Biện pháp quản lý đào tạo nghề nhà hàng khách sạn tại trường cao đẳng nghề trần hưng đạo - Pdf 31

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THÀNH HƢNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ NHÀ HÀNG-KHÁCH SẠN
TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRẦN HƢNG ĐẠO

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI – 2013


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THÀNH HƢNG

BIỆN PHÁP QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ NHÀ HÀNG-KHÁCH SẠN
TẠI TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ TRẦN HƢNG ĐẠO

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Xuân Thức

HÀ NỘI – 2013


LỜI CẢM ƠN


Ban giám hiệu

BP

Biện pháp

CBQL

Cán bộ quản lí

CBQLDN

Cán bộ quản lí doanh nghiệp

CNH-HĐH

Công nghiệp hóa, hiện đại hóa

CNTT

Công nghệ thông tin

ĐHSP

Đại học sư phạm

GD

Giáo dục


Phó giáo sư-Tiến sĩ

QLGD

Quản lí giáo dục

QLNN

Quản lí nhà nước

TB

Trung bình

TC-HC

Tổ chức hành chính

THPT

Trung học phổ thông

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

UBND

Ủy ban nhân dân


6. Bảng 2.6

Đánh giá của CBQL và GV về sự phù hợp và mức độ thực
hiện các biện pháp quản lý mục tiêu đào tạo……………36

7. Bảng 2.7

Đánh giá của CBQL và GV về sự cần thiết và mức độ thực
hiện các biện pháp quản lý kế hoạch, nội dung, chương
trình đào tạo…………………………………………...38

8. Bảng 2.8

Đánh giá của CBQL và GV về sự cần thiết và mức độ thực
hiện các biện pháp quản lý phương pháp đào tạo……….40

9. Bảng 2.9

Đánh giá của CBQL và GV về sự cần thiết và mức độ thực
hiện các biện pháp quản lý cơ sở vật chất trang thiết bị
phục vụ đào tạo nghề……………………………………41

10. Bảng 2.10

Đánh giá chất lượng đào tạo nghề nhà hàng - khách sạn
của CBQL và GV………………………………………43

5


Ý kiến đánh giá của 20 CBQLDN về tính cần thiết và mức
độ khả thi của các biện pháp quản lí……………………82

6


DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
SƠ ĐỒ
1. Sơ đồ 1.1

Mô hình hoạt động quản lí………………………………12

2. Sơ đồ 1.2

Quá trình quản lí…………………………...………..…14

3. Sơ đồ 3.1

Nội dung đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lí giảng
viên...................................................................................58

4. Sơ đồ 3.2

Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất……………….74
BIỂU ĐỒ

1. Biểu đồ 3.1

Quan hệ giữa tính cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp theo đánh giá của CBQL và GV…………………..78

XI Ban chấp hành Trung ương Đảng khẳng định vị trí, vai trò của giáo dục và đào
tạo nghề: "....phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan
trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy
nguồn nhân lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế
nhanh và bền vững". Ngày 29/5/2012 Thủ Tướng chính phủ ban hành Quyết định
630/QĐ-TTg, phê duyệt Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011 – 2020, trong
đó nêu rõ: “Phát triển dạy nghề là sự nghiệp và trách nhiệm của toàn xã hội; là một
nội dung quan trọng của chiến lược, quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia. Thực
hiện đổi mới cơ bản, mạnh mẽ quản lý nhà nước về dạy nghề, nhằm tạo động lực
phát triển dạy nghề theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa
và hội nhập quốc tế. Đến năm 2020, dạy nghề đáp ứng được nhu cầu của thị trường
lao động cả về số lượng, chất lượng, cơ cấu nghề và trình độ đào tạo; chất lượng
đào tạo của một số nghề đạt trình độ các nước phát triển trong khu vực ASEAN
và trên thế giới; hình thành đội ngũ lao động lành nghề, góp phần nâng cao năng
lực cạnh tranh quốc gia”.

8


Sang thế kỷ XXI, nền kinh tế thế giới chuyển sang kinh tế tri thức, nền kinh
tế cơ bản dựa vào trí tuệ. Động lực để phát triển kinh tế tri thức đó là giáo dục và
đào tạo nghề, đồng thời với xu thế hội nhập quốc tế, Việt Nam phải nhanh chóng rút
ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước trong khu vực. Phát triển giáo dục và đào
tạo nghề sẽ góp phần nhanh chóng rút ngắn khoảng cách đó. Ngày nay các ngành
nghề dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế, nên yêu cầu về đào
tạo nhân lực cho các ngành dịch vụ tăng lên không ngừng. Việc giao lưu, mở rộng
quan hệ, đầu tư, mở rộng kinh doanh, du lịch… khiến cho nhu cầu đi lại, ăn ở ngày
càng lớn; Vì vậy, đào tạo nghề về lĩnh vực Nhà hàng - Khách sạn chất lượng cao
đang là yêu cầu cấp bách của các cơ sở đào tạo nghề nhằm đáp ứng với nhu cầu của
các doanh nghiệp trong nước và quốc tế.

năng sáng tạo và năng lực nghề nghiệp cho HSSV. Việc đầu tư cho công tác đào tạo
còn quá thấp, cơ sở vật chất – trang thiết bị còn thiếu và yếu, cơ chế quản lý đào tạo
còn mang nặng tính hành chính thiếu sự phân công, phân cấp hợp lý, tính chuyên
nghiệp trong quản lý trong đào tạo là chưa cao.
1.4. Để công tác quản lý đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề Nhà hàng – Khách
sạn nói riêng của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo đạt chất lượng hiệu quả
cao đáp ứng với nghề trọng điểm quốc tế và khu vực thì việc nghiên cứu và đưa ra
những biện pháp quản lý hoạt động đào tạo có hiệu quả là vấn đề hết sức cấp thiết
của Nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
Xuất phát từ các lí do trên học viên đã lựa chọn đề tài: “Biện pháp quản lý
đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn tại Trƣờng Cao đẳng nghề Trần Hƣng
Đạo” nhằm nghiên cứu đề xuất một số biện pháp quản lý đào tạo nghề Nhà hàng Khách sạn với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nghề, đáp ứng nhu cầu của các
doanh nghiệp trong nước và quốc tế.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt
động đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn để đề xuất các biện pháp quản lý đào tạo
nghề Nhà hàng – Khách sạn của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo nhằm nâng
cao chất lượng đào tạo và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường lao động.
3. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
- Quản lý đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn tại Trường Cao đẳng nghề
Trần Hưng Đạo.
3.2. Đối tượng nghiên cứu

10


- Biện pháp quản lý đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn tại Trường Cao đẳng
nghề Trần Hưng Đạo.
4. Giả thuyết nghiên cứu

8.1. Ý nghĩa lý luận
Tổng kết thực tiễn công tác quản lý đào tạo nghề nói chung và nghề Nhà
hàng-khách sạn nói riêng của của Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo, chỉ ra
những bài học thành công và mặt hạn chế, cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng
quy trình quản lý đào tạo nghể
8.2. Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho các cơ sở khác trong cả nước
đang đào tạo nghể. Nó còn có giá trị tham khảo cho các nhà quản lý giáo dục.
9. Dự kiến cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ
lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đào tạo nghề ở trường Đại học, cao
đẳng.
Chương 2: Thực trạng quản lý đào tạo nghề Nhà hàng - Khách sạn ở trường
Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo.
Chương 3: Biện pháp quản lý nâng cao chất lượng đào tạo nghề Nhà hàng Khách sạn tại trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo.

12


CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ
Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Ở Việt Nam, những vấn đề về đào tạo nghề, quản lí quá trình đào tạo nghề
cũng được quan tâm ngay từ cuối những năm 70 của thế kỷ XX, khi đó còn Tổng
cục dạy nghề. Lúc đó, một số các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực giáo dục nghề
nghiệp, tâm lý học lao động (ví dụ như Đặng Danh Ánh, Nguyễn Ngọc Đường,
Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Bá Dương,..) đã chủ động nghiên cứu những khía cạnh
khác nhau về sự hình thành nghề và công tác dạy nghề. Đặc biệt, một số nhà nghiên
cứu khác như Đặng Quốc Bảo, Trần Kiểm, Nguyễn Thị Mỹ Lộc,...đã đi sâu nghiên

có nhưng ở lĩnh vực Nhà hàng – Khách sạn chưa có công trình nghiên cứu nào.
Do vậy, nghiên cứu đề tài: “Biện pháp quản lý đào tạo nghề Nhà hàng –
Khách sạn ở Trường Cao đẳng nghề Trần Hưng Đạo” và áp dụng tại trường sẽ góp
phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề Nhà hàng – Khách sạn cho học sinh sinh
viên để khi ra trường các em đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động.
1.2. Các khái niệm cơ bản
1.2.1. Quản lí
“Quản lí” là từ Hán Việt được ghép giữa từ “Quản” và từ “Lí”.
“Quản” là sự trông coi, chăm sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định. “Lí”
là sự sửa sang, sắp xếp, làm cho nó phát triển. Như vậy, “Quản lí” là trông coi,
chăm sóc, sửa sang làm cho nó ổn định và phát triển.
Quản lí là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, là một phạm trù tồn tại
khách quan được ra đời từ bản thân nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi quốc gia và
ở mọi thời đại. Lịch sử đã chỉ rõ, ngay từ buổi sơ khai của loài người, để tồn tại và
phát triển con người đã biết liên kết nhau thành các nhóm để chống lại thú dữ và
thiên nhiên. Do đó đã xuất hiện các mối quan hệ giữa con người với con người, giữa
con người với thiên nhiên, giữa con người với xã hội và giữa con người với bản
thân mình. Trong quá trình ấy đã xuất hiện một số người có năng lực chi phối được
người khác, họ điều khiển hoạt động của nhóm sao cho phù hợp với mục tiêu
chung. Những người đó đóng vai trò thủ lĩnh để quản lí nhóm, điều này đã làm nẩy
sinh nhu cầu về quản lí. Như vậy, quản lí xuất hiện từ rất sớm và tồn tại, phát triển
đến ngày nay.
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lí là chức năng của những hệ có tổ
chức, với bản chất khác nhau: sinh học, xã hội học, kỹ thuật... nó bảo toàn cấu trúc

14


các hệ, duy trì chế độ hoạt động. Quản lí là một tác động hợp quy luật khách quan,
làm cho hệ vận động, vận hành và phát triển.

thể quản lí để chỉ huy, điều khiển hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt
động của con người nhằm đạt được mục đích, đúng với ý chí nhà quản lí, phù hợp
với quy luật khách quan” [37, tr 1].

16


Tóm lại: các quan niệm trên đây, tuy mỗi quan niệm nhấn mạnh mặt này hay
mặt khác nhưng đều có điểm chung thống nhất xác định quản lí là hoạt động có tổ
chức, có mục đích nhằm đạt tới mục tiêu xác định. Hay nói một cách khái quát
nhất: quản lí là một quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật
của chủ thể quản lí tới khách thể quản lí nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của tổ
chức đã đề ra.
Khái niệm quản lí bao hàm một ý nghĩa chung là:
- Quản lí là những tác động có tính hướng đích.
- Hoạt động quản lí được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
- Quản lí là các hoạt động thực hiện nhằm đảm bảo hoàn thành công việc
qua những nỗ lực của mọi người trong tổ chức.
- Quản lí là một hoạt động thiết yếu, đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá
nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm.
- Quản lí là phương thức tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm
người, một tổ chức, một cơ quan hay nói rộng hơn là một Quốc gia.
- Quản lí là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lí
lên đối tượng quản lí, thông qua các cơ chế quản lí, nhằm sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt
được những mục tiêu đã định.
Trong công tác quản lí bao giờ cũng có chủ thể quản lí, khách thể quản lí
quan hệ với nhau bằng các tác động quản lí. Quá trình quản lí phải có mục đích,
nhiệm vụ hoạt động chung. Khi thực hiện nhiệm vụ quản lí, chủ thể quản lí luôn
hướng theo mục đích quản lí đã xác định để điều khiển đối tượng bị quản lí thực

Phương pháp quản lí là cách thức tác động của chủ thể quản lí đến đối tượng
quản lí. Phương pháp quản lí rất phong phú và đa dạng: Phương pháp thuyết phục,
phương pháp kinh tế, phương pháp hành chính-tổ chức, phương pháp tâm lí-giáo
dục...; tùy theo từng tình huống cụ thể mà sử dụng các phương pháp khác nhau hoặc
kết hợp các phương pháp với nhau.
Mục tiêu của quản lí là tạo ra, tăng thêm và bảo vệ lợi ích của con người.
Mô hình hoạt động quản lí có thể biểu diễn qua sơ đồ 1.1.

18


CHỦ
THỂ
QUẢN LÝ

Công cụ
Quản lý
KHÁCH
THỂ
QUẢN LÝ

MỤC
TIÊU
QUẢN LÝ

Phƣơng
pháp
Quản lý
Môi trƣờng Quản lý


+ Chỉ đạo: là công việc thường xuyên của người quản lí nhằm tác động đến
đối tượng quản lý bằng các mệnh lệnh, đặt tất cả mọi hoạt động của bộ máy trong
tầm kiểm soát nhằm làm cho người bị quản lí luôn phục tùng, phát huy tính tự giác
và tính kỷ luật để làm việc đúng theo kế hoạch, đúng với chức năng, nhiệm vụ đã
phân công. Nói cách khác đây là quá trình tác động, động viên, tạo động lực, gây
ảnh hưởng của chủ thể quản lí đến khách thể quản lí nhằm đạt được mục tiêu đã
định.
+ Kiểm tra đánh giá: là nhiệm vụ quan trọng có liên quan đến mọi cấp quản
lí nhằm thu thập thông tin ngược của người quản lí để kiểm soát hoạt động của bộ
máy nhằm đo lường, phát hiện các sai sót để điều chỉnh kịp thời giúp bộ máy đạt
được mục tiêu. Có thể nói: kiểm tra là tai mắt của quản lí.
Trong công tác lãnh đạo, quản lí và chỉ huy, Bác Hồ đã từng nói: "Không có
kiểm tra đánh giá coi như không có lãnh đạo". Qua đó đủ thấy vai trò kiểm tra đánh
giá, rút ra bài học điều chỉnh mọi hoạt động của khách thể quản lí là việc làm không
thể thiếu của chủ thể quản lí.
Các chức năng quản lí tạo thành một chu trình thống nhất. Trong đó, mỗi
chức năng vừa có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với các
chức năng khác. Quá trình ra các quyết định quản lí là quá trình thực hiện các chức
năng theo một trình tự nhất định. Nhà quản lí không được bỏ qua hay coi nhẹ bất cứ
chức năng nào. Bên cạnh bốn chức năng cơ bản nêu trên, trong quá trình quản lí cần
quan tâm thêm hai vấn đề quan trọng là: thông tin quản lí và quyết định quản lí.
Thông tin quản lí: là dữ liệu về việc thực hiện các nhiệm vụ đã được xử lí
giúp cho người quản lí hiểu được về đối tượng mà họ đang quan tâm để phục vụ
cho việc đưa ra các quyết định cần thiết trong quá trình quản lí. Thông tin quản lí

20


không những là tiền đề của quản lí mà còn là huyết mạch quan trọng để duy trì quá
trình quản lí, lí là cơ sở để người quản lí đưa ra những quyết định đúng đắn, kịp thời

phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [26, tr 14].

21


Còn theo tác giả Trần Kiểm: “quản lí giáo dục là hoạt động tự giác của chủ
thể quản lí nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát,...một cách có
hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu
phát triển giáo dục, đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội” [25, tr 10].
Còn xét ở cấp vi mô, cấp quản lí một nhà trường/cơ sở giáo dục:
Theo học giả nổi tiếng M.I Konđakốp: "Quản lí giáo dục là tập hợp những
biện pháp nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống
giáo dục để tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về số lượng cũng như chất
lượng" [28, tr 93].
Theo Phạm Minh Hạc: "Quản lí giáo dục là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí làm cho hệ vận hành theo
đường lối, nguyên lý của Đảng thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN
Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy, giáo dục thế hệ trẻ, đưa thế hệ trẻ,
đưa hệ giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất" [16, tr 7].
Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lí giáo dục vi mô được hiểu là những
tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp qui luật)
của chủ thể quản lí đến tập thể GV, CNV, tập thể HS, cha mẹ HS và các lực lượng
xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục
tiêu phát triển giáo dục của nhà trường” [25, tr 12].
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lí nhà trường là thực hiện đường
lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường
vận hành theo nguyên lí giáo dục, để tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo với
ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [34, tr 61].
Tóm lại: Quản lí giáo dục chính là quá trình tác động có định hướng của
ngành giáo dục, nhà quản lí giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp


/đối

tượng quản lí đều là Người -Việc-Vật và đối với một cơ sở GD &ĐT nói chung và
nhà trường nói riêng “Việc” chủ yếu là hoạt động thực hiện nhiệm vụ GD &ĐT con
người và hoạt động dạy học là nội dung hoạt động quan trọng nhất của một nhà
trường và cơ sở GD.
Tóm lại, quản lí nhà trường về bản chất là quản lí con người. Điều đó tạo cho
chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặt chẽ không
chỉ bởi cơ chế hoạt động theo những qui luật khách quan của một tổ chức xã hội –
Nhà trường, mà còn bởi hoạt động chủ quan, hoạt động quản lí của chính bản thân
giáo viên và học sinh. Trong nhà trường, giáo viên và học sinh vừa là chủ thể quản
lí, vừa là đối tượng quản lí. Với tư cách chủ thể quản lí, họ là người tham gia chủ
động tích cực vào hoạt động quản lí chung và biến nhà trường thành hệ tự quản lí.
Với tư cách là đối tượng quản lí giáo viên và học sinh chịu sự tác động của chủ thể
quản lí – Hiệu trưởng.
Vì vậy quản lí nhà trường là phải vận dụng tất cả các nguyên lí chung của
quản lí giáo dục, bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm thực hiện có hiệu
quả tiêu đào tạo của nhà trường.
1.2.3. Đào tạo
Đào tạo là việc huấn luyện, giảng dạy, tập huấn cho một nhóm người, một tổ
chức, một xã hội về một vấn đề, và nhằm đạt đến một mục tiêu nhất định.

23


Đào tạo là phương pháp truyền thống nhằm thay đổi kiến thức, các kỹ năng,
nhưng nó không giống với việc học của người lớn. Trong khi việc đào tạo thường
được sử dụng, kết quả của nó sẽ được nâng cao hơn nếu thực hiện cách tiếp cận
theo những nguyên tắc đào tạo người trưởng thành.


Đào tạo nghề là một lĩnh vực bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trường
nhằm cung cấp kiến thức và giáo dục cho học sinh, sinh viên. Đây là công việc kết
nối giữa mục tiêu đào tạo, nội dung chương trình đào tạo, tổ chức thực hiện chương
trình và các vấn đề liên quan đến tuyển sinh, đào tạo, giám sát, đánh giá, kiểm tra,
tổ chức thực tập, thi tốt nghiệp cùng các quy trình đánh giá khác, các chính sách
liên quan đến chuẩn mực và cấp bằng ở lĩnh vực đào tạo chuyên nghiệp ở các cơ sở
đào tạo nghề nghiệp.
Tác giả William Mc Gehee cho rằng: “Dạy nghề là những qui trình mà các
công ty sử dụng để tạo thuận lợi cho việc học tập có kết quả các hành vi đóng góp
vào mục đích và các mục tiêu của công ty”.
Ông Max Forter (1979) đưa ra khái niệm Dạy nghề là đáp ứng bốn điều kiện:
+ Gợi ra những giải pháp cho người học
+ Phát triển tri thức, kỹ năng và thái độ
+ Tạo ra sự thay đổi trong hành vi
+ Đạt được những mục tiêu chuyên biệt
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) định nghĩa: “Dạy nghề là cung cấp cho
người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các nhiệm vụ liên quan tới
công việc nghề nghiệp được giao”.
Ngày 29/11/2006, Quốc hội đã ban hành Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11.
Trong đó viết:
“Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và
thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc
từ tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [32, tr 02].
Qua đó, ta có thể thấy Dạy nghề là khâu quan trọng trong việc giải quyết việc
làm cho người lao động, tuy nó không tạo ra việc làm ngay nhưng nó lại là yếu tố
cơ bản tạo thuận lợi cho quá trình tìm việc làm và thực hiện công việc. Dạy nghề
giúp cho người lao động có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp
để từ đó họ có thể xin làm việc trong các cơ quan, doanh nghiệp, hoặc có thể tự tạo
ra công việc sản xuất cho bản thân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status