BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
KHOA: TÀI CHÍNH-NGÂN HÀNG
BÀI TẬP LỚN MÔN
TÀI CHÍNH CÔNG
“CHỦ ĐỀ 3: ĐÁNH GIÁ CHI TIÊU CÔNG ”
Giáo viên giảng dạy: TS. Nguyễn Hòa Nhân
Nhóm thực hiện : Nhóm 5
Lớp : K26.TNH.ĐN2
Đà Nẵng, tháng 03 năm 2014
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
DANH SÁCH NHÓM 5
1. Nguyễn Thị Cẩm Giang
2. Lê Thị Tô Ny
3. Trần Thị Tố Nhi
4. Nguyễn Thị Minh Tâm
5. Lê Thị Kim Đính
6. Huỳnh Minh Tuấn
7. Lương Đình Thí
MỤC LỤC
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 2
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
LỜI MỞ ĐẦU
Qua mỗi thời kì phát triển của xã hội, tài chính ngày càng khẳng định được tầm
quan trọng của nó. Ngày nay, tài chính đã được coi là 1 trong 3 nguồn lực “đầu vào”
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 3
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
(nhân, tài, vật lực) không thể không tính đến, nếu mỗi khi muốn tổ chức một hoạt động
nào đó. Hiện nay, chính nhà nước cũng tham gia vào thị trường tài chính; và thậm chí
tham gia một cách quyết liệt nhằm khẳng định quyền điều phối của mình. Nên làm cho
ranh giới giữa quản lý nhà nước về tài chính với kinh doanh dịch vụ trên thị trường tài
Theo cách hiểu này thì lĩnh vực đầu tư công sẽ bao gồm:
- Chương trình mục tiêu, dự án phát triển kết cấu hạ tầng - kĩ thuật, kinh tế, xã
hội, an ninh, quốc phòng; các dự án đầu tư không có điều kiện xã hội hóa thuộc các
lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục, đào tạo và các lĩnh vực khác;
- Chương trình mục tiêu, dự án phục vụ hoạt động của các cơ quan nhà nước, đơn
vị sự nghiệp, tổ chức chính trị - xã hội, kể cả việc mua sắm, sữa chữa các tài sản cố
định của các tổ chức này;
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 5
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
- Các dự án đầu tư của cộng đồng dân cư, tổ chức chính trị - xã hội được hỗ trợ
tư vốn nhà nước theo qui định của pháp luật;
- Chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công khác theo quyết định của
Chính phủ.
* Vốn đầu tư công bao gồm các nguồn vốn của Nhà nước: ngân sách nhà nước,
công trái quốc gia, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, nguồn
vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước
ngoài, tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn thu để lại cho đầu
tư nhưng không đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vốn vay của ngân
sách địa phương để đầu tư.
1.3. Vai trò và đặc điểm của đầu tư công
a. Vai trò
Vai trò của đầu tư công được thể hiện trên ba khía cạnh quan trọng sau:
- Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dựa trên việc đầu tư cho các công trình hạ tầng,
cơ sở vật chất - kỹ thuật tối thiểu chung cho xã hội. Đây cũng đồng thời tạo những
điều kiện thiết yếu cho các thành phần kinh tế ngoài nhà nước đầu tư và phát triển.
Ngoài ra, đầu tư công giúp cho có cơ hội được tập trung nguồn lực cao, hoặc
Trung ương có thể điều tiết được một cách hợp lý các nguồn đầu tư, tránh tình trạng
cục bộ, địa phương, nơi thừa nơi thiếu.
- Góp phần làm giảm khoảng cách giàu nghèo, giảm bất bình đằng, bất công
trong xã hội bằng các chương trình, dự án kinh tế hỗ trợ các vùng khó khăn, vùng sâu
các vấn đề liên quan tới quốc gia hay địa phương, và trên cơ sở đó quyết định cách giải
quyết trên cơ sở tính toán lợi ích chung của xã hội. Để phân tích và đánh giá chi tiêu
công, người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau. Một trong những phương
pháp đó là phân tích lợi ích và chi phí (Benefit cost analyst - BCA).
Phân tích lợi ích và chi phí là gì?
Theo Frances Perkins (1994): BCA là phân tích mở rộng của phân tích tài chính,
được sử dụng chủ yếu bới các chính phủ và cơ quan quốc tế để xem xét một dự án hay
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 7
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
chính sách có làm tăng phúc lợi cộng đồng hay không. Boardman(2011) cũng giải
thích BCA là một phương pháp đánh giá chính sách, trong đó giá trị của tất cả các kết
quả chính sách đối với mọi thành viên trong xã hội nói chung được lược hóa bằng tiền.
Lợi ích xã hội ròng là thước đo giá trị của chính sách.
Như vậy, phân tích lợi ích - chi phí (Benefit cost analyst - BCA) là một phương
pháp phân tích chính sách, được sử dụng khá phổ biến ở các quốc gia phát triển nhằm
đánh giá bằng tiền tất cả lợi ích và chi phí trên quan điểm xã hội của một chính sách,
dự án nhằm cung cấp thông tin cho các nhà ra quyết định xem xét, đánh giá và quyết
định lựa chọn những phương án sử dụng nguồn lực tốt nhất về khía cạnh đóng góp cho
phúc lợi xã hội. Đây là một công cụ rất cần thiết đối với các nhà lãnh đạo khu vực
công.
2.2 Ý nghĩa phân tích lợi ích - chi phí trong đánh giá chi tiêu công:
Đối với các nhà hoạch định chính sách, phân tích lợi ích - chi phí là công cụ hỗ
trợ thiết thực cho ra các quyết định có tính xã hội, từ đó quyết định phân bổ nguồn lực
một cách hợp lý, tránh gây ra thất bại thị trường thông qua sự can thiệp của Nhà nước.
Bên cạnh đó, phương pháp phân tích lợi ích – chi phí sẽ giúp nhà hoạch định hình
dung ra được toàn bộ những chi phí cũng như lợi ích của mỗi phương án đưa ra có thể
đem lại và dựa trên kết quả phân tích đó chúng ta sẽ lựa chọn được phương án phù hợp
với mục tiêu đề ra.
2.3 Các bước phân tích lợi ích chi phí:
Phân tích chi phí và lợi ích bao gồm ba bước:
thường được gọi dựa trên quan điểm xã hội.
Do đó, khi phân tích lợi ích – chi phí dự án công chúng ta phải phân biệt lợi ích,
chi phí kinh tế và lợi ích (doanh thu hay lợi nhuận), chi phí tài chính, những chỉ tiêu
này không đồng nhất với nhau. Sự khác biệt giữa giá kinh tế và giá tài chính là khoản
lợi nhuận được dồn cho một nhóm người nào đó trong xã hội. Ví dụ, dự án cung cấp
nước sạch nông thôn thường có giá trị đối với xã hội lớn hơn nhiều so với mức chi phí
tài chính mà người dân chi trả. Như vậy, khi phân tích tài chính, ta sẽ xem xét dòng
tiền mà nhà đầu tư bỏ ra và thu vào là bao nhiêu. Còn khi phân tích kinh tế, bên cạnh
việc xem xét dòng tiền ròng mà nhà đầu tư thu về, chúng ta còn phải xem xét lợi ích và
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 9
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
chi phí của những nhóm đối tượng ngoài chủ dự án được hưởng lợi ích từ dự án và
nhóm gánh chịu chi phí của dự án. Khi đó, khi xác định lợi ích – chi phí của một dự án
công ta sẽ xem xét thiên về khía cạnh kinh tế.
3. Phân tích lợi ích - chi phí đầu tư công:
3.1 Lựa chọn tỷ suất chiết khấu của khu vực công
Việc tính toán chi phí, lợi ích và tỷ suất chiết khấu trong khu vực công không
giống như trong khu vực tư. Như đã phân tích ở phần trên, ở khu vực tư việc lựa chọn
tỷ suất chiết khấu phản ánh tỷ suất lợi nhuận mà từng dự án mang lại. Trong khi việc
lựa chọn tỷ suất chiết khấu đối với các dự án công thường ít đạt được sự nhất trí giữa
các nhà hoạch định chính sách. Có thể đưa một vài cách lựa chọn tỷ suất chiết khấu
khu vực công.
Dựa vào khuôn khổ tối ưu của Pareto và lý thuyết tốt thứ nhì để xác định tỷ suất
chiết khấu khu vực công (tức là chi phí cơ hội).Nếu tất cả điều kiện đều đạt hiệu quả
Pareto được đảm bảo, thì rất dễ dàng để xác định tỷ lệ chiết khấu khu vực công. Chẳng
hạn, nếu như thị trường hoàn hảo, không có thất nghiệp và không có ngoại tác thì tỷ
suất chiết khấu hợp lý là lãi suất tín dụng thị trường. Tuy nhiên, có vấn đề nảy sinh ở
đây, do thị trường không hoàn hảo, nên một tỷ lệ chiết khấu không thể thực hiện đầy
đủ các chức năng được yêu cầu bởi khu vực công.
Một cách tiếp cận khác, tỷ lệ chiết khấu phải phản ánh tỷ lệ sở thích thời gian
1
θ
là phần của k sẽ được đầu tư vào dự án tư nhân;
(1-
1
θ
) phần của k đem tiêu dùng;
p: tỷ suất sinh lợi từ đầu tư biên theo thời gian của khu vực tư;
r: tỷ suất chiết khấu của STP.
Xác định chi phí cơ hội của vốn đầu tư phải theo nguyên tắc: không phải tất cả
các nguồn lực được sử dụng trong khu vực công sẽ phản ánh đầu tư bị mất đi trong
khu vực tư. Trong số được sử dụng để tính toán được dựa vào phần dành cho tiêu dùng
và phần dành cho đầu tư. Hiện giá của nguồn lực dành cho tiêu dùng được xác định
theo giá trị danh nghĩa; hiện giá của phần nguồn lực dành cho đầu tư là giá trị thu nhập
p được chiết khấu theo tỷ suất thời gian xã hội, r. Tuy nhiên, Míshan (1967) phản bác
lập luận này. Ông ta cho rằng, chi phí cơ hội là cái gì có thể được thực hiện với nguồn
lực chứ không phải cái gì sẽ được thực hiện với chúng. Vì thế, tất cả các nguồn lực có
thể kiếm được thu nhập p hàng năm nếu được đầu tư và giá trị được chiết khấu theo
hiện giá p/r.
Trên thực tế, rất khó xác định tỷ lệ tiêu dùng và đầu tư được hi sinh trong các dự
án của chính phủ. Số tiền thu được từ các loại thuế khác nhau sẽ có ảnh hưởng khác
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 11
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
nhau đến tiêu dùng và đầu tư. Ngay cả trường hợp có đầy đủ các thông tin về ảnh
hưởng của mỗi loại thuế đến hành vi tiêu dùng và đầu tư của khu vực tư, thì cũng rất
khó xác định nên dùng loại thuế nào để tài trợ dự án. Những khó khăn như vậy làm
giảm tính khả thi của cách tiếp cận này.
Tuy nhiên, đối với các dự án công vấn đề thường thấy là tỷ suất chiết khấu xã hội
thường thấp hơn tỷ suất của các dự án khu vực tư. Có thể liệt kê một vài nguyên nhân
dưới đây để dẫn đến tỷ suất chiết khấu xã hội thấp hơn.
Một trong đặc điểm nổi bật của phân tích dự án công là phải xác định chi phí và
lợi ích xã hội. Liên quan đến vấn đề này là ngoại tác. Chẳng hạn, khi chính phủ xây
dựng đường cao tốc, thì lợi ích tắc nghẽn giao thông trong thành phố cần được tính
vào lợi ích của tuyến đường này để thiết lập đo lường lợi ích xã hội của nó; thế nhưng
những chi phí tiếng ồn trong quá trình xây dựng cần quan tâm đúng mức.
Cần phân biệt giữa lợi ích – chi phí vô hình và hữu hình trực tiếp và gián tiếp.
Musgrave (1989) miêu tả lợi ích hữu hình trực tiếp của dự án thủy lợi liên quan đến
đầu ra nông nghiệp được bán ở thị trường tăng lên của dự án, trong khi lợi íc vô hình
gián tiếp đó có lẽ làm giảm bạc màu đất trồng trọt trong những vùng đồi gần bên. Chi
phí trực tiếp của những công trình thủy lợi có thể là chi phí làm đường ống, trong khi
chi phí vô hình có thể là bao gồm sự phá hoại vùng hoang giã. Trong các dự án y tế,
lợi ích hữu hình lợi ích hữu hình trực tiếp có thể là tiết kiệm chi phí chữa trị, trong khi
lợi ích vô hình trực tiếp là cải thiện cuộc sống con người. Tương tự trong những
chương trình giáo dục, lợi ích hữu hình trực tiếp có thê là gia tăng thu nhập tương lai
của sinh viên và lợi ích vô hình gián tiếp sẽ làm giảm đi chi phí tội phạm hoặc tạo ra
những công dân tốt cho xã hội.
Điều đáng chú ý là phân tích lợi ích – chi phí liên quan đến phân biệt giữa ngoại
tác kỹ thuật và ngoại tác về tiền. Ngoại tác kỹ thuật được định nghĩa như là ngoại tác
được xẩy ra “khi hàm sản xuất của người sản xuất bi tác động hoặc hàm khả dụng của
người tiêu dùng bị tác động được thay thế” (Dasgupta, Pearce, 1972). Đối với người
tiêu dùng, ngoại tác làm cho người tiêu dùng có thể nhận được thỏa dụng ít hơn (hoặc
nhiều hơn) từ tính phi kinh tế (tính kinh tế). Đối với người sản xuất nhận được đầu tư
ít hơn (nhiều hơn) từ tập hợp các yếu tố đầu vào vì tính phi kinh tế (tính kinh tế).
Ngoại tác về tiền có thể thấy được thông qua thay đổi giá cả, tiền lương và lợi nhuận.
Tuy nhiên ngoại tác về tiền không làm thay đổi khả năng kỹ thuật của người sản xuất
hoặc người tiêu dùng. Trong trường hợp bình thường phân tích lợi ích – chi phí không
có liên kết chặt chẽ với ngoại tác về tiền. Nói chung, nếu gắn kết ngoại tác kỹ thuật và
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 13
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
ngoại tác về tiền sẽ dẫn đến tính trùng. Với điều kiện phân tích lợi ích – chi phí quan
Vô hình: Cải thiện chất lượng thời gian
nhàn rỗi
Ngoại tác về tiền
Khoản thu được đối với những nhà sản
xuất các dụng cụ y tế
Chi phí thuốc men hiện tại
Chi phí thời gian đối với bệnh nhân
Tổn thất thu nhập của nhà sản xuất
thuốc do sự cải thiện về chăm sóc y tế
Phân tích dự án đường giao thông gắn chặt ngoại tác sau: (a) tính phi kinh tế bên
ngoài được nảy sinh khi đường cao tốc cắt đất canh tác của người nông dân thành 2
phần như là phần đất trồng cỏ và phần đất làm chuồng gia súc; (b) tính phi kinh tế nảy
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 14
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
sinh khi đường cao tốc phá hoại quang cảnh đẹp và vị thế làm giảm mức thỏa dụng
của người tiêu dùng. Tuy nhiên dừng lại như vậy sẽ không gắn kết với ngoại tác về
tiền, chẳng hạn khi trạm xăng dầu trên tuyến đường cao tốc mới phát triển quy mô,
kinh doanh có lãi. Trong khi, lợi ích về tiền tăng thêm phản ánh giá trị của dự án
đường cao tốc đối với những người làm lái xe mô tô thì được ước tính một cách trực
tiếp. Lợi ích và chi phí về tiền là kết quả của sự thay đổi giá cả. Tất cả thay đổi này
đều thể hiện trong dự án công. Nghĩa là một dự án công có thê mang lại khoản lợi
(hoặc tổn thất) cho một nhóm người nhưng có thể gây ra kết quả tổn thất (hoặc lợi)
cho nhóm người khác. Đó không phải là khoản lợi ròng đối với toàn thể cộng đồng,
trong khi điều quan trọng cần được xem xét khía cạnh hiệu quả. Khi đó tiêu biểu
những thay đổi về tiền không đưa vào giá trị của dự án.
Tuy nhiên, có nhiều cách phân loại lợi ích và chi phí trong phân tích lợi ích – chi
phí. Lợi ích và chi phí kỹ thuật hoặc thực tế có thể được phân biệt từ tác động về tiền.
Lợi ích và chi phí cũng có thể là hữu hình (nghĩa là lợi ích và chi phí cí thể được đo
lường trong thị trường) hoặc vô hình (ở đó thị trường không tồn tại, xuất hiện giá ẩn,
chăng hạn cải thiện môi trường cảnh quan ….Kết quả của dự án thủy lợi…). Chúng có
dự án công là 1 triệu đôla. Nếu đây là mức giá cân bằng cạnh tranh, giá cả bằng với chi
phí xã hội biên.
Tương tự, nếu như thị trường lao động là cạnh tranh hoàn hảo, thì giá trị một giờ
lao động được sử dụng trong dự án này là tiền lương thị trường, đó cũng là giá trị lao
động được sử dụng thay thế tốt thứ nhì. Nếu như tiền lương nhân công xây dựng là 10
đôla/1 giờ, thì chi phí cơ hội của lao động đối với dự án là 10 triệu đôla.
Trường hợp thị trường cạnh tranh
- Xét thị trường lao động:
Trong trường điều kiện thị trường lao động không hoàn hảo, có xảy ra nạn thất
nghiệp nhân công lao động trong ngành xây dựng. Và chính phủ bắt buộc phải duy trì
một mức lương 20 đôla cho công nhân ngành xây dựng. Nếu như 20 đôla là trên mức
tiền lương cân bằng, có một vài công nhân sẵn long làm việc ở mức lương 20 đôla,
nhưng lại không tìm được việc làm ở mức lương đó. Thay vào đó là họ ở nhà và dùng
giờ nhàn rỗi xem tivi, đọc sách… Giả sử, đối với công nhân xây dựng, 1 giờ nhàn rỗi
đáng giá 5 đôla. Nếu mức lương thấp hơn 5 đôla, họ thích ở nhà hơn là đi làm.
Các công nhân thất nghiệp được thuê làm việc cho các dự án công, thì hoạt đông
tốt thứ nhì của họ là không làm việc (nhàn rỗi), như là xem tivi, đọc sách, … và được
xác định đáng giá 5 đôla. Vì vậy, chi phí cơ hội cho những công nhân xây dựng thất
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 16
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
nghiệp là 5 đôla, chứ không phải là 20 đôla/1 giờ. Nếu như 0,5 triệu giờ lao động cho
dự án chủ yếu là thuê những công nhân thất nghiệp, thì chi phí cơ hội để thuê 1 triệu
giờ lao động là 20 đôla x 500.000+5 đôla x 500.000 = 12.5 triệu đôla, mặc dù chính
phủ chỉ trả 20 triệu đôla bằng tiền mặt.
Chi phí tiền mặt mà chính phủ trả cho công nhân thất nghiệp gồm 2 phần: chi phí
cơ hội của nguồn lực lao động cộng với phần chuyển trả thêm để thuê lao động –
khoản thanh toán cho người lao động vượt quá mức thanh toán cần thiết để thuê người
lao động đó. Nếu không có phần chuyển giao này thì công nhân thất nghiệp sẽ không
làm việc, ở nhà tốt hơn. Chẳng hạn, chi phí cơ hội một giờ lao động chỉ là 5 đôla đối
với những công nhân thất nghiệp. Người công nhân xây dựng sẵn lòng làm việc với
Như vậy, liệu chính phủ có nên định giá các yếu tố đầu vào theo giá thị trường
(tức là đo lường giá trị các đầu vào dựa vào người tiêu dùng) hay theo chi phí sản xuất
biên (tức là đo lường giá trị tăng thêm của các nguồn lực dùng vào sản xuất các yếu tố
đầu vào). Câu trả lời phụ thuộc vào sự tác động mua sắm của chính phủ đến thị
trường: (i) nếu kì vọng mức cung các yếu tố đầu vào gia tăng bằng đúng số lượng đem
dùng cho dự án thì chi phí cơ hội xã hội là giá trị của các nguồn lực đem dùng cho sản
xuất tăng thêm – chi phí sản xuất biên; (ii) nếu không có gia tăng mức cung các yếu tố
đầu vào, thì chi tiêu của chính phủ đạt ở mức bằng chi tiêu dùng cho cá nhân. Khi đó
giá cả các yếu tố đầu vào của dự án công được đo lường bởi giá cả theo nhu cầu thị
trường.
Đánh thuế:
Nếu như yếu tố đầu vào là đối tượng chịu thuế gián thu, thì người sản xuất các
yếu tố đầu vào sẽ nhận mức giá thấp hơn mức giá mà người mua thanh toán, vì một
phần tiền thu bán hàng phải nộp cho chính phủ. Một khi chính phủ mua các yếu tố đầu
vào thuộc đối tượng nộp thuế gián thu, nên sử dụng loại giá nào để tính chi phí – giá
cả của người tiêu dùng hay giá cả của người sản xuất? Nguyên tắc cơ bản giống như
trường hợp độc quyền: (i) nếu kỳ vọng mức sản xuất các yếu tố đầu ra gia tăng, nên
chọn giá cả cung cấp của nhà sản xuất để tính toán; (ii) nếu mức sản xuất các yếu tố
đầu ra không đổi, thì mức giá của người tiêu dùng là thích hợp.
Thương mại quốc tế:
Theo Irwin (1978), đối với các nước đang phát triển giá cả thị trường được cho là
không đáng tin cậy để hướng dẫn tính toán kế toán (chi phí cơ hội) bởi sự tồn tại phân
phối thu nhập không đều, thuế làm phá hoại thị trường, trợ cấp, hạn ngạch, độc quyền
và sự không hoàn hảo khác chẳng hạn như ngoại tác lan rộng. Tương ứng là một cơ
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 18
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
chế đánh giá phức tạp, dựa vào giá cả thương mại quốc tế. Thương mại quốc tế được
xem như là yếu tố góp phần mở rộng khu vực sản xuất đối với nền kinh tế. Cơ chế này
thường được chia thành phép tính hiệu quả và phép tính xã hội. Phép tính hiệu quả đối
với một dự án đơn giản có thể đưa vào phương trình dưới đây (Irwin, 1978):
∑
Trong đó:
dL: phần thu nhập thuần từ dự án đem tiêu dùng;
i
E
: là trọng số công bằng gắn với thu nhập của cá nhân thứ i;
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 19
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
v: là trọng số (>1) để cho giá trị xã hội thấp hơn của một đơn vị tiêu
dùng tăng thêm so sánh với một đơn vị đầu tư tăng thêm phát sinh từ dự án.
3.3.2. Đo lường chi phí tương lai
Trở lại, dự án đường cao tốc. Chi phí cuối cùng là bảo dưỡng, bao gồm vật liệu và lao
động. Đặc điểm chi phí bảo dưỡng là chính phủ chi tiêu theo dòng thời gian khai thác
đường cao tốc. Vì vậy, chúng ta cần gắn kết dòng chi phí bảo dưỡng tương lai với các
chi phí trước đó của công trình xây dựng. Để làm được điều đó, chúng ta phải tính giá
trị chiết khấu hiện tại (PDV) của những chi phí này.
1
(1 )
T
t
i
i
C
PDV
r
=
=
+
∑
Trong đó,
ích rất khó để đo lường. Ví dụ, giá trị cải thiện môi trường làm gia tăng thoả dụng từ
việc thưởng thức các quang cảnh đẹp, sẽ rất khó để định giá.
Marion Clawson (1959) đưa ra ví dụ về lợi ích phát sinh từ công viên quốc gia.
Cách tiếp cận được thực hiện trong phân tích chi phí - lợi ích là lấy chi phí đi lại của
mọi người tham quan công viên để định giá giá trị đối với họ. Xem chi phí đi lại như
là giá cả của tham quan và gắn vấn đề này với số lượt người tham quan với mức giá
đó, có thể xây dựng đường cầu công viên quốc gia. Tổng lợi ích từ công viên sẽ được
xác định bằng diện tích đưới đường cầu. Dĩ nhiên, cách tiếp cận này gây ra nhiều chỉ
trích. Chi phí đi lại được chọn có đại diện cho mức giá hay không? những người tham
quan công viên cũng nhận được thoả dụng từ chuyển đi đó (đến mức chi phí đi lại
đánh giá quá cao so với giá cả).
Trở lại ví dụ về xây dựng đường cao tốc:
- Giảm thời gian đi lại của người sản xuất và tiêu dùng 500.000 giờ/năm
- Đường đi an toàn, giảm được 5 người chết/năm
3.4.2. Xác định giá trị tiếc kiệm thời gian đi lại
Lợi ích đầu tiên đối với dự án này là cả người sản xuất và tiêu dùng đều tiết kiệm
được thời gian đi lại. Đối với người sản xuất, chúng ta có thể tính ngày giá trị tiết
kiệm thời gian đi lại. Lợi ích của người sản xuất phát sinh từ giảm chi phí cung cấp
hàng hoá, đó là chi phí vận chuyển, chi phí làm gia tăng mức cung, chi phí giảm làm
gia tăng mức cung kéo theo gia tăng tổng thặng dự xã hội. Sự gia tăng thặng dư xã hội
chính là lợi ích của xã hội phát sinh từ hạ thấp chi phí sản xuất.
Trong khi đó có nhiều giới hạn hơn để đo lường lợi ích thời gian tiết kiệm đi lại
đối với người tiêu dùng. Các nhà kinh tế có nhiều cách tiếp cận để xác định giá trị thời
gian tiết kiệm đi lại đối với người tiêu dùng.
Dựa vào thị trường để xác định giá trị thời gian: tiền lương
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 21
Tiểu luận môn Tài chính công GVHD: TS. Nguyễn Hòa Nhân
Giả sử chúng ta có thể thấy ngay đó là thời gian các cá nhận tiết kiệm do lái xe
nhanh hơn là dành cho công việc tại sở làm. Trong điều kiện thị trường cạnh tranh
hoàn hảo, các cá nhân có thể kiếm được tiền lương theo giờ cho mỗi giờ tăng thêm tại
chọn. Điểm tiến bộ của phương pháp này là trong một vài trường hợp, nó có tính khả
thi trong việc đánh giá giá trị hàng hoá công.
Tuy nhiên, tính chính xác của phương pháp định giá tuỳ thuộc rất nhiều vào chất
lượng câu hỏi phỏng vấn, cách trả lời của người phỏng vấn,…
Dựa vào biểu lộ sở thích để định giá thời gian
Việc sử dụng phương pháp biểu lộ sở thích thể hiện: hãy để cho hành động của
các cá nhân tiết lộ giá trị của họ. Giả sử, có những người sống ở một vùng nào đó họ
có thể dùng xe bus hoặc xe lửa để đi làm hàng ngày. Xe lửa nhanh hơn nhưng lại đắt
đỏ hơn. Bằng cách xác định số tiền mà mọi người sẵn sàng trả thêm cho việc đi xe lửa,
chuáng ta có thể suy ra số tiền mà họ sẵn sàng chi trả để giảm bớt thời gian đi lại trên
đường và do đó có thể thấy họ xác định giá trị của thời gian là bao nhiêu.
Hoặc giả sử có hai ngôi nhà giống nhau. Trong đó, một ngôi nhà gần trung tâm
thành phố, chỉ cần 5 phút là đến nơi làm việc. Nếu như các cá nhân sẵn lòng thanh
toán nhiều tiền hơn để mua ngôi nhà gần trung tâm thành phố, điều này hàm ý là họ
định giá tiết kiệm thời gian đi lại. Vì vậy, chúng ta có thể sử dụng chênh lệch giá giữa
hai ngôi nhà để định giá trị tiết kiệm 5 phút thời gian đi lại.
Trong thực tiễn phương pháp tiếp cận cũng nẩy sinh nhiều vấn đề. Nếu như hai
ngôi nhà giống nhau nhưng giá cả khác nhau là do thuộc tính hàng hoá quy định, gần
hay xa thành phố chỉ là một thuộc tính, còn nhiều yếu tố khác nữa như: An ninh,
trường học, bệnh viện,…
3.4.3. Xác định giá trị sinh mạng của con người
Con người là vô giá và do vậy rất khó để định giá giá trị cuộc sống của con
người. Điều này gây khó khăn rất nhiều cho mô hình phân tích chi phí - lợi ích. Nếu
giá trị cuộc sống là vô hạn thì bất kỳ dự án nào liên quan đến tính mạng của con người
đều không thể xác định được giá trị. Điều này dẫn đến không còn cách hợp lý nào để
đánh giá giá trị của dự án. Chẳng lẽ trong một quốc gia tất cả con đường đều được xây
dựng có bốn làn xe để góp phần làm giảm thiểu tai nạn giao thông thì cho rằng đó là
một dự án tốt.
Các nhà kinh tế cân nhắc xem xét các phương pháp phân định giá trị hữu hạn đối
với sinh mạng con người: Sử dụng tiền lương để định giá giá trị con người, định giá
j
:Xác suất sự sống của cá nhân từ năm hiện tại thứ j đến năm thứ t
r : Tỷ lệ chiết khấu
Có thể sử dụng bảng thống kê bảo hiểm để ước lượng giá trị P
t
j.
Ước lượng giá trị
tổn thất liên quan đến cái chết của cá nhân có nhiều vấn đề phức tạp. Quan trọng là
ước lượng giá trị Y phản ánh sản phẩm biên của cá nhân này. Để sử dụng tiêu chí đầu
ra/ đầu người để đo lường Y có thể định giá quá mức giá trị sản phẩm biên của lao
động đến mức điều này phân phối toàn bộ đầu ra cho lao động mà không tính đến việc
sử dụng vốn. Sử dụng tiền lương để ước lượng giá trị Y có thể chấp nhận được chỉ khi
nào có sự cạnh tranh hoàn hảo và lao động toàn dụng. Hơn nữa, năng suất lao động gia
tăng theo thời gian, và vì thế để ước lượng giá trị Y cần thiết phải chú ý đến một vấn
đề khác. Chẳng hạn, đối với người phụ nữ cần tính đến các dịch vụ nội trợ.
Sử dụng các ước lượng trên không chú ý đến vấn đề là chính các cá nhân có sử
dụng một phần đầu ra mà họ tạo ra. Nếu như vậy thì ước lượng hợp lý đầu ra thuần:
VL =
)(
)1)((
jt
ji
tt
t
j
rCYP
−−
∞
=
∑
của người dân, thế nhưng không phải mọi người đều nhận thức như vậy. Chúng ta
thường có quan điểm chấp nhận sự gia tăng khả năng tử vong vì sự giới hạn số thu
nhập của mỗi người. Xét tình huống, nếu như các yếu tố không đổi, một người lái xe
hạng nhẹ có xác suất tử vong cao hơn so với một người lái xe hạng nặng. Biết là vậy,
nhưng người lái xe hạng nhẹ đành phải chấp nhận rủi ro tử vong cao khi họ lái xe trên
đường vì họ chỉ đủ tiền để mua xe tải nhẹ.
Nhóm 5 – Lớp K26.TNH.DN2 25