LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng gửi
lời cảm ơn đến khoa quản lý giáo dục, phòng sau đại học - trường Đại học sư
phạm Hà Nội cùng các thầy cô giáo đã tận tình giảng dạy, giúp đơ tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS. Nguyễn Thị Kim
Dung, người đã trực tiếp hướng dẫn, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong
suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành cuốn luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn Đảng uỷ, BGH, phòng TCHC, phòng Đào
tạo, phòng Công tác HSSV, phòng QTĐS, các thầy cô giáo, cùng toàn thể các
em HSSV đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá
trình học tập và nghiên cứu.
Mặc dù, trong thời gian học và và nghiên cứu đã có nhiều cố gắng,
nhưng do thời gian có hạn nên luận văn không tránh khỏi thiếu sót. Mong
nhận được các ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các bạn quan tâm để
luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Hà Nội, ngày 10 tháng 10 năm 2013
TÁC GIẢ
Lương Công Toàn
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN 1
MỤC LỤC 2
NHỮNG KÝ HIỆU VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN VĂN 3
1. Lý do chọn đề tài: 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
5. Giả thuyết khoa học 3
6. Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7. Phương pháp nghiên cứu 4
2.3.2. Thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung
ương I 51
2.4. Đánh giá chung về thực trạng công tác quản lý đào tạo nghề của nhà trường 89
2.4.1. Ưu điểm và nhược điểm 89
2.4.2. Phân tích nguyên nhân của thực trạng 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 93
CHƯƠNG III 95
BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ NHẰM NÂNG CAO 95
CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ GIAO THÔNG
VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG I 95
3.1. Chiến lược phát triển trường cao đẳng nghề GTVT Trung ương I đến năm 2020 95
3.2. Một số nguyên tắc đề xuất các biện pháp 95
3.2.1. Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu 95
3.2.2. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ 95
3.2.3. Nguyên tắc phù hợp với thực tiễn và khả thi 96
3.3. Biện pháp quản lý đào tạo nghề ở trường cao đẳng GTVT TW I 97
3.3.1. Hoàn thiện công tác quản lý xây dựng mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo nghề theo định
hướng chuẩn đầu ra 97
3.3.2. Xây dựng kỷ cương, nề nếp trong hoạt động đào tạo 99
3.3.3. Nâng cao chất lượng đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên 100
3.3.4. Tăng cường đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng hình thành năng lực nghề 102
3.3.5. Đổi mới quản lý các hoạt động kiểm tra, đánh giá công tác đào tạo trong nhà trường 104
3.3.6. Quản lý và sử dụng cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học phục vụ đào tạo nghề hiệu quả hơn
107
3.4. Mối quan hệ giữa những biện pháp 108
3.5. Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất 109
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 111
1. Kết luận 112
2. Khuyến nghị 113
2.1 Đối với Bộ Giao thông vận tải 113
BGH : Ban giám hiệu
TBMH : Trung bình môn học
CTHSSV : Công tác học sinh sinh viên
QTĐS : Quản trị đời sống
PPGD : Phương pháp giảng dạy
TCKT : Tài chính kế toán
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và hội nhập quốc tế. Điều này, đòi hỏi phải có một nguồn nhân lực chất
lượng cao bao gồm những con người có đức, có tài, ham học hỏi, thông minh, sáng
tạo, làm việc có trách nhiệm, được chuẩn bị tốt về kiến thức văn hóa, được đào tạo
thành thạo về kỹ năng nghề nghiệp. Trong hệ thống nguồn nhân lực, đội ngũ lao
động được đào tạo nghề là một bộ phận chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Văn kiện
Đại hội Đảng lần thứ X của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ “Phát triển mạnh hệ
thống giáo dục nghề nghiệp, tăng nhanh quy mô đào tạo cao đẳng nghề, trung cấp
nghề cho các khu công nghiệp, các vùng kinh tế động lực và cho việc xuất khẩu lao
động. Mở rộng mạng lưới cơ sở dạy nghề, phát triển trung tâm dạy nghề quận,
huyện, tạo chuyển biến căn bản về chất lượng dạy nghề, tiếp cận với trình độ tiên
tiến của khu vực và trên thế giới”.
Chất lượng giáo dục nói chung và chất lượng dạy nghề nói riêng phụ thuộc
vào nhiều yếu tố như thiết bị, cơ sở vật chất, nội dung, chương trình, phương pháp
và hình thức tổ chức, lực lượng đào tạo, nhưng một trong những yếu tố quan trọng
nhất đó chính là công tác quản lý đào tạo nghề.
Thực tế hiện nay chất lượng lao động của cả nước nói chung còn thấp, quy
mô, cơ cấu đào tạo chưa hợp lý, chưa chuyên sâu đào tạo công nhân lành nghề,
chương trình đào tạo trong các cơ sở dạy nghề còn chưa cập nhật so với nhu cầu của
thị trường lao động, học sinh sau khi học nghề chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của
các đơn vị sử dụng lao động, phần lớn các đơn vị sử dụng lao động sau khi tuyển
dụng phải tiến hành đào tạo lại; …. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên.
tạo nghề ở Truờng Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương I" nhằm
phân tích tìm ra nguyên nhân của những hạn chế và đề xuất một số giải pháp khắc
phục nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo nghề của nhà trường.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn về quản lý đào tạo nghề tại
Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương I, đề xuất các biện pháp
cơ bản về quản lý quá trình đào tạo nghề nhằm nâng cao chất lượng đào tạo
của nhà trường và góp phần đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng tay nghề
cao phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nước.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu:
Công tác đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải trung
ương I.
2
3.2. Đối tượng nghiên cứu:
Các biện pháp quản lý đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông
vận tải trung ương I.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
4.1. Giới hạn về đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo nghề đối
với hệ cao đẳng nghề và trung cấp nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông
vận tải Trung ương I đến năm 2020.
4.2. Giới hạn địa bàn nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nghiên cứu tại trường Cao đẳng nghề Giao thông
vận tải Trung ương I – Thụy An, Ba Vì, Hà Nội.
4.3. Giới hạn về khách thể điều tra
- Nghiên cứu thực trạng việc quản lý đào tạo nghề đối với hệ cao đẳng
nghề và trung cấp nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương
I giai đoạn 2007-2012.
- Thành phần: Đội ngũ cán bộ quản lý gồm: Ban giám hiệu, lãnh đạo các
UBND Thành phố Hà Nội nhằm xây dựng cơ sở lý luận về công tác quản lý đào
tạo nghề trường Cao đẳng nghề GTVT Trung ương I trong giai đoạn hiện nay.
Sưu tầm, nghiên cứu tài liệu, văn bản để phân tích, vận dụng các quan
điểm lý luận liên quan đến đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Sử dụng bộ câu hỏi để điều tra về quá trình đào tạo nghề và biện pháp
quản lý đào tạo nghề ở Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương
I: Một bộ câu hỏi dành cho cán bộ, giáo viên nhà trường và 01 Bộ dành cho
học sinh sinh viên đang học nghề ở trường. Từ đó phân tích tổng hợp, đánh giá
thực trạng vấn đề nghiên cứu.
7.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Trực tiếp phỏng vấn cán bộ quản lý các phòng ban, các trung tâm và các
khoa và các giáo viên có kinh nghiệm để tìm hiểu rõ hơn về thực tiễn của Nhà
trường nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu bằng phương pháp điều tra.
7.2.3. Phương pháp quan sát
Tham quan cơ sở vật chất, trang thiết bị của các đơn vị trực thuộc trường;
dự các buổi sinh hoạt chuyên môn, họp hội đồng; Tập trung quan sát cách thức tổ
chức quản lý của lãnh đạo và cán bộ quản lý tại các phòng ban, khoa và Trung
tâm.
Quan sát tình hình giảng dạy của giáo viên dạy giỏi, của giáo viên mới
vào nghề. Quan sát tình hình học tập của học sinh, sinh viên để nắm bắt thực tế
tình hình đang diễn ra ở trường.
4
7.2.4. Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các chuyên gia trong lĩnh vực quản lý đào tạo nghề. Dùng
phiếu trưng cầu ý kiến để xin ý kiến chuyên gia về tính cần thiết và khả thi của
các biện pháp đề xuất trong đề tài.
7.3. Các phương pháp khác
Sử dụng một số công thức toán học như tính toán tỷ lệ phần trăm, tính hệ
nền kinh tế tri thức, yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực ngày càng cao đối với đội
ngũ công nhân kỹ thuật – người trực tiếp tham gia sản xuất. Ở tất cả các nước
trên thế giới, bất luận là nước giàu hay nghèo, hay ở châu lục nào thì hệ thống
giáo dục nói chung, công tác đào tạo nghề nói riêng luôn có vai trò quyết định
đến việc nâng cao vị thế và trình độ phát triển của mỗi quốc gia.
Ngày từ đầu những năm 60 của thế kỷ XX, ở các nước tư bản phát triển
như Đức, Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Bản đã quan tâm đến vấn đề đào tạo nghề và
quản lý đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội công nghiệp. Do đặc
điểm, yêu cầu về nguồn nhân lực – đội ngũ công nhân kỹ thuật ở mỗi nước có sự
khác nhau nên không chỉ có lĩnh vực đào tạo nghề mà cả phương pháp, hình
thức, quy mô đào tạo nghề cũng có sự khác nhau, song có điểm chung là đều chú
trọng đến sự phát triển kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp.
Như chúng ta được biết, trong cơ cấu lao động, nguồn nhân lực qua đào
tạo nghề là lực lượng đông đảo nhất, trực tiếp tham gia sản xuất ra của cải vật
chất cho xã hội. Khi nghiên cứu về hệ thống giáo dục nghề nghiệp ở Việt nam
6
(Năm 1997) các chuyên gia trong và ngoài nước đều khẳng định: “Hệ thống giáo
dục nghề nghiệp đã bị lãng quên trong một thời gian dài. Đã đến lúc chúng ta
nhìn nhận thực tế vai trò của đào tạo nghề với quan niệm và cách nhìn khác”.
Đào tạo nghề cộng đồng đối mặt với những thách thức mới và tự tìm thấy vai trò
của mình trong xã hội. Không phải ngẫu nhiên mà Hội nghị quốc tế có hơn 150
nước tham dự với chủ đề “Giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp trước thềm thế kỷ
XXI” được tổ chức tại Hàn Quốc năm 1999 đã đưa ra khuyến nghị:
- Uy tín và địa vị của đào tạo nghề phải được tăng cường trong con mắt
của cộng đồng và các phương tiện thông tin đại chúng.
- Học suốt đời là cuộc hành trình với nhiều hướng đi, trong đó giáo dục
kỹ thuật nghề nghiệp là hướng đi chủ yếu trong cuộc hành trình này.
Và đây là một trong những yêu cầu rất quan trọng, trọng tâm và cấp bách
của hệ thống đào tạo nghề hiện nay.
Về vấn đề nghiên cứu quản lý đào tạo nghề thì trước đây rất ít được chú ý
thành tự nghiên cứu của nước ngoài, đã có những công trình nghiên cứu về quản
lý giáo dục – đào tạo trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, trong đó có đào tạo
nghề. Tuy nhiên, việc nghiên cứu chưa được sâu, đặc biệt là việc quản lý đào tạo
nghề tạo trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương I thì chưa có tác
giả nào nghiên cứu.
1.2. Một số khái niệm cơ bản có liên quan.
1.2.1. Quản lý.
1.2.1.1. Khái niệm về quản lý
Theo nghĩa Hán Việt thì “Quản lý” là từ được ghép giữa từ “quản” và từ
“lý”. Ở đây, từ “quản” có nghĩa là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì một
việc, một sự việc hay một hiện tượng nào đó ở trạng thái ổn định. Còn từ “lý” có
nghĩa là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy “quản lý” nghĩa là
trông coi, chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển.
Theo quan điểm của lý thuyết hệ thống: Quản lý là "Phương thức tác động
có chủ định của chủ thể quản lý lên hệ thống, bao gồm hệ các quy tắc, các ràng
buộc về hành vi đối với mọi đối tượng ở các cấp trong hệ thống nhằm duy trì
tính trội hợp lý của cơ cấu và đưa hệ thống đạt tới mục tiêu".
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ “quản lý”, Follett đưa ra
một định nghĩa khá nổi tiếng về quản lý là “nghệ thuật hoàn thành công việc
thông qua người khác”.
Các Mác đã viết:"Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung
nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự
chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng
chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận
động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm thì tự điều
8
khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [29, tr 28].
Còn Fredrick Winslow Taylor (1856-1915) thì khẳng định:" Quản lý là
biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng
họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [31, tr 89].
Như vậy, bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của
người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức
đặt ra. Vì vậy, nhiệm vụ của quản lý là biến đổi mối quan hệ trên thành những
yếu tố tích cực, hạn chế xung đột và tạo nên môi trường thuận lợi để hướng tới
mục tiêu. Đó là "bí quyết" làm việc của người quản lý được khám phá trên sự
đúc rút kinh nghiệm thực tế. Những kinh nghiệm thực tế được khái quát hoá
thành những nguyên tắc, phương pháp, kỹ năng quản lý cần thiết, đó chính là
khoa học – khoa học quản lý. Do đó, ta có thể nói rằng: Quản lý vừa là khoa học
vừa là nghệ thuật.
+ Quản lý gồm hai thành phần: Chủ thể quản lý và khách thể quản lý:
- Chủ thể quản lý là người hoặc tổ chức do con người cụ thể lập nên.
- Khách thể quản lý có thể là người, tổ chức, vừa có thể là vật cụ thể như:
Môi trường, thiên nhiên, đoàn xe , vừa có thể là sự việc như: luật lệ, quy chế,
quy định Cũng có khi khách thể, tổ chức được con người đại diện trở thành chủ
thể quản lý cấp dưới thấp hơn.
Giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua
lại, tương hỗ nhau. Theo Nguyễn Minh Đạo "Chủ thể làm nảy sinh các tác động
quản lý, còn khách thể thì sản sinh các giá trị vật chất và tinh thần có giá trị sử
dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể
quản lý". [6 ,tr7]
Trong quản lý, chủ thể quản lý phải có tác động phù hợp và sắp xếp hợp
lý các tác động nhằm đạt mục tiêu. Do đó quản lý phải có sự kết hợp chặt chẽ
giữa tri thức và lao động. Muốn phát huy tiềm năng của đối tượng quản lý (đặc
biệt là con người) thì phải có cơ chế đúng.
1.2.1.2. Chức năng quản lý.
Chức năng quản lý là hình thức biểu hiện sự tác động có chủ đích của chủ
thể quản lý lên đối tượng quản lý. Quản lý có các chức năng cơ bản, chức năng
cụ thể với nhiều cách tiếp cận khác nhau. Hiện nay, đa số các nhà khoa học và
các nhà quản lý cho rằng quản lý có 4 chức năng cơ bản, đó là:
- Chức năng lập kế hoạch: là chức năng cơ bản, quan trọng nhất nhằm xác
sung điều chỉnh và chuẩn bị cho việc lập kế hoạch tiếp theo. Nói cách khác, đây
chính là nhằm thu thập thông tin ngược của người quản lý để kiểm soát hoạt
động của bộ máy nhằm đo lường, phát hiện các sai sót để điều chỉnh kịp thời
giúp bộ máy đạt được mục tiêu. Có thể nói: kiểm tra là tai mắt của quản lý.
Trong công tác lãnh đạo, quản lý và chỉ huy, Bác Hồ đã từng nói:"không có
kiểm tra đánh giá coi như không có lãnh đạo". Qua đó đủ thấy vai trò kiểm tra
đánh giá, rút ra bài học điều chỉnh mọi hoạt động của khách thể quản lý là việc
làm không thể thiếu của chủ thể quản lý.
11
TỔ
CHỨC
KIỂM
TRA
KẾ
HOẠCH
HOÁ
CHỈ
ĐẠO
Thông tin quản lý,
Quyết định quản lý
Các chức năng quản lý tạo thành một chu trình thống nhất. Trong đó,
mỗi chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc
với các chức năng khác. Quá trình ra các quyết định quản lý là quá trình thực
hiện các chức năng theo một trình tự nhất định. Nhà quản lý không được bỏ
qua hay coi nhẹ bất cứ chức năng nào. Bên cạnh bốn chức năng cơ bản nêu
trên, trong quá trình quản lý cần quan tâm thêm hai vấn đề quan trọng là:
thông tin quản lý và quyết định quản lý.
Thông tin quản lý: là dữ liệu về việc thực hiện các nhiệm vụ đã được
xử lý giúp cho người quản lý hiểu được về đối tượng mà họ đang quan tâm
để phục vụ cho việc đưa ra các quyết định cần thiết trong quá trình quản lý.
cho hệ thống vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực
hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là
quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến
lên trạng thái mới về chất”. [23, tr 35].
Theo tác giả Trần Kiểm định nghĩa: “Quản lý giáo dục, quản lý trường
học có thể là một chuỗi tác động hợp lý (Có mục đích, tự giác, hệ thống, có kế
hoạch) mang tính tổ chức sư phạm của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên và
học sinh, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường nhằm huy
động họ cùng cộng tác, phối hợp, tham gia vào mọi hoạt động của nhà trường
nhằm làm cho quá trình này vận hành tối ưu tới việc hoàn thành những mục tiêu
dự kiến” [16, tr 67].
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường, quản lý giáo dục nói chung
là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình,
tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu
giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục và thế hệ trẻ và đối với từng
học sinh" [11, Tr 34].
13
Qua các định nghĩa trên có thể thấy, quản lý giáo dục là tập hợp những
biện pháp: tổ chức, phương pháp, kế hoạch hoá,… tác động có mục đích, hợp
quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đảm bảo sự vận hành
bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục. Quản lý giáo dục có thể
hiểu là sự quản lý hệ thống GDĐT bao gồm một hay nhiều cơ sở giáo dục, trong
đó nhà trường là đơn vị cơ sở, ở đó diễn ra các hoạt động quản lý giáo dục cơ
bản nhất.
Trong quản lý giáo dục, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp;
đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật và các hoạt
động thực hiện các chức năng của quá trình giáo dục đào tạo.
Tóm lại: Quản lý giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của
ngành giáo dục, nhà quản lý giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương
pháp chung nhất của khoa học nhằm đạt được những mục tiêu đề ra. Những tác
- Bộ máy tổ chức đào tạo.
Quản lý giáo dục chính là quá trình xử lý các tình huống có vấn đề phát
sinh trong hoạt động tương tác của các yếu tố trên để nhà trường phát triển, đạt
tới chất lượng tổng thể bền vững, làm cho giáo dục vừa là mục tiêu, vừa là sức
mạnh của nền kinh tế.
1.2.3. Khái niệm nghề và đào tạo nghề.
1.2.3.1. Khái niệm về nghề
Khái niệm nghề theo quan niệm ở mỗi quốc gia đều có sự khác nhau nhất
định. Cho đến nay thuật ngữ “nghề” được hiểu và định nghĩa theo nhiều cách
khác nhau. Dưới đây là một số khái niệm về nghề.
+ Khái niệm nghề ở Nga được định nghĩa: "Là một loại hoạt động lao
động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn"
+ Khái niệm nghề ở Pháp: "Là một loại lao động có thói quen về kỹ năng,
kỹ xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sống".
+ Khái niệm nghề ở Anh được định nghĩa: "Là công việc chuyên môn đòi
hỏi một sự đào tạo trong khoa học nghệ thuật".
+ Khái niệm nghề ở Đức được định nghĩa: "Là hoạt động cần thiết cho xã
hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở trình độ nào đó".
Như vậy nghề là một hiện tượng xã hội có tính lịch sử rất phổ biến gắn chặt với sự
phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn minh nhân loại. Bởi vậy
được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau.
Nghề là một khái niệm rộng và phức tạp, đặt vào từng hoàn cảnh hay xét
theo mỗi góc độ cụ thể, khái niệm này có phạm vi rộng, hẹp khác nhau:
- Nghề là một khâu độc lập của sự phân công lao động hoặc là một dạng
hoạt động do con người thực hiện nhằm hoàn thành những công việc theo sự
phân công lao động.
15
- Nghề là một tập hợp các chuyên môn gần nhau, còn chuyên môn là một
lĩnh vực hoạt động mà trong đó con người sử dụng sức mạnh thể chất và tinh
thần của mình để làm ra những sản phẩm có ích cho xã hội phù hợp với sự phân
- Nghề đào tạo là nghề mà muốn nắm vững nó con người phải có trình độ
16
văn hóa nhất định, được đào tạo hệ thống, bằng nhiều hình thức và được chứng
nhận bằng các văn bằng, chứng chỉ. Các nghề đào tạo được phân biệt với nhau
qua các yêu cầu về nội dung chương trình, mức độ chuyên môn và thời gian cần
thiết để đào tạo.
- Nghề xã hội là nghề được hình thành tự phát theo nhu cầu và chỉ cần đào
tạo ngắn hạn, hướng dẫn qua thậm chí là bắt chước làm theo hoặc truyền nghề là
có thể làm được.
Như vậy: nghề là kết quả của sự phân công lao động xã hội, sự phân công
đó ở các thứ bậc khác nhau tương ứng theo trình độ đào tạo. Xã hội phát triển thì
nghề cũng phát triển theo.
Việc phân loại nghề có ý nghĩa quan trọng trong tổ chức đào tạo nghề,
tuy nhiên xuất phát
từ
yêu
cầu, mục đích sử dụng và các tiêu chí khác nhau
nên phân loại nghề khá phức tạp và phong phú. Ví dụ: phân theo tính chất của
nghề ta có nghề đơn giản, nghề kỹ thuật; hay phân theo phạm vi hoạt động
của nghề thì phân ra nghề diện hẹp, nghề diện rộng.
* Phân theo lĩnh vực quản lý, lãnh đạo có 10 nhóm n
ghề:
- Lãnh đạo các cơ quan Đảng, Nhà nước, đoàn thể và các bộ phận
trong các cơ quan đó.
- Lãnh đạo doanh nghiệp
- Cán bộ kinh tế, kế hoạch tài chính, thống kê, kế toán
- Cán bộ kỹ thuật công nghiệp
- Cán bộ kỹ thuật nông, lâm nghiệp
- Cán bộ khoa học giáo dục
- Phục vụ công cộng và sinh hoạt
- Các nghề sản xuất khác
1.2.3.2. Khái niệm về đào tạo nghề
- Dưới góc độ sản xuất, William Mc. Gehee định nghĩa: Đào tạo nghề là
những quy trình mà công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập sao cho kết
quả hành vi đóng góp vào mục đích và các mục tiêu của công ty.
- Dưới góc độ đào tạo nghề, Max Forter định nghĩa: Đào tạo nghề phải
đáp ứng việc hoàn thành bốn điều kiện: Gợi ra những giải pháp ở người học;
phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ; tạo ra sự thay đổi trong hành vi; đạt được
những mục tiêu chuyên biệt.
- Dưới góc độ phát triển nhân lực, Leconnard Nadle định nghĩa: Đào tạo
nghề là để học được những điều nhằm cải thiện việc thực hiện những công việc
hiện tại.
- Dưới góc độ lao động, Tổ chức lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: Đào
tạo nghề là nhằm cung cấp cho người học có những kỹ năng cần thiết để thực
hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới công việc, nhiệm vụ được giao.
18
- Luật Dạy nghề quy định: "Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang
bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có
thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học.
Như vậy, đào tạo nghề là quá trình tác động của người dạy nghề đến
người học nghề nhằm phát triển có hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ của
người học nghề một cách tốt nhất để người học nghề sau khi được đào tạo họ có
thể làm được những việc có liên quan đến nghề đã học.
Như vậy, đào tạo nghề là một quá trình tác động có chủ đích của con người
nhằm phát triển tay nghề (dạy nghề) và đạo đức, văn hóa nghề nghiệp (nhân
cách) của họ, thể hiện trên 3 mặt: Kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp, phù
hợp với yêu cầu của thị trường lao động và phát triển nguồn lực quốc gia.
Hiện nay, đào tạo nghề mang tính tích hợp giữa lý thuyết và thực hành.
Sự tích hợp thể hiện ở
Nhà trường là hạt nhân của hệ thống giáo dục. Do vậy, quản lý nhà trường
là một phận trong quản lý giáo dục. Nhà trường chính là nơi tiến hành các quá
trình giáo dục và đào tạo, có nhiệm vụ trang bị kiến thức cho nhóm dân cư nhất
định, thực hiện tối đa một quy luật tiến bộ xã hội là: "Thế hệ đi sau phải lĩnh hội
được tất cả các kinh nghiệm xã hội mà thế hệ đi trước đã tích luỹ và truyền thụ
lại, đồng thời phải làm phong phú các kinh nghiệm đó" [2, tr.45].
Quản lý nhà trường là quản lý một hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt,
nó đòi hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể
quản lý để đảm bảo sự vận hành tối ưu xã hội kinh tế và tổ chức sư phạm của
quá trình dạy học và giáo dục thế hệ trẻ.
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo
dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận
hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối
với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh". [11, tr.45].
Như vậy, quản lý nhà trường là quản lý quá trình dạy học, giáo dục, quản
lý các điều kiện thiết yếu của việc dạy và học như quản lý nhân lực, tài chính, cơ
sở vật chất, quản lý lớp học như nhiệm vụ của giáo viên, quản lý môi trường
giáo dục, quản lý mối liên hệ giữa nhà trường và cộng đồng. Có thể nhận thức
trực quan về quản lý trường học qua sơ đồ dưới đây:
1.2.4.2. Quản lý trường dạy nghề
Trường dạy nghề là cơ sở giáo dục, thuộc hệ thống giáo dục quốc dân,
thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
Trường dạy nghề chịu sự quản lý Nhà nước thống nhất về dạy nghề của
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội. Chịu sự quản lý trực tiếp của cơ quan ra
quyết định thành lập, đồng thời chịu sự quản lý theo lãnh thổ của UBND tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương nơi trường đặt trụ sở.
Ta có thể hiểu, quản lý trường dạy nghề là quản lý hoạt động dạy và học
nhằm đạt được mục tiêu đào tạo đề ra. Đó là quá trình tập hợp các tác động tối ưu
của sự tác động, tham gia, phối hợp, huy động, can thiệp của các chủ thể quản lý
đến tập thể giáo viên, học sinh sinh viên và cán bộ khác nhằm thực hiện nhiệm vụ
+ Công tác tuyển sinh
+ Mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp và kế hoạch đào tạo nghề
+ Hình thức tổ chức đào tạo nghề
+ Hoạt động dạy – học nghề
+ Công tác quy hoạch phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện đào tạo nghề
21