm sóc
con mình tại Việt Nam thì không giải quyết
cho làm con nuôi ở nước ngoài”.
(2)
Có thể

- Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt theo quy
định tại Điều 41 Luật bảo vệ, chăm sóc, giáo
dục trẻ em năm 2004;
- Trẻ em tuy còn cha mẹ nhưng cha mẹ
không có khả năng nuôi dưỡng do bị mất năng
lực hành vi dân sự, bị bệnh hiểm nghèo,
không có khả năng lao động và kinh tế
- Trẻ em bị cha mẹ đẻ đối xử tàn tệ, bị bỏ
mặc hoặc bị cha mẹ hành hạ, ngược đãi, xúc
phạm nghiêm trọng đến thân thể, nhân phẩm
một cách thường xuyên, có hệ thống, gây
nguy hiểm cho trẻ, nếu trẻ vẫn tiếp tục sống
cùng cha mẹ đẻ.
2. Điều kiện đối với người nhận nuôi
con nuôi
Điều kiện đối với người nhận nuôi con
nuôi được quy định tại Điều 69 Luật hôn
nhân và gia đình. Các điều kiện đó phần nào
thể hiện được những yêu cầu cần phải có của
người nhận nuôi con nuôi song các quy định
này chưa rõ ràng, thiếu cụ thể, cần được sửa
đổi, bổ sung hoàn thiện hơn. Theo chúng tôi,
những nội dung cần được sửa đổi, bổ sung về
điều kiện của người nhận nuôi con nuôi là:
- Độ tuổi của người nuôi: Điều 69 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ quy định
người nhận nuôi phải hơn con nuôi từ 20 tuổi
trở lên. Theo chúng tôi quy định như vậy là
chưa chặt chẽ, chưa phù hợp với mục đích
của việc nuôi con nuôi. Quan hệ cha mẹ và


tui ti thiu gia ngi nhn nuụi v con
nuụi, u quy nh tui ti thiu ca
ngi nhn nuụi con nuụi. Phỏp lut nc
ta trc õy cng ó quy nh v tui ti
thiu ny.
(4)

Song, vic quy nh gii hn tui ti a
ca cha m nuụi cng cú ý ngha khụng nh.
Vic nhn nuụi con nuụi l nhm em li gia
ỡnh cho a tr, gia ỡnh ú cng ging,
cng tng hp vi gia ỡnh t nhiờn ca tr
thỡ cng tt, vỡ vy s khụng hp vi t
nhiờn chỳt no nu tr vi cỏc cp v
chng ó quỏ tui sinh n.
(5)
Hn na, khi
tui ó quỏ cao thỡ kh nng nuụi dng,
chm súc, giỏo dc con nuụi s gim dn
theo tui tỏc v nh hng trc tip n li
ớch ca tr c nhn nuụi. Vỡ vy, phự
hp vi bn cht ca vic nuụi con nuụi v
cú tớnh kh thi, phỏp lut nờn quy nh hn
ch tui ti a ca ngi nhn nuụi con nuụi,
chng hn ngi nhn nuụi con nuụi l
ngi khụng quỏ 60 tui.
- Cn quy nh c th cỏc iu kin thc
t ca ngi nhn nuụi con nuụi l gỡ cú
c s thng nht khi xem xột cụng nhn

tr em (iu 228 BLHS nm 1999) cng
khụng c nhn nuụi con nuụi. Do ú, theo
chỳng tụi, quy nh ny cn sa li nh sau:
Khụng phi l ngi cú hnh vi xỳi gic, ộp
buc tr em lm nhng vic trỏi phỏp lut,
trỏi o c xó hi; khụng phi l ngi
ang b hn ch mt s quyn ca cha, m
i vi con cha thnh niờn hoc b kt ỏn
m cha c xoỏ ỏn tớch v mt trong cỏc
ti c ý xõm phm tớnh mng, sc kho,
nhõn phm, danh d ca ngi khỏc; ti
ngc ói hoc hnh h ụng, b, cha, m,
ngi cú cụng nuụi dng mỡnh; ti mua
bỏn, ỏnh trỏo, chim ot tr em; cỏc ti
xõm phm tỡnh dc i vi tr em; ti vi
phm quy nh v s dng lao ng tr em.
- i vi ngi nhn nuụi l ngi ang
cú v hoc cú chng: Trong trng hp
ngi nhn nuụi ang cú v hoc cú chng, nghiªn cøu - trao ®æi
46 t¹p chÝ luËt häc sè 3/200
9
pháp luật cần có quy định cụ thể về một số
khía cạnh sau:
Thứ nhất, nên quy định người đang có vợ,
có chồng được nhận nuôi con nuôi, nếu cả hai
người cùng đồng ý nhận nuôi con nuôi chung
mà không nên cho phép người đang có vợ, có

Đây là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
trong việc xác định hình thức nuôi con nuôi,
hậu quả pháp lí của việc nuôi con nuôi theo
pháp luật của nước nhận trong trường hợp
trẻ em được cho làm con nuôi nước ngoài.
Vì vậy, việc quy định rõ ràng trong pháp luật
Việt Nam về các hình thức nuôi con nuôi và
hậu quả pháp lí của nó là rất cần thiết.
Thứ hai, khoản 1 Điều 26 Nghị định của
Chính phủ số 158/2005/NĐ-CP về đăng kí
và quản lí hộ tịch quy định: “trong trường
hợp một bên cha hoặc mẹ đẻ đã chết, mất
năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế năng
lực hành vi dân sự, thì chỉ cần chữ kí của
người kia; nếu cả cha và mẹ đẻ đều đã chết,
mất năng lực hành vi dân sự hoặc hạn chế
năng lực hành vi dân sự, thì người hoặc tổ
chức giám hộ trẻ em kí giấy thoả thuận”. Quy
định này theo chúng tôi là chưa chính xác bởi
vì trong trường hợp cha đẻ hoặc mẹ đẻ hoặc
cả hai người bị “hạn chế năng lực hành vi dân
sự” theo quy định của Bộ luật dân sự (BLDS)
thì họ vẫn có quyền và vẫn có khả năng thể
hiện ý chí tự nguyện của mình về việc cho
con mình làm con nuôi người khác. Đó là
quyền nhân thân độc lập của cha mẹ đẻ,
không thể chuyển giao cho người khác nên
khi đó người giám hộ hoặc người đứng đầu
cơ sở nuôi dưỡng không thể kí giấy thoả
thuận thay cha, mẹ đẻ được. Do đó, trong quy

nuôi. Khi không có ai trong số những người
họ hàng thân thích của trẻ có thể nuôi dưỡng
hoặc việc nuôi dưỡng trong gia đình họ hàng
của trẻ là không có lợi cho trẻ thì việc cho
trẻ làm con nuôi là cần thiết. Quy định như
vậy còn tạo điều kiện để việc nuôi con nuôi
giữa những người họ hàng ruột thịt trở thành
hiện thực. Pháp luật của Pháp (Điều 348-2
BLDS Cộng hoà Pháp), của Bỉ
(7)
cũng quy
định cần có sự đồng ý của hội đồng gia tộc
trong việc cho trẻ làm con nuôi, khi cha mẹ
đẻ của nó đều chết, đều mất năng lực hành vi
dân sự. Tuy nhiên, cũng cần quy định thêm
là nếu những người họ hàng của đứa trẻ mà
lạm quyền không cho trẻ làm con nuôi thì
việc cho trẻ làm con nuôi vẫn có thể được
thực hiện vì lợi ích của trẻ (Điều 348-6
BLDS Cộng hoà Pháp).
4. Điều kiện nhận nuôi con nuôi giữa
những người có quan hệ họ hàng
Giữa những người có quan hệ họ hàng
xác lập quan hệ nuôi con nuôi là điều kiện
thuận lợi cho trẻ em vì nó được tiếp tục sống
trong môi trường ruột thịt của mình. Điều
này vừa phù hợp với phong tục tập quán,
truyền thống đạo đức của dân tộc, vừa phù
hợp với các văn bản pháp lí quốc tế về nuôi
con nuôi. Pháp luật Philippines cho phép

hôn nhân và gia đình. Chỉ gần đây, khía cạnh
này mới được đề cập trong một số văn bản
dưới luật, dưới dạng thông tư,
(10)
nên hiệu
lực chưa cao, chưa có tính phổ cập. Vì thế
khía cạnh này cần được quy định thống nhất nghiªn cøu - trao ®æi
48 t¹p chÝ luËt häc sè 3/200
9
và cụ thể hơn trong luật về nuôi con nuôi.
5. Thời gian thử thách trong việc xác
lập quan hệ nuôi con nuôi
Việc nuôi con nuôi nhằm hình thành
quan hệ cha mẹ và con hợp pháp mà không
trên cơ sở huyết thống, nên đó là việc không
dễ dàng. Quá trình xác lập việc nuôi con
nuôi vừa là sự bắt đầu vừa là sự chấm dứt.
Đó là sự bắt đầu quan hệ giữa cha mẹ nuôi
và con nuôi và có thể dẫn tới sự chấm dứt
quan hệ giữa cha mẹ đẻ và con. Trong quá
trình đó các bên đều phải đối mặt với những
biến động, khủng hoảng tâm lí sâu sắc và trải
nghiệm những xúc cảm mạnh mẽ. Sự hoà
hợp, thích ứng với nhau là yếu tố căn bản tạo
nên sự bền vững, gắn bó trong quan hệ giữa
cha mẹ nuôi và đứa trẻ được nhận làm con
nuôi. Do những đặc điểm đó của việc cho

Chỉ sau khi trải qua thời gian thử thách, cơ
quan có thẩm quyền mới có cơ sở để ra
quyết định công nhận việc nuôi con nuôi,
nếu giữa người nhận nuôi và đứa trẻ thiết lập
được mối quan hệ hoà hợp. Nếu hai bên
không có sự hoà hợp, không thiết lập được
mối quan hệ tốt đẹp thì cần đưa đứa trẻ ra
khỏi gia đình người nhận nuôi, đồng thời tìm
gia đình khác có mong muốn nhận con nuôi
phù hợp hơn với đứa trẻ.
6. Đăng kí việc nuôi con nuôi và vấn
đề nuôi con nuôi thực tế
Đăng kí việc nuôi con nuôi tại cơ quan
nhà nước có thẩm quyền là điều kiện bắt
buộc để việc nuôi con nuôi có giá trị pháp lí.
Về nguyên tắc, việc nuôi con nuôi không
đăng kí tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền
sẽ không có giá trị pháp lí, các bên không
được công nhận có quan hệ cha mẹ và con
trước pháp luật.
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, ở
nước ta đã từng tồn tại việc nuôi con nuôi
thực tế. Trong từng giai đoạn lịch sử, việc
nuôi con nuôi thực tế đã được pháp luật điều
chỉnh và công nhận giá trị pháp lí.
(11)
Qua
các văn bản này có thể hiểu nuôi con nuôi
có biện pháp linh hoạt, mềm dẻo nhằm bảo
vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của các
bên. Biện pháp đó có thể dành cho các
đương sự thời hạn nhất định, có thể là hai
năm để thực hiện đăng kí việc nuôi con nuôi.
Sau thời hạn nhất định đó, nếu các bên
không thực hiện việc đăng kí thì không được
công nhận có quan hệ nuôi con nuôi. Điều
này có thể được điều chỉnh bằng văn bản
riêng biệt, tương tự như cách giải quyết đối
với các trường hợp nam nữ chung sống với
nhau như vợ chồng trước khi Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 có hiệu lực. Khi đó,
thời hạn hai năm sẽ được tính kể từ thời
điểm văn bản riêng biệt đó có hiệu lực. Theo
chúng tôi, khi xây dựng Luật nuôi con nuôi
cần cân nhắc và có quy định cụ thể, hợp tình,
hợp lí để giải quyết thoả đáng những trường
hợp nuôi con nuôi thực tế đã tồn tại trong
quá khứ nhằm bảo vệ được quyền, lợi ích
chính đáng của các bên trong quan hệ nuôi
con nuôi./.

(1).Xem: Điều 9 Công ước quốc tế về quyền trẻ em.
(2).Xem: Thông tư số 08/2006/TT-BTP ngày 8/12/2006.
(3).Xem: Điều 8 Đạo luật về nhận nuôi con nuôi trong
nước năm 1998 của Philippines.
(4).Xem: Điều 183 Hoàng Việt Trung Kì hộ luật.
(5). Nilima Mehta, Cha mẹ đã chọn con, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr.36.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status