Xác định cha, mẹ, con trong pháp luật việt nam - Pdf 12


Bộ giáo dục và đào tạo Bộ t pháp
Trờng đại học luật hà nội

Nguyễn Thị Lan
Xác định cha, mẹ, con trong pháp luật Việt Nam
Chuyên ngành: LUật Dân sự
Mã số: 62.38.30.01

Tóm tắt luận án tiến sĩ luật học Hà Nội - 2008 Công trình đợc hoàn thành

Danh mục các công trình đã công bố liên
quan đến đề tài luận án
1. Nguyễn Thị Lan (2006), Xác định cha, mẹ, con dới góc
độ bình đẳng giới, Tạp chí Luật học, (3), tr.45 49.
2. Nguyễn Thị Lan (2007), Bàn về trờng hợp con sinh ra
trớc ngày đăng ký kết hôn và đợc cha mẹ thừa nhận cũng
là con chung của vợ chồng, Tạp chí Dân chủ pháp luật,
(1), tr.20 22.
3. Nguyễn Thị Lan (2007), Vietnamese law of determination
of parent child relationship in context of international
intergration, Law & Devolopment Journal, (1), tr.23
34.
Nguyễn Thị Lan (2007), Pháp luật Việt Nam về xác định
cha, mẹ, con trong điều kiện xã hội hoá và hội nhập quốc
tế, Tạp chí Pháp luật và Phát triển, (1), tr.62 68.
4. Nguyễn Thị Lan (2007), Vấn đề giới với quá trình nghiên
cứu và giảng dạy môn học Luật Hôn nhân và Gia đình,
Tạp chí Luật học, (3), tr.36 41.
5. Nguyễn Thị Lan (2007), Bàn về thời gian mang thai tối đa
và tối thiểu trong việc xác định cha, mẹ, con, Tạp chí Luật
học, (8), tr.30 35.
6. Nguyễn Thị Lan (2007), Thời kỳ hôn nhân trong việc xác
định cha, mẹ, con theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm
2000, Tạp chí Nhà nớc và Pháp luật, (9), tr.57 60.
1
dần thay đổi theo các thái cực khác nhau. Vấn đề xác định cha, mẹ, con
không nằm ngoài qui luật đó, nhất là đối với các quốc gia, nơi mà pháp luật
về HN&GĐ chịu ảnh hởng rất nhiều bởi phong tục, tập quán, đạo đức truyền
thống nh Việt Nam. Dĩ nhiên, pháp luật về xác định cha, mẹ, con phải mang
những dấu ấn của ảnh hởng này. Chính vì vậy, hơn bất cứ mảng pháp luật 2nào, pháp luật về xác định cha, mẹ, con cần vừa phải giữ gìn đợc những giá
trị truyền thống của gia đình Việt Nam, vừa phải phù hợp với quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Đặc biệt, do sự phát triển không ngừng của
khoa học kỹ thuật đã xuất hiện vấn đề sinh con theo phơng pháp khoa học.
Đây là một vấn đề mới làm thay đổi những quan niệm truyền thống về một
ngời cha, ngời mẹ, ngời con. Vấn đề sinh con theo phơng pháp khoa học
đã thể hiện sự phát triển vợt bậc của khoa học kỹ thuật. Khoa học đã có thể
can thiệp vào ngay cả quá trình tạo ra con ngời. Trong thực tế áp dụng các
biện pháp hỗ trợ sinh sản, không đơn thuần thuộc lĩnh vực khoa học về y học
mà còn liên quan đến nhiều vấn đề về đạo đức, về pháp lý, về tâm lý, tình
cảm Việc áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản trong nhiều trờng hợp không
chỉ trong nội bộ cặp vợ chồng vô sinh mà còn liên quan đến ngời thứ ba đó
là ngời cho tinh trùng, cho trứng, cho phôi Ngoài ra, còn đụng chạm đến
những vấn đề khá nhạy cảm đó là việc mang thai hộ và sinh sản vô tính. Đây
là một vấn đề rất phức tạp. Việc xác định cha, mẹ, con trong những trờng
hợp này cũng có những biệt lệ. Về mặt pháp lý, hiện nay, Luật HN&GĐ năm
2000 và các văn bản hớng dẫn thi hành đã tạo ra một hành lang pháp lý để
điều chỉnh kịp thời vấn đề này. Tuy nhiên, trong quá trình thực thi và áp dụng
pháp luật vẫn tồn tại nhiều vấn đề còn gây nhiều tranh cãi, không thống
nhất

bài viết đợc đăng trên các báo, tạp chí dới nhiều góc độ khác nhau nh các
bài viết của TS. Nguyễn Văn Cừ:
Một số suy nghĩ về nguyên tắc xác định
cha, mẹ và con (trong giá thú) theo pháp luật Việt Nam
(Tạp chí Luật học
số 6/1999);
Vấn đề xác định cha, mẹ và con ngoài giá thú theo Luật Hôn
nhân và Gia đình Việt Nam
(Tạp chí Luật học số 1/2002); bài viết của TS.
Nguyễn Phơng Lan:
Quyền làm mẹ của ngời phụ nữ theo qui định của
pháp luật Việt Nam
(Tạp chí Luật học số Đặc san phụ nữ năm 2004); bài
viết của tác giả Lê Thị Kim Chung:
Những vấn đề nảy sinh từ qui định về
xác định cha, mẹ, con sinh ra nhờ kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
(Tạp chí Dân
chủ pháp luật số 9/2004) Những bài viết này chỉ đề cập đến những khía
cạnh nhỏ của việc xác định cha, mẹ, con. Ngoài ra, một vài sinh viên chuyên
ngành luật lựa chọn vấn đề này làm luận văn tốt nghiệp cử nhân luật nh đề
tài:
Vấn đề xác định cha, mẹ, con trong Luật HN&GĐ năm 2000
(2003)
của sinh viên Trần Huy Cờng. Những khoá luận này cũng chỉ dừng ở mức
độ tóm lợc những vấn đề cơ bản của pháp luật về xác định cha, mẹ, con.
Trong luận văn thạc sĩ của mình, tôi cũng đã chọn đề tài
Xác định cha, mẹ,
con Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
(Năm 2002). Phạm vi nghiên cứu


con với sự hỗ trợ của khoa học và nguyên tắc xác định t cách cha, mẹ, con.
Ngoài ra, là một số vấn đề pháp lý có liên quan nh quyền phá thai của ngời
phụ nữ [124] Tuy vậy, việc nghiên cứu này chỉ dừng lại ở mức giải độ thích
luật dới hình thức hỏi đáp pháp luật nhằm phổ biến pháp luật về HN&GĐ.
Tạp chí Gia đình (2007) của nhà xuất bản Dalloz (Pháp) có một bài viết về
vấn đề giám định gen xác định quan hệ huyết thống giữa cha mẹ và con với
tiêu đề
Filiation et empreintes génétiques
. Tuy nhiên, bài viết này chỉ đề
cập đến qui trình lấy mẫu giám định gen để xác định quan hệ huyết thống và
những thủ tục pháp lý cần thiết đối với các chủ thể có liên quan bao gồm cơ

5quan tiến hành tố tụng là Toà án, ngời tiến hành giám định (chuyên gia đợc
Toà án công nhận trong lĩnh vực giám định gen) và các đơng sự có liên quan
đến việc giám định gen [132]. Bài viết này không nghiên cứu pháp luật nội
dung về xác định cha, mẹ, con. Trong sự phát triển về kinh tế, khoa học kỹ
thuật đã đặt ra cho các nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau nhiều vấn đề
xung quanh việc xác định cha, mẹ, con. Bởi trong thực tế đã và đang nảy sinh
những vấn đề mà pháp luật cha điều chỉnh kịp thời. Theo quan điểm của
chúng tôi, mảng pháp luật về xác định cha, mẹ, con là một trong những mảng
pháp luật đặc biệt, liên quan đến nhiều mảng pháp luật khác. Việc xác định
cha, mẹ, con cần đợc nghiên cứu một cách toàn diện, nhằm đảm bảo cho
việc xác định cha, mẹ, con đợc chặt chẽ và chính xác hơn. Từ đó, đảm bảo
quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Luận án là công trình đầu tiên
nghiên cứu một cách toàn diện, mang tính chuyên sâu về các vấn đề pháp lý
của việc xác định cha, mẹ, con trong pháp luật Việt Nam.


đến nay kết hợp so sánh với pháp luật về xác định cha, mẹ, con của một số
nớc trên thế giới để đề tài có chiều sâu và có tính hấp dẫn hơn. Đề tài cũng
nghiên cứu một số yếu tố có ảnh hởng nhất định tới việc điều chỉnh pháp
luật về xác định cha, mẹ, con.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là đề tài sẽ nghiên cứu toàn diện cả về lý
luận và thực tiễn việc xác định cha, mẹ, con. Luận án tập trung u tiên nghiên
cứu pháp luật nội dung, tức là pháp luật HN&GĐ Việt Nam về xác định cha,
mẹ, con. Đối với pháp luật về hình thức, liên quan đến thủ tục xác định cha,
mẹ, con, luận án chỉ xem xét một số vấn đề có liên quan mật thiết đến pháp
luật nội dung về xác định cha, mẹ, con để đề tài nghiên cứu đảm bảo tính
toàn diện và logic hơn. Đề tài nghiên cứu bao gồm cả xác định cha, mẹ, con
trong nớc và xác định cha, mẹ con có yếu tố nớc ngoài. Tuy nhiên, đối với
việc xác định cha, mẹ, con có yếu tố nớc ngoài, luận án chỉ dừng lại ở việc
nghiên cứu một số thủ tục pháp lý nhất định và định hớng những cơ sở pháp
lý chung nhất. Luận án không có tham vọng nghiên cứu chuyên sâu về
nguyên tắc áp dụng luật vì vấn đề này có thể tiếp thu đợc ở các công trình
khoa học pháp lý khác.
5. cơ sở phơng pháp luận và phơng pháp nghiên cứu
đề tài
Cơ sở phơng pháp luận để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của học thuyết Mác Lê Nin. Đề tài đợc
nghiên cứu trên cơ sở gắn liền giữa lý luận và thực tiễn để làm sáng tỏ vấn đề.
Phơng pháp nghiên cứu đề tài bao gồm một số phơng pháp nh
phơng pháp phân tích, tổng hợp, lịch sử, so sánh, thống kê

7Phơng pháp phân tích, tổng hợp vừa mang lại cho luận án một cái
nhìn tổng quát vấn đề cần nghiên cứu, vừa làm cho luận án có chiều sâu hơn.


8+ Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể dùng làm tài liệu hớng dẫn trong việc
áp dụng pháp luật về xác định cha, mẹ, con. Đảm bảo tính thống nhất và
chính xác trong thực tiễn giải quyết vấn đề này.

8. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, phần kết luận, 3 chơng, danh mục các
công trình khoa học đã công bố, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ
lục. 9Chơng 1
Những vấn đề lý luận về xác định cha, mẹ, con

1.1. kháI niệm về xác định cha, mẹ, con
1.1.1. Khái niệm cha, mẹ, con
Khái niệm cha, mẹ, con đợc nghiên cứu dới hai góc độ: góc độ sinh học
xã hội và góc độ pháp lý.
Dới góc độ sinh học xã hội, cha, mẹ, con là những khái niệm luôn tồn
tại cùng nhau, có mối liên quan không thể tách rời. Mối quan hệ giữa cha mẹ đẻ
và con đẻ luôn gắn liền với quá trình sinh đẻ, từ việc thụ thai, mang thai và sinh
con. Về nguyên tắc, cha đẻ, mẹ đẻ phải đảm bảo hai yếu tố: thứ nhất, có quan hệ
huyết thống trực hệ với ngời con; thứ hai, là ngời trực tiếp sinh ra ngời con.
Con đẻ cũng phải đảm bảo hai yếu tố: thứ nhất, phải mang huyết thống, mã gen

diện mối quan hệ huyết thống giữa hai thế hệ kế tiếp nhau thông qua sự kiện
sinh đẻ.

Dới góc độ pháp lý, xác định cha, mẹ, con đợc nghiên cứu:
Với t cách là một sự kiện pháp lý:
Xác định cha, mẹ, con là căn cứ pháp lý
làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con về mặt huyết thống.

Với t cách là một sự kiện pháp lý, việc xác định cha, mẹ, con có cấu thành
sự kiện, bao gồm sự biến pháp lý và hành vi pháp lý. Sự kiện sinh đẻ là hành vi
sinh con của ngời phụ nữ và hành vi này phụ thuộc rất nhiều vào cơ chế phát
triển tự nhiên của bào thai, nhiều khi nằm ngoài sự kiểm soát của ngời mẹ, vì
vậy, sự kiện sinh đẻ là sự biến pháp lý tơng đối. Tuy nhiên, sự kiện sinh đẻ chỉ
là một trong những sự kiện để xác định t cách cha, mẹ, con. Sự kiện sinh đẻ
phải đi liền với một loạt các hành vi pháp lý khác mới đủ cơ sở để xác định quan
hệ pháp luật giữa cha mẹ con nh hành vi đăng ký khai sinh, một quyết định hay
một bản án có hiệu lực của cơ quan nhà nớc có thẩm quyền công nhận hoặc xác
định t cách cha, mẹ, con.
Xác định cha, mẹ, con với t cách là quan hệ pháp luật:
Xác định cha, mẹ,
con là các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tìm kiếm, nhận diện t
cách cha, mẹ, con về mặt huyết thống của các chủ thể đợc các qui phạm
pháp luật điều chỉnh.
Với t cách là một quan hệ pháp luật việc xác định cha,
mẹ, con mang đặc điểm: xác định cha, mẹ, con là một quyền nhân thân, về
nguyên tắc, luôn gắn liền với chủ thể và không thể chuyển giao cho ngời khác;
việc xác định cha, mẹ, con không qui định thời hiệu khởi kiện.
Với t cách là một quan hệ pháp luật, việc xác định cha, mẹ, con đợc chia ra
nhiều loại quan hệ khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau.
Căn cứ vào tính chất của quan hệ pháp luật, việc xác định cha, mẹ, con bao

tập quán. Các qui phạm này thờng không có chế tài kèm theo mà luôn hớng tới
sự tự giác, tự nguyện nhận cha, mẹ, con của các chủ thể. Các chủ thể trong việc
xác định cha, mẹ, con không đợc phép tự thoả thuận để làm thay đổi các quyền
và nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật đã qui định. Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ
của mình trong việc xác định cha, mẹ, con các chủ thể luôn phải hớng tới vì lợi
ích chung của gia đình, đảm bảo việc xác định cha, mẹ, con theo đúng nghĩa của
nó.

1.1.3. Căn cứ xác định cha, mẹ, con
Xác định cha, mẹ, con đợc căn cứ vào nguồn gốc huyết thống và pháp lý.
Căn cứ về mặt huyết thống có thể coi là căn cứ đầu tiên, là tiền đề để xác định
cha, mẹ, con. Căn cứ về mặt pháp lý bao gồm thời kỳ hôn nhân, sự tự nguyện của
các chủ thể trong việc xác định cha, mẹ, con. Hai căn cứ xác định cha, mẹ, con
có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau và tuỳ vào từng 12trờng hợp xác định cha, mẹ, con mà căn cứ nào đợc coi là có tính chất quyết định.
1.1.4.
ý
nghĩa của việc xác định cha, mẹ, con

ý
nghĩa của việc xác định cha, mẹ, con bao gồm ý nghĩa về mặt xã hội và ý
nghĩa về mặt pháp lý. Tựu chung có ba nhóm chủ thể chính đạt đợc lợi ích trong
việc xác định cha, mẹ, con. Đó là nhà nớc, gia đình và trẻ em. Việc xác định
cha, mẹ, con là sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích của gia đình và xã hội. Việc xác
định cha, mẹ, con liên quan đến rất nhiều mối quan hệ pháp lý khác nh dân sự,

pháp luật thực định Việt Nam về xác định cha, mẹ, con để có hớng hoàn thiện
mới.

Chơng 2
Pháp luật việt nam hiện hành về xác định cha, mẹ, con
và thực tiễn áp dụng
2.1. xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ có hôn nhân hợp
pháp căn cứ, thủ tục và thực tiễn áp dụng
2.1.1. Căn cứ xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ có hôn nhân hợp pháp
+ Thời kỳ hôn nhân: Thời kỳ hôn nhân đợc nghiên cứu ở hai thời điểm: đó là
thời điểm bắt đầu thời kỳ hôn nhân và thời điểm chấm dứt hôn nhân. Thời điểm
bắt đầu thời kỳ hôn nhân đợc xác định đặc biệt trong trờng hợp không máy
móc xử huỷ hôn nhân trái pháp luật và trờng hợp nam nữ chung sống nh vợ
chồng đợc coi là có giá trị pháp lý. Thời điểm chấm dứt hôn nhân đợc xác định
đặc biệt trong trờng hợp chấm dứt hôn nhân khi có quyết định của Toà án tuyên
bố vợ, chồng chết. Việc xác định thời kỳ hôn nhân trong những trờng hợp này
nhằm đảm bảo việc xác định cha, mẹ, con chính xác hơn.
+ Căn cứ vào sự kiện sinh đẻ của ngời vợ: Sự kiện sinh đẻ đợc nghiên cứu theo
nghĩa rộng bao gồm cả quá trình thai nghén và sinh con để xác định cha, mẹ,
con. Pháp luật thực định cần qui định thời gian mang thai tối đa và tối thiểu để
làm cơ sở cho việc giải quyết các tranh chấp xác định cha, mẹ, con.
+ Căn cứ vào sự thừa nhận của cha, mẹ, con: đợc áp dụng trong trờng hợp
ngời vợ sinh con trớc ngày đăng ký kết hôn.
Từ ba căn cứ trên, diện con chung của vợ chồng bao gồm: con đợc sinh ra
trớc ngày đăng ký kết hôn và đợc cha, mẹ thừa nhận; con do ngời vợ thụ thai
trớc ngày đăng ký kết hôn và sinh ra trong thời kỳ hôn nhân; con do ngời vợ
thụ thai và sinh ra trong thời kỳ hôn nhân; con do ngời vợ thụ thai trong thời kỳ
hôn nhân và sinh ra sau khi hôn nhân chấm dứt trong một thời hạn luật định tối
đa là 300 ngày; con do ngời vợ thụ thai trớc ngày đăng ký kết hôn và sinh ra


tính quyết định để xác định thời điểm thụ thai. Xác định đợc thời điểm sinh con
và thụ thai đơng nhiên xác định đợc thời gian mang thai.
+ Căn cứ vào khoảng thời gian hai bên nam nữ quan hệ tình dục: Do ngời mẹ
đứa con không tồn tại thời kỳ hôn nhân. Vì vậy, việc xác định ai là cha của ngời
con chỉ có thể xác định trong thời gian có thể thụ thai, ngời mẹ đứa con có quan

15hệ tình dục với ai.
+ Căn cứ vào mối quan hệ cha mẹ và con trên thực tế: Tức là căn cứ vào mối
quan hệ thực tế giữa các chủ thể.
Từ ba căn cứ trên, diện con chung khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp
bao gồm: con đợc thụ thai hoặc sinh ra do cha mẹ chung sống với nhau nh vợ
chồng không có đăng ký kết hôn; con đợc thụ thai hoặc sinh ra trong thời kỳ
hôn nhân nhng Toà án xác định ngời chồng không phải là cha của ngời con
đó và có ngời khác đợc xác định là cha của ngời con đó; con đợc thụ thai
hoặc sinh ra trong quan hệ kết hôn trái pháp luật và Toà án đã huỷ việc kết hôn đó.
2.2.2. Thủ tục xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân
hợp pháp và thực tiễn áp dụng
+ Thủ tục xác định cha, mẹ, con bao gồm thủ tục đăng ký khai sinh; thủ tục đăng
ký nhận cha, mẹ, con và thủ tục giải quyết tranh chấp về xác định cha, mẹ, con.
Trong thủ tục đăng ký nhận cha, mẹ, con, cần xác định rõ điều kiện nhận cha,
mẹ, con là phải có sự tự nguyện và không có tranh chấp, tuy nhiên, pháp luật
không có hớng dẫn cụ thể về vấn đề này. Pháp luật thực định qui định ngời đã
thành niên nhận cha, mẹ không đòi hỏi sự đồng ý của ngời hiện là mẹ, là cha,
theo quan điểm của chúng tôi, qui định này là không hoàn toàn phù hợp. Trong
thủ tục giải quyết tranh chấp xác định cha, mẹ, con, chúng tôi đi sâu nghiên cứu
quyền khởi kiện, chứng cứ chứng minh quan hệ cha mẹ và con, thủ tục hoà giải.
+ Thực tiễn xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp: So

liên quan đến những hậu quả pháp lý giữa các chủ thể trong đó có việc xác định
cha, mẹ, con. Trong phần này chúng tôi cũng dự liệu việc giải quyết hậu quả
pháp lý của việc mang thai hộ và đẻ thuê.
+ Căn cứ vào sự kiện sinh đẻ của ngời vợ trong cặp vợ chồng vô sinh: Ngời vợ
trong cặp vợ chồng vô sinh là ngời thực hiện toàn bộ quá trình sinh đẻ từ khi thụ
thai cho đến khi sinh con. Toàn bộ quá trình sinh đẻ này phải luôn đợc bắt đầu
trong thời kỳ hôn nhân chứ không thể xảy ra trớc ngày đăng ký kết hôn. Đây là
điểm khác biệt giữa căn cứ xác định cha, mẹ, con khi con đợc sinh ra theo chu
trình tự nhiên với căn cứ xác định cha, mẹ, con khi con đợc sinh ra theo phơng
pháp khoa học. Do đó, căn cứ dựa vào sự thừa nhận của cha mẹ đối với con sinh
ra trớc thời kỳ hôn nhân không đợc áp dụng trong việc xác định cha, mẹ, con
khi con sinh ra theo phơng pháp khoa học.
Đối với ngời phụ nữ độc thân không áp dụng căn cứ xác định cha, mẹ, con
nh căn cứ xác định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp. Việc
xác định cha, mẹ, con chỉ căn cứ vào sự tự nguyện của ngời phụ nữ độc thân đối
với việc sinh con theo phơng pháp khoa học và sự kiện sinh đẻ của chính ngời

17đó. Vì vậy, trong trờng hợp này chỉ có quan hệ mẹ con duy nhất.
Nh vậy, việc xác định cha, mẹ, con trong trờng hợp sinh con theo phơng
pháp khoa học không hoàn toàn dựa vào nguồn gốc sinh học của đứa trẻ. Đứa trẻ
có thể mang hoặc không mang mã gen của cả cha và mẹ. Chính cặp vợ chồng vô
sinh, ngời phụ nữ độc thân là ngời đã đem lại sự sống cho đứa trẻ và họ cũng
chính là ngời mong muốn có đứa trẻ chứ không phải là ngời cho tinh trùng,
cho trứng, cho phôi. Do vậy, pháp luật qui định không có bất cứ sự tồn tại nào
quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa ngời cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với đứa
trẻ.
Việc xác định cha, mẹ, con trong trờng hợp sinh con theo phơng pháp khoa

Chơng 3
Phơng hớng và giảI pháp hoàn thiện pháp luật về
xác định cha, mẹ, con

3.1.
Phơng hớng hoàn thiện pháp luật về xác định
cha, mẹ, con
3.1.1. Pháp luật về xác định cha, mẹ, con phải là sự hiện thực hoá các
nguyên tắc luật định, đảm bảo tính khả thi trong việc nội luật hoá các
văn bản pháp luật quốc tế về quyền con ngời

Pháp luật về xác định cha, mẹ, con cần phải chi tiết hoá các qui định mang
tính nguyên tắc trong pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia để nhằm hiện thực
hoá các quyền cơ bản của cá nhân mà đặc biệt là quyền và lợi ích của trẻ em.
Mục tiêu cần đặt ra là phải hoàn thiện pháp luật về xác định cha, mẹ, con khi cha
mẹ có hôn nhân hợp pháp, khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp và trong
trờng hợp sinh con theo phơng pháp khoa học.
3.1.2. Pháp luật về xác định cha, mẹ, con phải là sự kết hợp hài hoà lợi
ích của các chủ thể, đồng thời, nâng cao đợc ý thức và trách nhiệm
của mỗi thành viên trong gia đình đối với gia đình và xã hội
Pháp luật về xác định cha, mẹ, con cần qui định cụ thể, chặt chẽ và toàn diện
hơn để ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các chủ thể, buộc họ phải gánh chịu
những hậu quả khi thực hiện hành vi lệch chuẩn của mình trong những trờng
hợp cụ thể. Mục tiêu cần đặt ra là pháp luật về xác định cha, mẹ, con phải xác
định rõ hậu quả pháp lý cũng nh quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể trong việc
xác định cha, mẹ, con; bổ sung thêm quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên
quan tham gia vào quá trình đăng ký nhận cha, mẹ, con khi có những điều kiện
nhất định; qui định những chế tài nghiêm khắc với những chủ thể có hành vi trốn
tránh trách nhiệm trong quan hệ về xác định cha, mẹ, con.


hôn nhân đợc tính bắt đầu từ thời điểm các bên không còn vi phạm điều kiện
kết hôn nữa.
+ Thời gian mang thai tối đa và tối thiểu cần đợc xác định cụ thể trong những
trờng hợp đặc biệt:

Thời kỳ mang thai tối thiểu là 180 ngày, tối đa là 300 ngày. Thời 20điểm thụ thai đợc tính từ ngày thứ 180 đến ngày thứ 300 từ ngày sinh đứa trẻ ngợc
trở lại. Con sinh ra trong vòng 300 ngày, kể từ ngày ngời chồng chết hoặc từ
ngày bản án, quyết định của Toà án xử cho vợ chồng ly hôn có hiệu lực pháp luật
đợc xác định là con chung của hai ngời. Ngày ngời chồng chết là ngày xảy ra
cái chết về mặt thực tế; nếu ngời chồng hoặc ngời vợ bị tuyên bố chết thì thời
điểm bắt đầu tính thời gian 300 ngày sẽ là ngày bắt đầu không có tin tức, ngày
xảy ra tai nạn thảm hoạ thiên tai, ngày bắt đầu biệt tích trong chiến tranh. Trong
trờng hợp ngời bị tuyên bố mất tích trở về, thời điểm bắt đầu tính thời gian 180
ngày hay 300 ngày là ngày ngời đó xuất hiện và chung sống tiếp tục với ngời
vợ hoặc ngời chồng của họ. Thời gian này cũng áp dụng đối với trờng hợp
ngời vợ hoặc ngời chồng bị tuyên bố là chết trở về mà ngời chồng hoặc vợ
cha kết hôn với ngời khác.
+ Luật HN&GĐ năm 2000 có thể chia chế định xác định cha, mẹ, con thành các
phần với các điều luật về xác định cha, me, con trong hôn nhân hợp pháp, xác
định cha, mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp; xác định cha, mẹ, con
trong trờng hợp sinh con theo phơng pháp khoa học.
* Pháp luật về xác định cha, mẹ, con cần bổ sung những căn cứ xác định cha,
mẹ, con khi cha mẹ không có hôn nhân hợp pháp và những vấn đề pháp lý có
liên quan

hợp mà các bên chủ thể thay đổi ý chí tự nguyện sinh con theo phơng pháp khoa
học trong quá trình thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nh sau: Vợ chồng có đăng
ký kết hôn hợp pháp do một trong hai bên bị vô sinh hoặc ngời chồng bị chất
độc màu da cam, bị nhiễm HIV; nếu ngời chồng trong cặp vợ chồng vô sinh
chết, bị mất tích, bị mất năng lực hành vi dân sự nhng trớc đó đã thể hiện ý chí
bằng văn bản muốn sinh con theo phơng pháp khoa học thì việc lu giữ tinh
trùng của ngời chồng, lu giữa phôi để sinh con theo phơng pháp khoa học do
ngời vợ quyết định. Trừ trờng hợp trớc khi chết ngời chồng đã để lại di chúc
thể hiện ý chí không muốn tiếp tục sinh con theo phơng pháp khoa học.
+ Xác định con chung của vợ chồng trong trờng hợp sinh con theo phơng pháp
khoa học: Trong trờng hợp đang tiến hành sinh con theo phơng pháp khoa học
mà ngời chồng chết, đứa trẻ khi sinh ra là con chung của hai ngời cho dù thời
điểm sinh con quá 300 ngày kể từ khi ngời chồng chết. Nếu ngời chồng đã thể
hiện ý chí bằng văn bản hoặc di chúc không tiến hành sinh con theo phơng pháp
khoa học trớc khi chết mà ngời vợ vẫn tự ý thực hiện việc sinh con theo phơng
pháp khoa học thì đứa con đó không đợc xác định là con chung của hai ngời đã
từng là vợ chồng, cho dù đứa trẻ đợc sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ khi ngời
chồng chết.
+ Cần qui định cụ thể các trờng hợp đợc xác định lại quan hệ cha mẹ và con 22trong trờng hợp sinh ra theo phơng pháp khoa học. Chẳng hạn, ngời vợ tự ý
thực hiện việc sinh con theo phơng pháp khoa học không có sự đồng ý của
ngời chồng.
* Pháp luật cần qui định cụ thể hậu quả pháp lý của việc xác định cha, mẹ,
con
+ Các qui định của pháp luật về cấp dỡng sẽ đợc áp dụng khi có đủ điều kiện


bắt buộc.
* Cần giải thích một số thuật ngữ có liên quan đến việc đăng ký nhận cha, mẹ,
con
+ Bổ sung hộ tịch là ghi thêm những thông tin còn thiếu của một cá nhân vào
giấy tờ hộ tịch; cải chính hộ tịch là chỉnh sửa lại những nội dung đã đợc đăng
ký nhng bị sai sót trong giấy tờ hộ tịch; thay đổi hộ tịch là ghi lại vào giấy tờ hộ
tịch những thông tin khác với những thông tin trớc đây đã đăng ký theo những
căn cứ pháp lý nhất định.
+ Tự nguyện và không có tranh chấp là ngoài sự đồng ý của những chủ thể trong
quan hệ cha con, mẹ con, phải có sự đồng ý của các chủ thể có liên quan
3.2.3. Hoàn thiện thủ tục xác định cha, mẹ, con trong pháp luật TTDS
+ Cần bổ sung quyền tham gia tố tụng độc lập của ngời cha, ngời mẹ cha
thành niên (từ đủ 15 tuổi trở lên) trong việc xác định con hay xác định lại quan
hệ cha mẹ và con.
+ Cần hớng dẫn cụ thể về việc sử dụng kết luận giám định ngoài tố tụng trong
việc giải quyết việc xác định cha, mẹ, con.
+ Cần hớng dẫn cụ thể về thời điểm khôi phục năng lực chủ thể đối với ngời bị
tuyên bố mất tích và bị tuyên bố chết trở về.
+ Khi tiến hành hoà giải, Toà án phải căn cứ vào những chứng cứ xác thực chứng
minh quan hệ cha mẹ và con.
24Kết luận
Kết luậnKết luận
Kết luận

hội; pháp luật về xác định cha, mẹ, con luôn phải đợc đặt trong mối quan hệ với
các mảng pháp luật khác, đảm bảo tính khả thi trong điều kiện hội nhập kinh tế

25quèc tÕ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status