Mục lục
TÓM TẮT ĐỀ TÀI v
Lý do chọn đề tài v
Mục tiêu nghiên cứu v
Phương pháp nghiên cứu vi
Nội dung nghiên cứu vi
Đóng góp của đề tài vii
Hướng phát triển của đề tài vii
Tổng quan các nghiên cứu trước đây: vii
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1
1.1. BỘ BA BẤT KHẢ THI 1
1.1.1. Lý thuyết bộ ba bất khả thi 1
1.1.2. Thay đổi cấu trúc tài chính quốc tế dưới góc độ bộ ba bất khả thi 4
1.1.2.1. Bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối 4
1.1.2.2. Thay đổi cấu trúc bộ ba bất khả thi 7
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ VÀO TỶ GIÁ 9
1.2.1. Một số hệ thống tỷ giá 10
1.2.2. Tác động của chính sách tài khóa và tiền tệ vào tỷ giá 12
1.2.3. Can thiệp trực tiếp và can thiệp gián tiếp 14
1.3. KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH VÔ HIỆU HÓA 15
CHƯƠNG II: CHÍNH SÁCH VÔ HIỆU HÓA VÀ ĐO LƯỜNG PHẢN ỨNG VÔ HIỆU HÓA.18
2.1 TỔNG QUAN VỀ VÔ HIỆU HÓA 18
2.1.1. Lợi ích và chi phí của chính sách vô hiệu hóa 18
2.1.2. Tích lũy dự trữ và phản ứng vô hiệu hóa 23
2.2 ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH PHẢN ỨNG VÔ HIỆU HÓA, TRƯỜNG HỢP TRUNG QUỐC. 27
2.2.1. Mô tả dữ liệu và mô hình sử dụng 27
2.2.2. Ước lượng mức độ phản ứng vô hiệu hóa 27
2.3 CÁC YẾU TỐ KHÁC TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ VÔ HIỆU HÓA 30
2.4 BÀI HỌC TỪ TRUNG QUỐC 34
CHƯƠNG III: ỨNG DỤNG VÔ HIỆU HÓA TẠI VIỆT NAM 38
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1 Chênh lệch về lãi suất và giá trị danh nghĩa năm 2006
Bảng 2 Kết quả hồi quy tín dụng nội địa ròng của NHTW theo dự trữ
ngoại hối ròng và có điều chỉnh theo sự thay đổi trong GDP.
Bảng 3 Bảng hồi quy với việc thêm biến phụ INFL cho Trung Quốc.
Bảng 4 Bảng kết quả hồi quy với việc thêm biến CA cho Trung Quốc.
iv
DANH MỤC HÌNH VẼ
chính sách vô hiệu hóa này đem lại những tác động nhằm đạt được mục tiêu mà các
nhà điều hành chính sách mong muốn. Tuy nhiên, để thực hiện một chính sách vô hiệu
hóa thành công không phải là dễ dàng. Bên cạnh những lợi ích đạt được thì vô hiệu hóa
cũng có rất nhiều đòi hỏi như phải bỏ ra các khoản chi phí đáng chú ý nhất đó chính là
chi phí tài chính, các rủi ro khi thực hiện vô hiệu hóa. Một quốc gia thông thường sẽ
thực hiện vô hiệu hóa khi mà lượng ngoại hối đổ vào nền kinh tế nhiều, từ đó làm tăng
dự trữ ngoại hối, song nó cũng tác động làm giảm các tài sản tín dụng nội địa ròng xem
xét việc dự trữ ngoại hối tác động như thế nào đến phản ứng vô hiệu hóa thông qua mô
hình hồi quy bình phương phương sai bé nhất (OLS) với trường hợp là Trung Quốc
cho kết quả là các hệ số có ý nghĩa. Từ trường hợp của Trung Quốc rút ra được bài học
kinh nghiệm khi áp dụng vô hiệu hóa, từ việc đối mặt với thặng dư kép trong tài khoản
vãng lai và tài khoản vốn, Trung Quốc phải sử dụng đến vô hiệu hóa để cố gắng giữ
cho đồng nhân dân tệ ổn định, tuy nhiên với động thái này thì Trung Quốc phải chịu
những chỉ trích từ phía Mỹ. Đồng thời tìm hiểu thực trạng của Việt Nam để trả lời cho
câu hỏi tại sao Việt Nam vẫn chưa cần áp dụng một chính sách vô hiệu hóa.
Mục tiêu nghiên cứu
Tại sao chính phủ cần phải tác động vào tỷ giá?
Chính sách vô hiệu hóa là gì? Đo lường mức độ phản ứng của chính sách
này như thế nào? Các biến nào sẽ tác động lên việc thực hiện chính sách này? Lợi ích
và chi phí phải bỏ ra khi thực hiện chính sách này như thế nào?
Việt Nam có cần thiết phải thực hiện chính sách này? Những tiền đề cần
thiết để việc thực hiện chính sách này ở Việt Nam trong tương lai sẽ mang lại thành
công? vi
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu định tính, định lượng,
thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp nhằm làm rõ những vấn đề mà đề tài hướng
Chương 2: Chính sách vô hiệu hóa và đo lường phản ứng vô hiệu hóa
Chương 3: Ứng dụng tại Việt Nam
Đóng góp của đề tài
Bài viết dựa trên nền tảng bộ ba bất khả thi nổi tiếng, tìm hiểu sâu rộng về chính
sách vô hiệu hóa , tác động của chính phủ vào hệ thống tỉ giá hối đoái thông qua hai
hình thức trực tiếp và gián tiếp. Việc thực hiện chính sách vô hiệu hóa này đem lại
những tác động nhằm đạt được mục tiêu mà các nhà điều hành chính sách mong muốn
như thế nào. Thông qua bài học từ người láng giềng Trung Quốc, xem xét việc có nên
áp dụng chính sách vô hiệu hóa vào Việt Nam hay không ?
Hướng phát triển của đề tài
Bài nghiên cứu của chúng tôi chỉ đề cập đến vấn đề thành công khi áp dụng
chính sách Vô hiệu hóa của Trung Quốc nhưng chưa quan sát được ở những nước lớn
khác trên thế giới. Hơn nữa, việc có nên áp dụng chính sách này ở Việt Nam , chúng
tôi chỉ nghiên cứu trên các yếu tố cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối, thị trường ngoại
hối và hoạt động thị trường mở. Hy vọng các bài nghiên cứu sau sẽ phát triển nhiều
hơn các yếu tố khác dựa trên bài học từ nhiều nước lớn, không chỉ ở Trung Quốc.
Tổng quan các nghiên cứu trước đây:
Có rất nhiều nhà nghiên cứu kinh tế và những nhà làm chính sách đã nghiên cứu
về những khía cạnh của vô hiệu hóa.Phải kể đến Robert Lavigne (2004), tác giả đã
khảo sát các xu hướng can thiệp vô hiệu hóa, bao gồm các quốc gia có nền kinh tế thị
trường mới nổi nhằm xác định kích cỡ và thời gian kéo dài của chính sách này trong
mối quan hệ với giai đoạn trước khi tích lũy dự trữ lớn, sau đó tác giả đi phân tích
nhũng chi phí và rủi ro nội địa trọng yếu và kéo dài vô hiệu hóa bắt đầu chứng minh
cho những điều đó.Kết quả họ đạt được, sự can thiệp vô hiệu hóa đã đạt dược mức cao
trong lịch sử nhất là ở các nước Châu Á trong đó có các nước xuất khẩu dầu. Mở đầu
năm 2007, dấu hiệu cho thấy rằng tích lũy dự trữ đã tăng với tốc độ cao, cho thấy rằng
hoạt động vô hiệu hóa phải mạnh để kiềm chế sức ép từ lạm phát trong tầm kiểm
viii
Tại sao chính phủ cần phải tác động vào tỷ giá?
1
Ngân hàng trung ương Ấn Độ
ix
Chính sách vô hiệu hóa là gì? Đo lường mức độ phản ứng của chính sách này
như thế nào?Các biến nào sẽ tác động lên việc thực hiện chính sách này?Lợi ích và chi
phí phải bỏ ra khi thực hiện chính sách này như thế nào?
Việt Nam có cần thiết phải thực hiện chính sách này?Những tiền đề cần thiết để
việc thực hiện chính sách này ở Việt Nam trong tương lai sẽ mang lại thành công?
1 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. BỘ BA BẤT KHẢ THI
1.1.1. Lý thuyết bộ ba bất khả thi
Lý thuyết này cho biết, một quốc gia không thể đạt đồng thời cả ba mục tiêu:
chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính.Lần lượt ta sẽ nghiên
cứu lý thuyết của Robert Mundell và Marcus Fleming, và một lý thuyết mở rộng của
bộ ba bất khả thi của nhóm các tác giả trong thời gian gần đây.
Lý thuyết bộ ba bất khả thi của Robert Mundell và Marcus Fleming,lý thuyết
này được minh họa như hình 1; mỗi cạnh tương ứng cho chính sách tiền tệ độc lập, ổn
định tỷ giá và hội nhập tài chính.Mỗi cạnh mô tả một mục tiêu kỳ vọng, nhưng không
thể thực hiện đồng thời ba cạnh của tam giác. Các đỉnh của tam giác, “thị trường vốn
đóng” đó là sự kết hợp giữa độc lập tiền tệ và ổn định tỷ giá, nhưng không có hội nhập
tài chính, chính phủ phải thiết lập kiểm soát vốn và chấp nhận phá vỡ mối liên hệ giữa
lãi suất và tỷ giá; “Tỷ giá thả nổi” là sự kết hợp giữa chính sách tiền tệ độc lập và hội
nhập tài chính khi bỏ qua việc ổn định tỷ giá, chính phủ được quyền tự do ấn định lãi
nền kinh tế tăng trưởng ổn định hơn. Tuy nhiên vấn đề là trong một thế giới mà giá cả
và tiền lương tương đối cứng nhắc, độc lập tiền tệ quá mức có thể là một cái cớ để
chính phủ lạm dụng thực hiện các chiến lược tăng trưởng méo mó trong ngắn hạn. Độc
lập tiền tệ nhiều hơn vì vậy dễ dẫn đến bất ổn định trong tăng trưởng và tiềm ẩn nguy
cơ lạm phát cao. Đó là chưa kể, độc lập tiền tệ quá mức có khả năng làm cho chính phủ
tiền tệ hóa chi tiêu của chính phủ bằng cách phát hành tiền trang trải cho thâm hụt ngân
sách.Hậu quả là nền kinh tế rơi vào mất ổn định với tình trạng làm phát cao.
Ổn định tỷ giá giúp tạo ra cái neo danh nghĩa để chính phủ tiến hành các biện
pháp ổn định giá cả. Cái neo này làm cho nhận thức của nhà đầu tư đối với rủi ro kinh
tế giảm đi, làm tăng thêm niềm tin của công chúng vào đồng nội tệ. Tất cả giúp làm
cho môi trường đầu tư tốt lên. Tuy nhiên, tỷ giá ổn định quá mức có mặt trái của nó,
làm cho chính phủ mất đi công cụ để hấp thụ các cú sốc bên trong và bên ngoài truyền
dẫn vào nền kinh tế; nó còn ngăn cản không cho các nhà làm chính sách sử dụng công
cụ chính sách phù hợp với thực tiễn diễn biến của nền kinh tế, nhất là khi có dấu hiệu
bong bong tài sản. Nhìn chung, tỷ giá quá cứng nhắc sẽ dễ dàng dẫn đến bất ổn trong
tăng trưởng, tăng trưởng không bền vững, rủi ro lạm phát cao và phân bổ sai nguồn
lực.
Hội nhập tài chínhlà một xu thế khó thể cưỡng lại trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Lợi ích từ hội nhập là giúp quốc gia tăng trưởng nhanh hơn, phân bổ nguồn lực tốt
3
hơn. Chúng còn giúp nhà đầu tư đa dạng hóa đầu tư, tạo cơ hội cho các nhà đầu tư
mạnh dạn bỏ vốn vào nền kinh tế. Tuy nhiên, lợi ích lớn nhất mà hội nhập mang lại
chính là tạo ra động lực cho chính phủ tiến hành nhiều cải cách và quản trị tốt hơn để
theo kịp những thay đổi của hội nhập. Bên cạnh những lợi ích đó còn có những tác
động xấu đi kèm đó là những bất ổn kinh tế gần đây, tình trạng bong bong chứng
khoán và bất động sản, dòng vốn gián tiếp chảy vào nền kinh tế đa phần là ngắn hạn và
mang tính chất đầu cơ.
Thuyết tam giác mở rộng của Yigang và Tangxian, Yigang và Tangxian (2001)
tiếp tục phát triển lý thuyết bộ ba bất khả thi của Mundell vàđưa lên thành thuyết tam
định. Thực tế, chế độ tỷ giá cố định thường có trong các quốc gia đang phát triển với
thịtrường tài chính yếu kém.
Tình huống 3:Khi 0<Kc<1, dòng vốn lưu động giới hạn, có ba sự kết hợp: (1)
dòng vốn lưu động có giới hạn kết hợp chính sách tiền tệ độc lập hoàn toàn kết hợp tỷ
giá thả nổi có giới hạn; (2) dòng vốn lưu động giới hạn kết hợp chính sách tiền tệ độc
lập có giới hạn kết hợp tỷ giá thả nổi có giới hạn; (3) dòng vốn lưu động giới hạn kết
hợp chính sách tiền tệ độc lập có giới hạn kết hợp tỷ giá cố định.
1.1.2. Thay đổi cấu trúc tài chính quốc tế dưới góc độ bộ ba bất khả thi.
1.1.2.1. Bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối
Những nghiên cứu gần đây cho thấy sự thay đổi của bộ ba bất khả thi và mức độ
dự trữ ngoại hối là có mối liên quan với nhau, do đó, mà một nghiên cứu của
Aizzenman, Chinn và Ito năm 2008 , đã triển khai một dạng đồ thị kim cương để đo
lường xu hướng của những thay đổi nay. Các ông đã xây dựng cho mỗi quốc gia một
vector bộ ba bất khả thi và những cấu hình của dự trữ ngoại hối để đo lường đôc lập
tiền tệ, ổn định tỷ giá, dự trữ ngoại hối và hội nhập tài chính của mỗi quốc gia. Những
thước đo này dao động từ 0 đến 1. Cấu hình của mỗi quốc gia được tạo bởi bốn đỉnh
5
đo lường độc lập tiền tệ, ổn định tỷ giá và dự trữ ngoại hối trên GDP và hội nhập tài
chính.
Hình 3: Cấu trúc bộ ba bất khả thi và dự trữ ngoại hối:
6
Emerging Market Countries
Non
-
Emerging Market Developing Countries
Financial
Integration
Financial
Integration
Financial
Integration
.2
.4
.6
.8
1
.2
.4
.6
.8
1
.2
.4
.6
.8
1
.2
.4
.6
.8
1
phát triển (non-emerging market developing countries). Thêm vào đó, các nhóm thị
trường mới nổi của các quốc gia này cũng rất khác biệt trong những thời kỳ tăng
trưởng nhanh chóng đã qua về mức độ của việc tích trữ ngoại hối. Trong khi đó các
quốc gia phát triển vừa trải qua giai đoạn tăng trưởng dự trữ ngoại hối, sự thay đổi
trong dự trữ của các quốc gia này chỉ ở mức tăng nhẹ. Ngược lại, các quốc gia công
nghiệp hóa lại có cố gắng làm giảm mức dự trữ đang nắm giữ của mình.
1.1.2.2. Thay đổi cấu trúc bộ ba bất khả thi
Một bài học lớn được rút ra từ quá khứ là các rủi ro của sự kết hợp giữa hội
nhập tài chính quốc tế với chế độ tỷ giá hối đoái cố định theo kiểu linh hoạt. Mỗi
cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế trọng yếu giữa các thị trường liên quan với nhau
từ năm 1994, Mexico vào năm 1994, Thái Lan, Indonesia, và Hàn Quốc năm 1997,
Nga và Brazil năm 1998, Argentina và Thổ Nhĩ Kỳ năm 2000, đều có sự liên quan
đến tỷ giá hối đoái cố định. Đồng thời, các quốc gia không có chế độ tỷ giá cố định,
trong đó Israel, Mexico, và Nam Phi vào năm 1998, đã tránh được các cuộc khủng
hoảng cùng loại đã làm hoang mang các thị trường mới nổi có chế độ tỷ giá cố
định. Kết quả là, nhiều thị trường mới nổi đã thông qua chính sách tỷ giá hối đoái
thả nổi có quản lý, trong khi vẫn cố gắng duy trì một mức độ kiểm soát tiền tệ trong
nước cùng với tăng cường hội nhập tài chính. Họ đã thực hiện điều này với một
8
chính sách kết hợp tích lũy dự trữ lớn và vô hiệu hóa.Việc áp dụng khuôn khổ lý
thuyết bộ ba bất khả thi hữu ích trong việc giải thích sự thay đổi cấu trúc chính sách
tiền tệ bởi các nước đang phát triển.
Với thị trường vốn đóng, một quốc gia có thể có quyền kiểm soát chính sách
tiền tệ và tỷ giá hối đoái cố định, nhưng không hội nhập tài chính. Đây là sự lựa
chọn chính sách ưa thích của hầu hết các nước đang phát triển vào giữa đến cuối
thập niên 1980, khi họ duy trì một sự kết hợp giữa ổn định tỷ giá và độc lập tiền tệ,
với các tài khoản vốn gần như đóng cửa. Trong những năm cuối 1980 và đầu những
năm 1990 các nước như Mexico, Hàn Quốc và một số nền kinh tế khác ở châu Á, đi
theo con đường phát triển tự do hóa tài chính và mở cửa. Tuy nhiên, khi họ mở cửa
Một sự thay đổi cấu trúc thứ hai đã diễn ra vào năm 2000, định hướng chủ yếu do
sự gia tăng chưa từng có trong tích lũy dự trữ ngoại hối của Trung Quốc.
Sự tích lũy dự trữ ngoại hối lớn có thể là do một số yếu tố. Đầu tiên, một số
nước đã giành dự trữ để đáp ứng nhu cầu phòng ngừa.Dự trữ cung cấp bảo hiểm
cho chính quốc gia đó khi có sự dừng lại đột ngột của luồng vốn nước ngoài chuyển
vào trong nước, qua đó bù đắp rủi ro khi hội nhập tài chính ở mức sâu hơn.Thứ hai,
dự trữ ngoại hối có thể được sử dụng để làm giảm nhẹ tác động của các cú sốc
thương mại lên tỷ giá hối đoái thực tế và xuất khẩu của một quốc gia, điều hòa các
điều chỉnh tài khoản vãng lai. Thêm vào đó, chúng như là một khoản bảo hiểm
ngầm, cho phép các nước tránh phụ thuộc vào quỹ tiền tệ Thế giới (IMF), Ngân
hàng Thế giới (WB) và các tổ chức tài chính quốc tế khác. Cuốc cùng, tích lũy dự
trữ có thể xuất hiện như là một sản phẩm phụ của việc quản lý tỷ giá hối đoái để
thúc đẩy xuất khẩu bằng cách đánh giá thấp đồng nội tệ.
1.2. TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ VÀO TỶ GIÁ
Mỗi quốc gia theo đuổi một hệ thống tỷ giá riêng, từ đó sẽ có những chính
sách, biện pháp can thiệp khác nhau ứng với tình hình kinh tế cũng như mục tiêu mà
chính phủ đó theo đuổi. Tiếp theo, đi tìm hiểu các tác động từ những chính sách tài
khóa và tiền tệ tác động đến tỷ giá như thế nào, sau đó chúng ta tìm hiểu kỹ hơn
một vài biện pháp can thiệp của chính phủ nhằm tác động vào tỷ giá hối đoái để đạt
được mục tiêu của mình và một số khái niệm về thế nào là một chính sách vô hiệu
hóa
10
1.2.1. Một số hệ thống tỷ giá.
Hệ thống tỷ giá cố định.Tỷ giá hoặc được giữ không đổi hoặc chỉ được phép
dao động trong một phạm vi rất hẹp. Nếu tỷ giá bắt đầu dao động quá nhiều, chính
phủ có thể can thiệp để duy trì tỷ giá trong vòng giới hạn này. Khi một quốc gia lựa
chọn chế độ tỷ giá cố định là chấp nhận chịu tác động mạnh bởi những cú sốc, như
cú sốc giá là điều mà các quốc gia này phải thường xuyên đối mặt. Bên cạnh đó, thế
một số lượng nhỏ và tuân theo các chỉ dẫn trong hành vi các biến số vĩ mô của nền
kinh tế như vị tếh dự trữ ngoại hối quốc gia, những thay đổi gần đây trong cung tiền
hoặc lạm phát và thâm hụt cán cân thanh toán hoặc những thay đổi gần đây của tỷ
giá xoay quanh mức ngang giá trung tâm. Khi những biến số này ra những sức ép
tiềm ẩn làm cho dự trữ quốc gia suy yếu chẳng hạn, đồng nội tệ có thể được phá gia
một cách chính thức với một tỷ lệ phần trăm nhỏ. Do những thay đổi liên tục trong
ngang giá nên về mặt hình học ta thấy dáng đi của tý giá gần giống như con rắn.
Những nhà làm chính sách ủng hộ hệ thống neo tỷ giá thường lập luận rằng ít nhất
về mặt lý thuyết, sự hiện hữu của mức trần và sàn tỷ giá có thể tạo ra tính kỷ luật
trong chính sách tiền tệ và tạo được niềm tin của dân chúng vào đồng nội tệ. Ngoài
ra, tỷ giá thay đổi định kỳ sẽ phù hợp hơn với những thay đổi trong các biến số vĩ
mô. Tuy nhiên, những lập luận chống lại hệ thống này cũng đưa ra những lập luận
của mình; rõ nhất là mỗi khi xuất hiện những cú sốc thì không thể duy trì mãi hệ
thống neo tiền tệ. Trong trường hợp này, cán cân thanh toán quốc tế sẽ bị tác động
mạnh và do đó cần phải có những thay đổi mạnh tương ứng để tái lập cân bằng. Bên
cạnh đó, một số nhà kinh tế cũng cho rằng nên từ bỏ hệ thống neo tỷ giá theo USD
(phần nào đó vì vị thế đồng USD đã không còn như trước đây) và nên chuyển sang
điều hành tỷ giá theo một rỗ tiền tệ, hơn là neo theo một đồng ngoại tệ nào đó.
Hệ thống tỷ giá thả nổi có quản lý.Hay còn được gọi là hệ thống tỷ giá “thả
nổi không hoàn toàn”, sỡ dĩ được gọi là thả nổi bởi vì tỷ giá được phép dao động
hàng ngày và không có các biên độ chính thức. Nhưng nó lại giống hệ thống cố định
do NHTW có thể can thiệp để tránh đồng nội tệ không vượt qua một ngưỡng nào
đó. Những lý do khiến NHTW phải can thiệp vào tỷ giá thường là do những cú sốc
kinh tế hoặc những xáo trộn tác động đến tỷ giá buộc NHTW phải can thiệp; tuy
nhiên, đôi khi không có những cú sốc kinh tế rõ rệt nào nhưng tỷ giá vẫn có những
thay đổi tác động xấu đến nền kinh tế thì NHTW vẫn can thiệp để làm dịu bớt các
biến động tỷ giá; ngoài ra, còn có một lý do khác NHTW can thiệp vào tỷ giá nhằm
12
thiết lập một biên độ tỷ giá ẩn nhằm thực hiện một mục tiêu chính sách nào đó. Tuy
13
sách tác động như thế nào đến tỷ giá. Phản ứng của thị trường đối với thâm hụt
ngân sách phụ thuộc phần nhiều vào mức độ của thâm hụt là cao hay thấp và việc sử
dụng nợ của chính phủ có hiệu quả hay không, điển hình gần đây chính là khủng
hoảng nợ công Châu Âu năm 2010 với ngồi nổ là Hy Lạp làm giảm giá đồng Euro
rất đáng kể, điều này sẽ dẫn đến cái kết là lạm phát hoặc chính phủ buộc phải tuyên
bố vỡ nợ. Điều này phụ thuộc rất lớn vào đồng tiền mà quốc gia đó đang nợ.Tồn tại
hai kịch bản, một là quốc gia đó vay bằng nội tệ sẽ dẫn đến tình trạng lạm phát, hai
là vay bằng ngoại tệ sẽ dẫn đến rủi ro vỡ nợ rất lớn.Tuy nhiên, cả hai kịch bản này
đều tác động xấu đến tỷ giá.
Các chính sách tiền tệ tác động thế nào đến tỷ giá, chính sách tiền tệ ở đây là
nới lỏng tiện tệ cụ thể là thông qua ví dụ phản ứng của FED vào thang 11 năm
2010. Để đối phó với tình hình suy thoái kinh tế kể từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế
toàn cầu, tháng 11 năm 2010 FED đã tiến hành nới lỏng tiền tệ bằng chương trình
nới lỏng định lượng lần 2. Qua đó FED đã bơm vào nền kinh tế 600 tỷ USD bằng
cách mua trái phiếu chính phủ và các khoản nợ khu vực tư. Động thái này nhằm làm
lãi suất của toàn nền kinh tế giảm đi để tạo điều kiện phục hồi nền kinh tế. Tuy
nhiên, mặc trái của chính sách này là đã làm đồng USD giảm mạnh, mà đồng USD
yếu đi sẽ làm dòng vốn từ Mỹ chảy sang các nước khác. Tuy nhiên, vào thời gian đó
nhiều nhà kinh tế lại có ý kiến ngược lại, chính sách nới lỏng định lượng này có khả
năng làm mạnh đồng USD vì việc nới lỏng định lượng này chỉ giới hạn để đạt được
mục tiêu lạm phát kỳ vọng của FED là 2%. Và vì thế thị trường sẽ kỳ vọng rằng
điều này sẽ hỗ trợ thêm cho sự ổn định của hệ thống tài chính. Đến lượt mình, sự ổn
định của thị trường tài chính sẽ làm cho giá cổ phiếu hấp dẫn hơn và thu hút dòng
vốn chảy vào nước Mỹ và làm cho đồng USD mạnh lên. Chỉ cần truyển tải thông tin
này vào công chúng, thậm chí không cần hành động (không cần in tiền hoặc in với
số lượng ít hơn thông báo), nền kinh tế sẽ dần phục hồi và đồng USD sẽ mạnh lên.
Nhìn chung tác động của thâm hụt tài khóa và chính sách tiền tệ lên gía trị
của một đồng tiền nào đó tùy thuộc không ít vào việc thị trường đánh giá khả năng
tiếp, đây là cách thức ngân hàng thực hiện thông qua công cụ lãi suất. Ví dụ, muốn
đồng nội tệ lên giá, ngân hàng trung ương tăng lãi suất để thu hút dòng vốn chảy
vào hoặc chuyển dịch các khoản tiền gửi từ đồng ngoại tệ sang nội tệ. Ngược lại,
nếu muốn cho đồng nội tệ giảm giá thì ngân hàng trung ương giảm lãi suất. Ngoài
ra việc can thiệp gián tiếp đối với tỷ giá còn được thực hiện thông qua các hàng rào
15
của chính phủ như các rào cản kỹ thuật. Đôi khi, chính phủ cũng có thể áp dụng
những hạn ngạch đối với hàng nhập nhằm mục đích giảm nhu cầu của Châu Âu đối
với các ngoại tệ và tạo một áp lực tăng giá trên đồng EUR. Cuối cùng, chính phủ có
thể giảm hay miễn thuế đánh trên bất cứ thu nhập nào từ các hoạt động đầu tư
ngước ngoài tại Châu Âu để tác động làm tăng hay giảm nhu cầu của các nhà đầu tư
quốc tế lên đồng EUR. Và dĩ nhiên những can thiệp bằng các hàng rào như trên sẽ
bị chính phủ các nước tiến hành trả đũa.
1.3. KHÁI QUÁT VỀ CHÍNH SÁCH VÔ HIỆU HÓA.
Theo cách hiểu chung nhất, chính sách vô hiệu hóa là sự can thiệp trực tiếp
của chính phủ vào tỷ giá, để đảm bảo rằng việc tác động lên thị trường ngoại hối
không làm ảnh hưởng đến các mục tiêu chính sách khác của chính phủ. Ngân hàng
trung ương tiến hành sử dụng phương thức can thiệp vô hiệu hóa, được tiến hành
bằng cách thực hiện đồng thời song song hai giao dịch trên thị trường ngoại hối và
trên thị trường mở.
Theo một nghiên cứu của hai tác giả Richard J.Herring và Richard C.
Marston, khi có sự thay đổi trong dự trữ ngoại hối tất yếu sẽ dẫn đến sự thay đổi
trong dự trữ của ngân hàng trung ương, muốn điều này không xảy ra, ngân hàng
trung ương phải ngăn chặn được các tác động khác của sự thay đổi này. Một hành
động vô hiệu hóa được định nghĩa là sự nổ lực của cả hệ thống nhằm ngăn chặn sự
ảnh hưởng tiền tệ do thay đổi dự trữ ngoại hối bởi một hành động ngược lại trong
việc nắm giữ những tài sản trong nước. Tuy nhiên, một điều chỉnh khác trong bảng
cân đối của ngân hàng trung ương có thể đáp ứng được sự vô hiệu hóa các ảnh
Như một kết quả, một lĩnh vực chủ yếu của các trung tâm nghiên cứu can
thiệp vô hiệu hóa sẽ làm ảnh hưởng thị trường ngoại hối. Có hai phương pháp phổ
biến, can thiệp vô hiệu hóa tới hạn có thể đạt được hiệu quả. Một là phương pháp
thông cáo, ở đó thông tin bất cân xứng hay thị trường không hiệu quả. Phương pháp
này chính là việc mà ngân hàng trung ương nắm giữ mọi thông tin cơ bản cũng như
những tín hiệu của nền kinh tế, tất cả những thông tin này sẽ được công chúng biết
đến thông qua các chính sách hành động. Thứ hai đó là phương pháp danh mục, nơi
mà tài sản thay thế không hoàn hảo trên bình diện quốc tế, và can thiệp vô hiệu hóa
đạt hiệu quả bởi sự thay đổi trong mối quan hệ cung của các tài sản đó.Bordo và