ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
BÀI TẬP NHÓM
MÔN: TÀI CHÍNH CÔNG
ĐỀ TÀI:
HIỆU QUẢ VÀ CÔNG BẰNG TRONG PHÂN PHỐI
GVHD : PGS.TS. NGUYỄN HOÀ NHÂN
LỚP : K26 TCNH.ĐN
SV THỰC HIỆN : NHÓM 2
Hiệu quả và công bằng trong phân phối Nhóm 2
Đà Nẵng, Tháng 02 - 2014
Mục Lục
Trang
Mục Lục Trang 2
1. Đặc điểm Tài chính công hiện đại, bản chất và chức năng tài chính công 3
2. Hiệu quả Pareto và điều kiện đạt hiệu quả trong tiêu dùng, sản xuất 11
2.1. Hiệu quả Pareto: 11
2.2. Điều kiện đạt hiệu quả trong tiêu dùng, sản xuất 13
3. Tối đa hóa hiệu quả xã hội trong nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo 13
3.1. Định lý thứ nhất kinh tế học phúc lợi 13
3.2. Thất bại thị truờng trong phân bổ nguồn lực 15
Thất bại của cạnh tranh 15
Yếu tố ngoại lai 19
Thị trường không hoàn hảo 21
Thất bại về thông tin: 24
Thất nghiệp, lạm phát, và mất cân bằng: 25
4. Công bằng, sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng 25
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Tài chính công Trang 2
hiện chính sách thuế có phân biệt ưu đãi với các loại hàng hóa, ngành nghề, các địa
phương để điều chỉnh cơ cấu kinh tế, ổn định giá cả thị trường, góp phần thúc đẩy
kinh tế phát triển cân đối. Đồng thời qua các khoản chi tiêu công, Nhà nước tiến hành
trợ cấp và chia sẻ những rủi ro với các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong các lĩnh
vực có lợi cho nền kinh tế. Về phương diện xã hội, bằng việc phối hợp chính sách
thuế và chính sách chi tiêu công, Nhà nước hướng vào thực hiện chính sách điều tiết
và phân phối thu nhập công bằng giữa các đối tượng trong xã hội. Về phương diện
quản lý, tài chính công hiện đại không nhất thiết luôn có sự cân bằng giữa thu và chi,
mà có thể hi sinh sự cân bằng này để góp phần đều chỉnh nên kinh tế vận hành theo
định hướng Nhà nước. Theo đó, khuôn khổ quản lý thu chi ngân sách không bị giới
hạn trong 1 năm mà phải gắn liền với kế hoạch phát triển kinh tế trung và dài hạn.
+ Tài chính công sử dụng nhiều công cụ khác nhau để tạo lập nguồn lực cho
Nhà nước.
Do chi tiêu công có quy mô ngày càng tăng nên Nhà nước phải sử dụng nhiều
công cụ để tạo lập nguồn lực tài chính. Thuế không còn là công cụ duy nhất như trong
thời kỳ tài chính cổ điển. Bên cạnh thuế, Nhà nước thường sử dụng công trái. Khoa
học tài chính công hiện đại đã dần dần xây dựng nền tảng mới về quy mô hoạt động
nguồn lực của Nhà nước. Khi đưa thêm các công cụ tài chính để gia tăng nguồn lực
cho Nhà nước, muốn cho hợp lý, muốn cho khoa học yêu cầu Nhà nước phải giải
quyết bài toán rất phức tạp, trong đó phải xác lập biến cố về GDP của nền kinh tế, khả
năng đóng góp của xã hội, các yếu tố động lực của tăng trưởng kinh tế. Có thể nói, tài
Tài chính công Trang 4
Hiệu quả và công bằng trong phân phối Nhóm 2
chính công vừa là yếu tố chủ động vừa thụ động, có ảnh hưởng đến các hoạt động
kinh tế, nhưng ngược lại cũng bị các yếu tố kinh tế chi phối mạnh mẽ.
+ Cải cách tài chính công không xuất phát từ quốc gia riêng lẻ mà phải tính
đến các yếu tố của toàn cầu hóa.
Sự hội nhập yêu cầu các quốc gia cải cách và tổ chức lại thể chế tài chính công
ngày càng đạt được quy chuẩn của quốc tế về chính sách thuế, chính sách quản lý nợ,
chi tiêu cũng phải hướng tới kết quả- đầu ra nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực khu
cho tạo lập nguồn lực tài chính với quy mô thích hợp trong sự cân bằng về lợi ích kinh
tế với khu vực tư để nhằm tạo ra động lực thúc đẩy kinh tế phát triển. Nếu vì nhu cầu
chi tiêu công ngày càng tăng, Nhà nước lại thực hiện chính sách tập trung cao độ
nguồn lực tài chính của xã hội, thì đều này không những làm triệt tiêu động lực kinh tế
của khu vực tư mà còn tăng thêm gánh nặng cho xã hội. Cũng cần thấy rằng, việc khu
vực tư đóng nộp thuế cho Nhà nước thể hiện một sự hy sinh, một phần thu nhập của
họ trong tiêu dùng hay đầu tư. Vì vậy, chi tiêu công và sự can thiệp của Nhà nước vào
kinh tế cần phải tạo ra những lợi ích nhất định và ít ra là phải đủ để bù lại sự hy sinh
của khu vực này.
-Bản chất chính trị
Bản chất chính trị của tài chính công bắt nguồn từ sự quan tâm của chính phủ đến
sự phân phối chiếc bánh kinh tế và các mục tiêu nâng cao phúc lợi, xã hội: an sinh xã
hội, giáo dục, y tế….
Tài chính công từ cội nguồn xa xưa đã gắn bó chặt chẽ với quyền lực chính trị
của Nhà nước. Thực tiễn hệ thống chính trị là yếu tố cơ bản và chi phối toàn bộ hoạt
Tài chính công Trang 6
Hiệu quả và công bằng trong phân phối Nhóm 2
động tài chính công. Tài chính công không thể vận hành bên ngoài khuôn khổ chính
trị, vì không có chính trị thì không thể nào thỏa mãn được các mục tiêu có tính xã hội.
Nói khác đi, với quyền lực chính trị giúp cho Chính phủ có được nguồn lực tài chính
công, qua đó trạng thái các nhu cầu chi tiêu công nhằm đảm bảo thực hiện các mục
tiêu xã hội. Nhưng quyền lực đó phải thống nhất với sở thích của xã hội. Khó khăn
lớn nhất đặt ra ở đây là làm thế nào để Chính phủ có thể tổng hợp sở thích của các cá
nhân chuyển thành chính sách cung cấp công. Đôi khi cũng có những thất bại của
Chính phủ.
Tài chính công thuộc sở hữu của Nhà nước và là công cụ để thực hiện các nhiệm
vụ kinh tế- xã hội mà Nhà nước đã nhận, trong đó tái phân phối và đảm bảo công bằng
là nhiệm vụ trọng tâm. Trong nền kinh tế hiện đại, các nhiệm vụ kinh tế- xã hội của
Nhà nước trong từng thời kỳ phát triển bở cơ quan quyền lực cao nhất- đó là Quốc hội
(nền dân chủ đại diện). Quốc hội là chủ thể duy nhất phát triển kinh tế xã hội của đất
- Đánh giá hiệu quả của chính sách huy động nguồn lực tài chính.
- Đánh giá phản ứng của thị trường đối với chính sách thu công.
Tuy nhiên, chính sách huy động nguồn lực của tài chính công cần có sự giới hạn
nhất định về quy mô, bởi lẽ:
Lý thuyết tài chính đã khẳng định: cơ sở kinh tế cho việc hình thành nguồn thi tài
chính công chủ yếu là bắt nguồn từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của nền
kinh tế. Cho nên, một sự tăng lên nguồn thu từ thuế chỉ là kết quả trực tiếp của quá
trình tăng trưởng kinh tế, biểu hiện ra là thu nhập bình quân đầu người tăng. Nếu thu
Tài chính công Trang 8
Hiệu quả và công bằng trong phân phối Nhóm 2
thuế không tính đến mức độ tăng GDP thì sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình tiết
kiệm đầu tư của doanh nghiệp và dân cư, do đó gây kìm hãm đến sự phát triển và phát
triển nền kinh tế- xã hội.
b. Chức năng phân bổ nguồn lực tài chính
Tiếp liền theo chức năng huy động là chức năng phân bổ nguồn lực của tài chính
công. Chức năng phân bổ nguồn lực tài chính của tài chính công thể hiện qua việc sắp
xếp, lựa chọn và đánh đổi giữa các nhu cầu chi tiêu công của Nhà nước trong sự giới
hạn của nguồn lực tài chính công để hướng vào thực hiện theo những ưu tiên phát
triển kinh tế xã hội đã được hoạch định. Nói khác đi, qua chức năng phân bổ nguồn
lực của tài chính công, các quỹ tiền tệ chuyên dùng được hình thành với những quy
mô nhất định tương ứng với nhu cầu chi tiêu công. Mức phân bổ theo chi tiêu được
phản ánh trong dự toán ngân sách hàng năm và khuôn khổ ngân sách trung hạn.
Về khía cạnh kỹ thuật, chức năng phân bổ nguồn lực của tài chính công thể hiện
qua việc lập kế hoạch chiến lược chi tiêu. Kế hoạch này gồm 2 phần:
(i) quyết định phân bổ cơ bản, bao gồm lựa chọn các danh mục chi tiêu để
tài trợ.
(ii) xác lập các khoản mục ưu tiên, lựa chọn và đánh đổi các mục tiêu trong
sự so sánh các nguồn lực sẵn có.
c. Chức năng tái phân phối thu nhập
Trên cơ sở thực hiện chức năng huy động và chức năng phân bổ nguồn lực, tài
Hiệu quả và công bằng trong phân phối Nhóm 2
2. Hiệu quả Pareto và điều kiện đạt hiệu quả trong tiêu dùng, sản xuất.
2.1. Hiệu quả Pareto:
Khi bàn luận về tính hiệu quả chung của nền kinh tế, kinh tế học hiện đại
thường sử dụng khái niệm hiệu quả Pareto mà nhà kinh tế học người Italia Wilfredo
Pareto đưa ra trong cuốn cẩm nang về kinh tế chính trị học được xuất bản năm 1909.
Theo Pareto, một trạng thái kinh tế được coi là có hiệu quả (được gọi là hiệu quả
Pareto) nếu từ đó người ta không có khả năng dịch chuyển tới một trạng thái khác sao
cho một nhóm người nào đó có thể trở nên khá giả hơn, đồng thời những người còn lại
ít nhất cũng không bị thiệt hại gì. Nói một cách khác, khi đã ở trạng thái có hiệu quả
Pareto, người ta không thể cải thiện lợi ích của một nhóm người nào đó (làm cho họ
trở nên khá giả hơn) mà lại không làm thiệt hại đến những người còn lại.
Ta có thể minh hoạ định nghĩa trên bằng cách sử dụng hình 1, mô tả các giới hạn
phân bổ hàng hóa giữa các nhóm xã hội. Giả sử trong xã hội có hai nhóm người X và
Y. Đường giới hạn AB cho biết số lượng hàng hóa tối đa mà nền kinh tế có thể tạo ra
được cho một nhóm khi một số lượng hàng hóa nhất định đã được sản xuất và phân bổ
cho nhóm kia. Những điểm nằm trên đường giới hạn AB đều là những điểm hiệu quả
Pareto. Chẳng hạn, xét một điểm E bất kỳ nằm trên đường giới hạn AB. Từ E, chúng
ta không thể dành nhiều hàng hóa hơn cho X mà lại không giảm số hàng hóa dành cho
Y và ngược lại. Trong khi đó, những điểm nằm phía trong đường giới hạn lại không
phải là điểm hiệu quả. Từ một điểm như điểm F (nằm trong đường giới hạn), bằng
cách dịch chuyển lên trên hoặc sang phải hoặc vừa sang phải lẫn lên trên song chưa đi
ra ngoài đường giới hạn, ta hoàn toàn có thể cải thiện lợi ích của X (hoặc của Y) mà
không buộc Y (hoặc X) phải nghèo đi.
Tài chính công Trang 11
Hiệu quả và công bằng trong phân phối Nhóm 2
Có thể mở rộng cách hiểu "khá giả hơn", hoặc "nghèo đi". Chẳng hạn, trong phân
bổ nguồn lực để sản xuất hai loại hàng hóa X và Y, khi sản lượng X tăng lên ta coi
điều đó tương đương với X trở nên "khá giả hơn", còn nếu sản lượng X giảm được coi
tương đương với X trở nên "nghèo đi". Với cách hiểu quy ước như vậy, ta dễ dàng
3. Tối đa hóa hiệu quả xã hội trong nền kinh tế cạnh tranh hoàn hảo
3.1. Định lý thứ nhất kinh tế học phúc lợi
Kinh tế học phúc lợi khẳng định rằng các điểm cân bằng thị trường là hiệu quả
Pareto. Trong một nền kinh tế trao đổi , điều kiện đủ để định lý thứ nhất đúng đó là ý
thích được thỏa mãn với mọi mức độ. Định lý thứ nhất của kinh tế học phúc lợi cũng
đúng đối với mọi nền kinh tế sản xuất với những hàm sản xuất có tính chất khác nhau.
Định lý cũng giả sử thị trường và thông tin hoàn hảo. Đối với các thị trường chịu ảnh
hưởng bởi ngoại tác, vẫn đạt điểm cân bằng nhưng điểm này không hiệu quả.
Tài chính công Trang 13
Hiệu quả và công bằng trong phân phối Nhóm 2
Định lý này mang đến thông tin hữu ích cho các tác nhân kinh tế vì nó chỉ ra các
nguyên nhân dẫn đến không hiệu quả của các thị trường. Với các giả thiết ở trên, bất
cứ điểm cân bằng thị trường nào cũng hiệu quả. Điểm cân bằng nào không hiệu quả là
do thất bại thị trường.
Định lý thứ nhất cho rằng, với những điều kiện nhất định, thị trường cạnh tranh
dẫn đến phân bổ các nguồn lực với một đặc tính rất đặc biệt: không có sự bố trí lại
nguồn lực (không thể thay đổi trong sản xuất và tiêu dùng), cho nên ai đó có thể có
lợi, đồng thời lại làm cho ai đó bị thiệt. Chắc chắn là có nhiều cách phân bổ nguồn lực
khác mà chúng có thể làm cho một hoặc nhiều người hơn có lợi. Nhưng trong mỗi
một trường hợp đó có một số người vẫn có thể bị thiệt. Các phân bổ nguồn lực có đặc
tính không làm cho ai được lợi hơn, cũng không có ai bị thiệt, được gọi là hiệu quả
Pareto (hay tối ưu Pareto), mang tên nhà kinh tế xã hội học Vilfredo Pareto (1848-
1923). Hiệu quả Pareto là cái mà các nhà kinh tế thường ngụ ý khi họ bàn về hiệu quả.
Có một cách trình bày hiệu quả Pareto của nền kinh tế bằng biểu đồ. Hãy cho một nền
kinh tế đơn giản với hai người mà chúng ta gọi là Robinson Crusoe và Friday. Giả sử
rằng chúng ta xác định rõ một người khá giả ở mức nào đó và gọi mức đó là độ hữu
dụng, vậy thì chúng ta hãy đặt câu hỏi: với độ hữu dụng đã xác định của một người,
chúng ta có thểlàm cho người kia cũng khá giả được không? Có thể đạt độ hữu dụng
cao đến mức nào? Đường cong cho thấy mức độ hữu dụng tối đa mà một người có thể
đạt được với mức độ hữu dụng của người kia đã xác định, được gọi là đường khả năng
cạnh tranh hay không, nảy sinh từ vấn đề xác định thị trường. Hãng Dupont có thể
chiếm độc quyền về giấy bóng kính, hay nói rộng ra là các loại chất liệu bóng trong.
Tài chính công Trang 15
Hiệu quả và công bằng trong phân phối Nhóm 2
Nhưng có các loại giấy gói khác, như giấy mầu nâu có thể thay thế được và bắt buộc
Dupont phải cạnh tranh. Khi chi phí vận tải cao thì thị trường tương ứng có thể bị hạn
chế về mặt địa lý. Đồng thời, hệ thống quyền sáng chế cho các nhà sáng tạo độc quyền
đối với những phát minh của họ trong một thời gian nhất định. Trong những trường
hợp khác, có những hàng rào hạn chế tham gia, nảy sinh từ cái mà các nhà kinh tế quy
cho là tăng lợi nhuận theo quy mô. Đó là những trường hợp khi chi phí sản xuất (cho
một đơn vị sản phẩm) giảm theo quy mô sản xuất. Sẽ ít đắt hơn nếu có máy phát điện
lớn hơn phục vụ một quận, hơn là cho mỗi phường một máy nhỏ. Do đó, có thể sẽ
hiệu quả hơn nếu chỉ có một máy phát điện phục vụ cho cả một thị trường địa phương.
Tương tự, có thể sẽ hiệu quả hơn nếu chỉ có một công ty điện thoại phục vụ cho một
thị trường, hay một công ty cấp nước (hãy hình dung là việc tăng gấp đôi đường dây
điện, dây điện thoại, đường ống nước, nếu mỗi gia đình sử dụng điện thoại, điện, nước
của các công ty điện, nước, điện thoại khác nhau). Trong những ngành hiệu quả tăng
quy mô, những hãng mới, có sản lượng thấp, sẽ gặp tình trạng chi phí cao hơn các
hãng có công suất lớn. Khi một hãng chiếm được độc quyền do tăng hiệu quả theo quy
mô, chúng ta gọi đó là độc quyền tự nhiên. Việc thị trường có đặc điểm độc quyền tự
nhiên hay không, phụ thuộc vào các điều kiện. Do đó, việc phát triển các công nghệ
viễn thông mới đã dẫn đến giảm độc quyền tự nhiên của hãng AT&T đối với các dịch
vụ điện thoại từ xa. Nếu việc tham gia và ra khỏi thị trường là vô giá, thì ngay cả các
hãng độc quyền tự nhiên cũng có hãng khác sẽ tham gia. Nhưng Chính phủ ít khi dựa
vào điều đó. Ở Hoa Kỳ, một số hãng độc quyền tự nhiên đã bị quản lý, đó là các hãng
dịch vụ điện thoại và điện. Một số hãng độc quyền tự nhiên khác do chính Chính phủ
điều hành trực tiếp. Các công ty cấp nước thường do Nhà nước làm chủ và có một sô
công ty điện dân dụng (bao gồm cả Tennessee Valley Authorrity). Ở tất cả các nước,
bưu điện là công cộng (mặc dù việc tư nhân hóa một số dịch vụ của bưu điện đang
phát triển nhanh chóng, chẳng hạn như dịch vụ chuyển bưu phẩm qua đêm). Tuy
lợi nhuận bằng 0.
Đó là mất mát phúc lợi.
Tài chính công Trang 18
Hiệu quả và công bằng trong phân phối Nhóm 2
Ở hình 3.2B, chúng ta giả định rằng chi phí sản xuất cận biên giảm xuống khi sản
lượng tăng; đó chính là điều chúng tôi muốn ngụ ý tăng lợi nhuận theo quy mô. Do
chi phí cận biên thấp hơn chi phí trung bình, cho nên giá được định bằng với chi phí
cận biên, tại Q2, và có thể làm cho hãng bị lỗ. Q1 là sản lượng cao nhất, tại mức đó
hãng hòa vốn, vì tại mức sản lượng này, chi phí trung bình bằng thu nhập trung bình
trên 1 đơn vị sản phẩm (là giá). Việc sản lượng có hiệu quả Pareto hay không khi sản
lượng là Q2, hay ở mức nào đó thấp hơn, phụ thuộc vào việc lỗ của hãng sẽ được bù
đắp như thế nào. Nói chung, chúng ta chỉ có thể nói rằng sản lượng hiệu quả sẽ nằm ở
khoảng giữa Q1 và Q2. Tuy nhiên, nhà độc quyền sẽ tiếp tục hạn chế sản lượng,
xuống tới mức Q*. Một lần nữa lại bị mất phúc lợi do sự hạn chế này.
- Yếu tố ngoại lai
Có nhiều trường hợp hành động của một người hay một hãng có ảnh hưởng đến
người khác hay hãng khác, khi một hãng gây ra thiệt hại cho hãng khác nhưng lại
không bồi thường cho hãng đó, hoặc ngược lại, một hãng đem lại lợi cho hãng khác
nhưng lại không nhận được sự trọng thưởng vì đã đem lại lợi ích đó. Có lẽ ví dụ được
bàn đến nhiều trong những năm vừa qua là ô nhiễm không khí và nước. Khi tôi lái
một chiếc xe không trang bị phương tiện kiểm soát ô nhiễm, tôi đã làm giảm chất
lượng không khí. (Tất nhiên, ảnh hưởng đến chất lượng không khí do một người gây
ra có thể rất nhỏ, nhưng khi nhiều người gây ra thì ảnh hưởng đó sẽ rất lớn). Như vậy,
tôi đã gây hại cho những người khác. Tương tự, nhà máy hóa chất nằm trên thượng
nguồn thải chất hóa học ra dòng sông đã gây tác hại cho những người sử dụng nước
dưới hạ nguồn. Họ có thể phải bỏ ra một số tiền lớn để làm sách nước khi dùng.
Những ví dụ về việc hàng động của một người gây tác hại cho những người khác gọi
là yếu tố ngoại lai tiêu cực. Nhưng không phải tất cả yếu tố ngoại lai đều tiêu cực. Có
nhiều ví dụ về yếu tố ngoại lai tích cực, khi hành động của một người đem lại lợi ích
cho những người khác. Nếu tôi trồng 1 vườn hoa đẹp trước cửa nhà mình, hàng xóm
- Thị trường không hoàn hảo
Hàng hóa và dịch vụ công cộng thuần túy không chỉ là những hàng hóa và dịch
vụ thị trường không thể cung cấp một cách đầy đủ. Chừng nào các thị trường tư nhân
không thể đảm bảo cung cấp hàng hóa và dịch vụ, mặc dù chi phí cung cấp thấp hơn
chi phí mà các cá nhân có thể trả, thì có sự thất bại của thị trường mà chúng tôi gọi là
thị trường không hoàn hảo. (Một thị trường hoàn hảo có thể cung cấp tất cả hàng hóa
và dịch vụ mà chi phí của chúng thấp hơn giá mà mọi người sẵn sàng trả). Một số nhà
kinh tế cho rằng, thị trường tư nhân đã được thực hiện một công việc rất kém trong
việc cung cấp bảo hiểm và cho vay, và đây chính là cơ sở để có các hoạt động của
Chính phủ.
Thị trường bảo hiểm
Thị trường tư nhân không cung cấp bảo hiểm cho nhiều rủi ro quan trọng mà mọi
người gặp phải, mặc dù thị trường bảo hiểm ngày nay đã tốt hơn rất nhiều so với 75
năm trước đây. Chính phủ đã phải thực hiện nhiều chương trình bảo hiểm, mà ít ra
cũng là do sự thất bại của thị trường. Năm 1933, tiếp theo sự thất bại của hệ thống
ngân hàng trong cuộc đại suy thoái, Chính phủ đã thành lập Công ty bảo hiểm Tiền
gửi liên bang. Ngân hàng trả tiền đóng bảo hiểm cho công ty hàng năm và tiền này
dùng để bảo hiểm tiền gửi bị lỗ do ngân hàng không trả được nợ. Chính phủ cũng rất
tích cực trong việc bảo hiểm lũ lụt. Sau cuộc náo loạn mùa hè năm 1967, hầu hết các
công ty bảo hiểm tư nhân đều từ chối bảo hiểm hỏa hoạn trong một số vùng nội thành,
và Chính phủ lại phải đứng ra làm việc này.
Mặc dù việc thiếu thị trường bảo hiểm tư nhân thích hợp có thể là luận cứ chính
trị để có chương trình bảo hiểm công cộng, một số chương trình bảo hiểm công được
xây dựng nhằm chuyển các nguồn lực (một cách trá hình) cho những đối tượng được
hưởng lợi chương trình. Nếu mục tiêu duy nhất và chủ yếu của chương trình là bảo
Tài chính công Trang 21
Hiệu quả và công bằng trong phân phối Nhóm 2
hiểm, thì chương trình sẽ được xây dựng và được trả theo cách rất khác. Ví dụ,
chương trình sẽ được xây dựng và được trả theo cách rất khác. Ví dụ, một luận cứ để
có chương trình nông nghiệp của Chính phủ là nông dân gặp những rủi ro lớn do dao
thể uống được. Hơn nữa, giả định rằng không có thị trường đường nếu không có cà
phê. Do đó, một nhà kinh doanh dự định sản xuất cà phê, nhưng vì đường không được
sản xuất, nên đã qyết định không sản xuất cà phê nữa, vì sẽ không bán được. Và một
người kinh doanh khác cũng tính xem có sản xuất đường không, nhưng do không sản
xuất cà phê nên anh ta cũng sẽ không sản xuất đường nữa, vì biết rằng sẽ không bán
được. Tuy nhiên, nếu hai nhà kinh doah kết hợp lại thì sẽ có một thị trường tốt cho cà
phê và đường. Mỗi một hành vi đơn độc có thể không theo đuổi được lợi ích công
cộng, nhưng nếu cùng hành động thì có thể được.
Ví dụ cụ thể đó rất đơn giản, và trong trường hợp này, sự phối hợp (giữa người
có khả năng sản xuất đường và người sản xuất cà phê) có thể thực hiện giữa các cá
nhân mà không cần đến sự can thiệp của Chính phủ. Song, cũng có nhiều trường hợp
cần phối hợp trên quy mô lớn, đặt biệt là ở các nước kém phát triển, và việc này có thể
đòi hỏi kế hoạch của Chính phủ. Những lý do tương tự cũng được đưa ra làm cơ sở
cho các chương trình đổi mới nông thôn của Nhà nước. Để tái thiết những khu vực lớn
của thành phố, đòi hỏi sự phối hợp giữa các nhà máy, các nhà buôn bán lẻ, các chủ
nhà cho thuê và các doanh nghiệp khác. Một trong những mục tiêu của các cơ quan
phát triển của Chính phủ là đảm bảo sự phối hợp (nếu thị trường hoàn hảo, thì giá cả
thị trường có thể thực hiện chức năng “phối hợp” này).
Cần phải rất thận trọng trong việc phân tích sự đáp ứng thích hợp của Chính phủ
với thị trường không hoàn hảo. Có thể có những lý do tốt là các nhà sản xuất tư nhân
Tài chính công Trang 23
Hiệu quả và công bằng trong phân phối Nhóm 2
không thể cung cấp hàng hóa hay dịch vụ cụ thể. Có thể có những chi phí giao dịch
lớn khi cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ đó. Ngân hàng có thể không cấp một số loại
tiền vay, vì có khả năng không trả được nợ, và khả năng đó cao đến mức để thu được
số lợi nhuận tương tự trên các vốn cho vay khác, ngân hàng phải tăng tỷ suất lãi rất
cao, làm cho nhu cầu vay giảm đi.
- Thất bại về thông tin:
Nhiều hoạt động của Chính phủ được thúc đẩy bởi thông tin không hoàn hảo về
người tiêu dùng và cho rằng bản thân thị trường cung cấp quá ít thông tin. Ví dụ năm
thoái và trì trệ này đã trở nên rất khiêm tốn kể từ sau Thế chiến thứ hai, và có thể là do
các chính sách của Chính phủ, tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn trên 10% năm 1982; tuy
nhiên, vẫn là thấp so với thời kỳ Đại suy thoái ở Mỹ là 24%.Hầu hết các nhà kinh tế
đều lấy tỷ lệ thất nghiệp cao này làm bằng chứng hiển nhiên là trong thị trường có một
cái gì đó làm việc không tốt. Đối với một số nhà kinh tế, thất nghiệp cao là bằng
chứng năng động và có tính thuyết phục nhất về thất bại của thị trường.
Việc thị trường không thể tạo ra toàn dụng nhân công, một thất bại nghiêm trọng
của thị trường, không tự nói lên rằng có vai trò của Chính phủ. Cần phải nói thêm
rằng, có các chính sách để Chính phủ cải thiện hoạt động của nền kinh tế. Vấn đề này
là chủ đề tranh luận từ lâu nay.
4. Công bằng, sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng.
Chúng ta đã định nghĩa hiệu quả Pareto là trường hợp không ai có thể được lợi
mà không làm cho người khác bị thiệt, và chúng ta đã chứng minh rằng một nền kinh
tế thị trường sẽ có hiệu quả Pareto trong điều kiện thị trường không có các trục trặc.
Tuy nhiên, cho dù nền kinh tế cạnh tranh là một nền kinh tế hiệu quả đi chăng nữa, thì
Tài chính công Trang 25