LỜI MỞ ĐẦU
Thực phẩm là một trong những mặt hàng thiết yếu có vai trò đặc biệt quan
trọng đối với đời sống con người. Sau hơn hai mươi năm đổi mới, nhờ những cải
cách hợp lý, nền kinh tế nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Việt Nam từ
một nước nghèo đói, phải nhập khẩu lương thực đã trở thành nước xuất khẩu
lương thực đứng thứ hai trên thế giới, nền kinh tế nhiều năm liền đạt mức tăng
trưởng cao- trung bình trên 6,5%/năm, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.
Mức sống ngày càng nâng cao dẫn tới nhu cầu về thực phẩm không chỉ là số
lượng mà còn có sự đòi hỏi cao về mặt chất lượng. Hiện nay nước ta đã là thành
viên của tổ chức thương mại thế giới WTO và đặc biệt 1/1/2009 Việt Nam phải
tiến hành mở cửa thị trường bán lẻ hàng hoá. Điều đó đặt ra yêu cầu đối với hệ
thống phân phối bán lẻ trong nước không những phát triển theo chiều rộng mà
cần phát triển theo chiều sâu. Xuất phát từ lý do đó em đã mạnh dạn lựa chọn
nghiên cứu đề tài:
“ Phát triển hệ thống phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm trên địa bàn
Hà Nội ”
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là nghiên cứu các thực trạng hệ thống phân
phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm trên địa bàn Hà Nội, từ đó đưa ra các giải pháp
nhằm phát triển hệ thống này.
Hiện nay thủ đô Hà Nội đã được mở rộng, nhưng do điều kiện có hạn nên
em xin giới hạn và tập trung chủ yếu vào khu vực Hà Nội khi chưa mở rộng. Đối
tượng nghiên cứu chính là các chợ tryền thống, các trung tâm thương mại, siêu
thị, chuỗi cửa hàng hiện đại, các cửa hàng nhỏ lẻ và các quán bán rong. Trong
quá trình nghiên cứu em sử dụng kết hợp cả hai phương pháp : Phương pháp
nghiên cứu tại bàn và quan sát điều tra thực tế. Trong đó chủ yếu là phương
pháp nghiên cứu tại bàn.
Kết cấu của đề tài gồm có 3 chương :
1
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về hệ thống phân phối bán lẻ mặt
hàng thực phẩm.
Chương 2: Thực trạng hệ thống phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm trên
Nếu căn cứ vào mức độ chế biến của thực phẩm thì thực phẩm bao gồm
thực phẩm nguyên xơ và thực phẩm đã chế biến.
Thực phẩm nguyên xơ là các loại thực phẩm chưa trải qua quá trình
chế biến như: thịt tươi sống, cá, rau xanh, trứng…
Thực phẩm đã chế biến là các loại thực phẩm đã trải qua quá trình tác
động, chế biến của con người như: Thịt hộp, cá hộp, cá đông lạnh, nước ép
hoa quả, sữa hộp…
3
Thịt thường chứa nhiều chất béo, rau muống chứa nhiều chất xơ, trứng thì có
đặc điểm dễ vỡ,...Mỗi một loại thực phẩm cụ thể có những đặc điểm riêng khác
nhau tuy nhiên chúng đều có một số đặc điểm chung sau đây:
• Thứ nhất tất cả các loại thực phẩm con người đều ăn được. Thực
phẩm chính là thứ không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày như: thịt, rau,
hoa quả…
• Thứ hai là thực phẩm chứa các dinh dưỡng, các vitamin, các chất cần
thiết giúp con người có thể tồn tại và phát triển. Cơ thể chúng ta cần thiết
phải có đa dạng các loại vitamin, các chất dinh dưỡng, chất khoáng. Thịt là
một loại thực phẩm chứa nhiều chất đạm và chất béo giúp cung cấp năng
lượng cho cơ thể; hoa quả bổ sung những vitamin… Các loại thực phẩm đã
đáp ứng được các nhu cầu của cơ thể.
• Đặc điểm thứ ba thể hiện tính khan hiếm của thực phẩm. Để tạo ra
một lượng thực phẩm cụ thể nào đó thì con người phải mất một khoảng thời
gian tương đối dài. VD: Để có được 10kg thịt lợn thì trước hết chúng ta phải
mất ít nhất vài tháng từ khâu lấy giống, chăn nuôi đến giết mổ; để có được
1kg nhãn chúng ta phải mất ít nhất từ 6thang tới vài năm để tiến hành trồng
cây và thu hoạch… Đặc điểm này đặt ra yêu cầu con người phải có kế hoạch
trong việc sản xuất và tiêu dùng thực phẩm.
• Khác với các loại vật phẩm tiêu dùng khác, khoảng thời gian sử dụng
của mặt hàng thực phẩm là tương đối ngắn, đặc biệt là các loại thực phẩm tự
nhiên chưa qua chế biến. Chính vì vậy, vấn đề chế biến thực phẩm và bảo
thế giới cho thấy ngành công nghiệp chế biến thực sự phát triển và đong góp
một phần đáng kể trong cơ cấu GDP.
• Thực phẩm là mặt hàng đặc biệt trong quá trinh lưu thông giữ vai trò
quan trọng đối với sự ổn định của một quốc gia. Tình hình Việt Nam những
năm đầu thập niêm 80 là một trong những ví dụ điển hình. Thực phẩm của
5
chúng ta lúc đó hết sức thiếu thốn và chất lượng thấp dẫn tới tình trạng khủng
hoảng trầm trọng. Thật may mắn. Chính phủ đã có những cải cách kịp thời
giúp nền kinh tế phát triển nói chung và mặt hàng lương thực thực phẩm nói
riêng đã đáp ứng tốt nhu cẩu của nhân dân. Đất nước ta đã thoát ra khỏi
khủng hoảng,dần dần đi vào quĩ đạo phát triển.
1.1.2. Hệ thống phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm.
Hệ thống phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm thông thường bao
gồm ba loại hình chủ yếu.
1.1.2.1. Chợ truyền thống.
a) Khái niệm:
Chợ là nơi có diện tích mặt bằng rộng lớn tập trung các thương
nhân, khách hàng để tiến hành trao đổi hàng hoá.
b) Phân loại.
Có nhiều cách phân loại chợ khác nhau nhưng thông thường người ta căn
cứ vào hai tiêu chí:
Dựa vào chủng loại hàng hoá thì chợ bao gồm chợ chuyên doanh và chợ
tổng hợp
Chợ chuyên doanh là loại chợ chỉ kinh doanh một loại hàng hoá
Vd: chợ trái cây, chợ vải, chợ hoa…
Chợ tổng hợp là loại chợ kinh doanh đa dạng chủng loại hàng
hoá. Vd: chợ Mơ, chợ Kim Liên…
Dựa vào quy mô diện tích thì có các loại chợ:
Chợ loại 1: là những chợ có diện tích lớn hơn 10000m2
Chợ loại 2: là những chợ có diện tích từ 5000m2-10000m2
Các chuỗi hệ thống cửa hàng hiện đại được hiểu là một hệ thống các
7
cửa hàng của các doanh nghiệp,các ông chủ tư nhân… được đầu tư trang
thiết bị hiện đại để tiến hành kinh doanh hàng hoá dịch vụ. Vd: chuỗi cửa
hàng tiện ích của Hapro, Fivimart…
Các chuỗi cửa hàng này thường có quy mô diện tích nhỏ hơn và số
lượng quy cách chủng loại hàng hoá ít hơn siêu thị
1.1.2.3 Các cửa hàng nhỏ lẻ và các quán bán rong.
Các cửa hàng nhỏ lẻ và các quán bán rong là hệ thống phân phối bán
lẻ với quy mô nhỏ và số lượng hàng hoá ít, hoạt động một cách đơn lẻ và thiếu
tính liên kết.
Đây là loại hình phân phối bán lẻ có sự tồn tại và phát triển từ rất lâu đời.
Mặc dù quy mô nhỏ và hoạt động đơn lẻ nhưng hình thức kinh doanh này vẫn
tồn tại và phát triển do tính tiện ích mà nó đem lại.
1.1.2.4. Đặc điểm chung của hệ thống phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm
Do mặt hàng thực phẩm có những tính chất, đặc điểm riêng nên hệ thống
phân phối bán lẻ thực phẩm ngoài các đặc điểm của hệ thống phân phối bán lẻ
nói chung, chúng còn có một số đặc điểm sau:
• Thứ nhất hệ thống phân phối bán lẻ thực phẩm thường phải đáp
ứng được yêu cầu bảo quản thực phẩm. Khi chúng ta vào một siêu thị bán hàng
thực phẩm đặc biệt là thực phẩm tươi sống hoặc đông lạnh thì các siêu thị này
luôn có hệ thống máy lạnh, hệ thống sục khí trong bể nước để đảm bảo đuợc
chất lượng thực phẩm.
• Đặc điểm thứ hai là mức lưu độ chuyển hàng hoá thực phẩm là
nhanh, thời gian ngưng đọng hàng là tương đối ngắn. Do hàng thực phẩm có
thời gian sử dụng tốt nhất ngắn nên các chủ cửa hàng luôn cố gắng đẩy nhanh
việc tiêu thụ hàng hoá. Một ví dụ cụ thể là cửa hàng bánh Như Lan thường bán
8
bánh vào buổi chiều tối với giá thấp hơn vào buổi sáng để bán hết lượng bánh
còn tồn.
Lý do thứ năm, chúng ta hãy đặt ra câu hỏi: Nếu như chỉ có bán buôn mà
không có bán lẻ thì sẽ ra sao? Một người muốn ăn thịt bò thì phải mua cả một
con bò. Anh ta sẽ làm gì với con bò đó? Hệ thống phân phối bán lẻ giúp khách
hàng mua đúng được chủng loại hàng hoá, số lượng, chất lượng hàng hóa mình
cần.
Việt Nam nói riêng và các quốc gia trên thế giới nói chung, việc phát triển
hệ thống phân phối bán lẻ thực phẩm góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển,
đóng góp một lượng đáng kể trong tổng GDP. Không chỉ có vậy, hệ thống này
giúp tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm giúp giải quyết tình trạng thất nghiệp
góp phần ổn định dân sinh. Đây cũng chính là một lý do quan trọng cho việc
phát triển hệ thống phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm.
Từ việc phân tích các lý do trên giúp chúng ta đi đến kết luận: Việc phát
triển hệ thống phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm ở nước ta là một tất yếu
khách quan.
1.2. Nội dung phát triển hệ thống phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm.
Phát triển hệ thống phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm bao gồm hai
nội dung quan trọng là: Phát triển hệ thống phân phối bán lẻ thực phẩm theo
chiều rộng và phát triển theo chiều sâu.
Phát triển theo chiều rộng là sự gia tăng về quy mô và số lượng.
Phát triển theo chiều sâu là sự gia tăng về mặt chất lượng trên cơ sở quy
mô và số lượng không đổi.
Sau đây chúng ta sẽ nghiên cứu hai nội dung này trong từng hệ thống
phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm cụ thể.
1.2.1. Về các chợ truyền thống
10
1.2.1.1. Phát triển hệ thống chợ theo chiều rộng
Trước hết chúng ta cần mở rộng quy mô các chợ hiện có. Chợ là
nơi tập trung rất đông các chủ thương và khách mua hàng, các sản phẩm hàng
hoá thường được bày bán ngay tại sạp. Thực tế hiện nay số lượng quy cách
triển đầu tiên chính là quy hoạch lại không gian chợ. Quy hoạch lại các hàng
quán, đường đi, khu để xe, khu vệ sinh…, cần có những nơi đổ giác để tránh
tình trạng vứt rác bừa bãi gây ô nhiễm môi trường. Chúng ta cần tiến hành cải
tạo và tận dụng thêm những khoảng không gian trước đây chưa sử dụng đến
hoặc sử dụng chưa hiệu quả để tiết kiệm diện tích. Thực hiện tốt nội dung này sẽ
thay đổi được bộ mặt các chợ hiện nay, biến sự rối den ách tắc, mất vệ sinh
trước đây thành nơi gọn gàng, sạch sẽ.
Nội dung phát triển thứ hai thể hiện ở việc nâng cao chất lượng hàng hoá
dich vụ trong chợ. Chất lượng hàng hoá trong chợ, đặc biệt là mặt hàng thực
phẩm liệu có đảm bảo? Khi đoàn kiểm tra của bộ y tế tiến hành kiểm tra đột xuất
mặt hàng thực phẩm tại các chợ như: chợ Mơ, chợ Kim Liên thì có rất nhiều
hàng thịt không có dấu kiểm dịch, nhiều bánh phở có chưá hàn the… Khách
hàng lo lắng về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm là có cơ sở và điều này sẽ
ảnh hưởng tới việc phát triển hệ thống chợ. Việc nâng cao chất lượng hàng hoá
sẽ tăng niềm tin nơi người tiêu dùng, giúp việc kinh doanh của các chủ thương
tốt hơn từ đó tạo điều kiện phát triển hệ thống chợ
Nội dung thứ ba là thành lập các ban quản lý chợ, các đội kiểm định chất
lượng thực phẩm. Các đội, các ban này sẽ đôn đốc, kiểm tra việc kinh doanh của
các chủ thương, buộc họ phải nghiêm chỉnh chấp hành những quy định đặt ra
góp phần nâng cao chất lượng hàng hoá, phát triển hệ thống chợ.
1.2.2. Về các trung tâm thương mại, các siêu thị và các chuỗi cửa hàng hiện đại.
1.2.2.1. Phát triển theo chiều rộng
Trong những năm gần đây mức sống nhân dân được nâng cao rõ rệt, các
trung tâm, các đô thị được xây dựng mới làm phát sinh nhu cầu cần phát triển hệ
thống phân phối bán lẻ hiện đại. Vấn đề đầu tiên đặt ra là mở rộng quy mô các
12
siêu thị, các trung tâm thương mại. Siêu thị, trung tâm thương mại giống như tên
gọi của nó đây là hình thức kinh doanh hiện đại với đa dạng chủng loại hàng hoá
hoặc kinh doanh chuyên sâu một mặt hàng. Để có thể tiến hành kinh doanh hiệu
quả thì hệ thống phân phối bán lẻ này đòi hỏi phải có quy mô, diện tích mặt
với mong muốn có dược sự tiện ích và chất lượng hàng hoá tốt hơn bên ngoài.
Chính vì vậy nâng cao chất lượng hàng hoá kết hợp với chính sách giá hợp lý sẽ
tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh phát triển.
Trong các hệ thống phân phối bán lẻ hiện đại thì nhân viên bán hàng hết
sức quan trọng.Cần đào tạo cho các nhân viên trong hệ thống không chỉ kiến
thức về sản phẩm hàng hoá mà còn nâng cao khả năng giao tiếp. Khách hàng sẽ
cảm thấy hài lòng vì dựoc phục vụ bởi đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, lịch sự
và sẽ tiến tới mua hàng nhiều hơn từ đó thúc đẩy hệ thống phát triển.
1.2.3. Về các cửa hàng nhỏ lẻ và các quán bán rong.
1.2.3.1. Phát triển theo chiều rộng.
Trong nền kinh tế thị trường thu nhập người dân tăng lên nhưng thời
gian đối với mọi người cũng trở nên quan trọng hơn. Các cửa hàng nhỏ lẻ và các
quán bán rong đã hình thành từ rất lâu nhưng ngày nay vẫn tồn tại và phát triển
do tính tiện lợi mà chúng mang lại. Chủ của hệ thống phân phối bán lẻ này
thường có số vốn kinh doanh rất hạn chế nên việc mở rộng quy mô cửa hàng là
rất khó khăn. Phát triển theo chiều rộng của hệ thống này chủ yếu là việc các
chủ thể kinh doanh đầu tư thêm mới các cửa hàng. Như vậy số lượng các cửa
hàng và quán bán rong sẽ tăng lên và tăng khả năng đáp úng nhu cầu của nhân
dân. Hiện nay do một số quán bán rong lấn chiếm lòng lề đường gây mất trật an
toàn giao thông, chính phủ đã có chính sách hạn chế quán bán rong trong một số
khu phố cho nên số lượng các quán bán rong có giảm, nhưng số lượng các cửa
hàng cố định vẫn gia tăng.
1.2.3.2. Phát triển theo chiều sâu.
Thứ nhất là cần đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị kĩ thuật cho hệ
14
thống phân phối bán lẻ này. Tuỳ từng điều kiện cụ thể của các chủ thương, của
từng loại hình phân phối (cửa hàng cố định hay di động) mà có sự đầu tư khác
nhau. Vd: Các cửa hàng bán thực phẩm đông lạnh sẽ đầu tư hệ thống máy lạnh
đẻ bảo quản thực phẩm ; quán bán rong đồ ăn nóng sẽ đầu tư dụng cụ giữ
nhiệt…
phái chính trị đối đầu, đất nước thường xuyên bạo loạn khiến cho việc khôi phục
và phát triển kinh tế hết sức khó khăn. Chính trị bất ổn, luật pháp thường xuyên
thay đổi khiến cho mức độ rủi do tăng cao, các nhà đầu tư không dám bỏ vốn ra.
Các hệ thống phân phối lương thực, thực phẩm ở đây rất kém phát triển, khiến
cho đời sống nhân dân hết sức khó khăn. Theo số liệu điều tra của một tổ chức
phi chính phủ thì có tới trên 60% dân số I Rắc là thiếu lương thực, thực phẩm.
Sự ổn định về chính trị khiến cho tình hình đất nước ít bị xáo trộn. Các
chính sách được ban hành sẽ ổn định hơn, ít bị thay đổi. Thị trường sẽ ít rủi do
hơn, các nhà đầu tư sẽ yên tâm đầu tư và hệ thống phân phối sẽ phát triển. Việt
Nam là một trong những ví dụ điển hình. Nhờ sự ổn định về chính trị, luật pháp
và những chính sách hợp lý, Việt Nam đã huy động được hàng chục tỉ đôla đầu
tư nước ngoài trong đó có cả đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Các nhà đầu tư
trong nước cũng yên tâm đầu tư vốn xây dựng các nhà máy xí nghiệp, các trung
tâm thương mại… Sau hơn hai mươi năm đổi mới kinh tế nước ta đã có bước
phát triển vượt bậc trong đó hệ thống phân phối bán lẻ mặt hàng thực phẩm hết
sức phát triển đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân.
1.3.2. Môi trưòng kinh tế vĩ mô.
Thương mại thực phẩm và một ngành nghề lĩnh vực kinh doanh trong
tổng thể nền kinh tế quốc dân. Nền kinh tế của một quốc gia phát triển sẽ thúc
đẩy các ngành kinh tế phát triển. Khi nền kinh tế tăng trưởng sẽ tăng thu nhập
của người dân dẫn đến các nhu cầu mới phát sinh, đồng thời cầu có khả năng
thanh toán cũng tăng lên. Trong các nhu cầu đó có nhu cầu về mặt hàng thực
phẩm, nhu cầu được hưởng thụ những mặt hàng chất lưọng cao và dịch vụ tiện
ích. Trong nền kinh tế thị trường, có cầu ắt có cung. Các nhà đầu tư, các doanh
16
nghiệp sẽ đầu tư phát triển hệ thống phân phối bán lẻ thực phẩm đáp ứng nhu
cầu khách hàng và thu lợi nhuận.
Các chính sách kinh tế vĩ mô sẽ giúp tạo điều kiện thuận lợi cho các
doanh nghiệp và nhà đầu tư. Chính sách về thuế, về lãi suất … giúp cho doanh
nghiệp có thể huy động tối đa được nguồn vốn cần thiết để phát triển hệ thống.
lý giúp hoạt động kinh doanh trở nên thuận lợi và tiến tới thành công.
1.3.4. Vấn đề nội tại của từng hệ thống.
Muốn phát triển hệ thống trước hết phải xem trong hệ thống của mình
đang tồn tại những vấn đề gi ? Những điểm mạnh điểm yếu ra sao ? Ví dụ cụ
thể đưa ra ở đây là hệ thống các siêu thị phân phối bán lẻ thực phẩm của Việt
Nam. Các siêu thị này có điểm mạnh là am hiểu thị trường trong nước. Các
doanh nghiệp nắm bắt được dân số, thu nhập, thị hiếu, tâm lý, văn hóa… của
người tiêu dùng từ đó có các chiến lược về giá, chiến lược sản phẩm phù hợp.
Bên cạnh đó chúng ta chủ động được nguồn hàng thực phẩm trong nước tạo điều
kiện thuận lợi cho quá trình kinh doanh. Tuy nhiên nội tại các siêu thị này còn
nhiều hạn chế. Tiềm lực về vốn các doanh nghiệp trong nước còn yếu, quy mô
các siêu thị còn nhỏ, trang thiết bị chưa thục sự hiện đại, hàng hoá chất lượng
chưa cao… Không chỉ hạn chế về đièu kiện vật chất, chúng ta còn thua kém các
doanh nghiệp nước ngoài ở trình độ, năng lực và kinh nghiệm quản lý, chất
lượng độ ngũ nhân viên. Doanh nghiệp muốn phát triển được theo chiều rộng
hay chiều sâu đều đòi hỏi yêu cầu về vốn, về nhân lực. Các vấn đề còn tồn tại
trong doanh nghiệp sẽ tác động ảnh hưởng trực tiếp tới việc phát triển hệ thống.
Sau khi nghiên cứu kĩ các vấn đề này sẽ giúp doanh nghiệp có phương hướng,
hành động phát huy các điểm mạnh, khắc phục những điểm yếu để phát triển
doanh nghiệp.
1.3.5. Thị trường và các đối thủ cạnh tranh.
Khi nói tới thị trường và đối thủ cạnh tranh chúng ta chủ yếu đề cập
tới các doanh nghiệp, các chủ thương bởi vì bản chất chợ được hình thành từ
nhiều cửa hàng nhỏ và trong nội bộ chợ cũng có sự cạnh tranh lẫn nhau. Thị
18