Hướng dẫn học sinh cảm thụ cái hay, cái đẹp của nghệ thuật “ thơ mới”qua bài “ quê hương” của tế hanh - Pdf 13

SKKN
Tên đề tài:Hướng dẫn học sinh cảm thụ cái hay, cái đẹp của nghệ thuật “ Thơ mới”qua bài “ Quê hương” của Tế Hanh.

KINH NGHIỆM HƯỚNG DẪN HỌC SINH
CẢM THỤ CÁI HAY, CÁI ĐẸP CỦA NGHỆ THUẬT “THƠ MỚI” QUA BÀI
“ QUÊ HƯƠNG” CỦA TẾ HANH.
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1, Cơ sở lí luận:
Trong những năm đầu của thế kỷ XX, phong trào “Thơ mới” là “ Cuộc cách mạng
về thơ ca” chưa từng có trong lịch sử văn học dân tộc ta. Nó chẳng những đem lại
nhiều tác phẩm hay, độc đáo mà còn đem lại một phạm trù văn thơ hiện đại, một thi
pháp mới thay cho thơ trữ tình truyền thống. Thơ trữ tình Việt Nam kể từ thơ mới là
sự phát triển sâu hơn, nhiều vẻ hơn những khả năng nghệ thuật mới của thơ ca đã được
mở đầu và định hình.Ở thơ mới phải thừa nhận rằng, thơ mới có một giá trị thẩm mĩ,
giá trị nhân văn rất lớn. Nó có sức lay động đến tâm hồn con người, như bàn tay của
người nhạc sỹ chạm vào những dây đàn làm rung lên những cảm xúc khác nhau trong
con người. Khai sinh và mở rộng vào những năm ba mươi, “ Phong trào thơ mới” đã
gây nên những va động trong đời sống văn học. Từ đấy cho đến nay không ít nhà khoa
học dày công nghiên cứu tìm tòi những giá trị của nghệ thuật thơ mới.
Một thời kì dài, do những quan niệm lệch lạc của người ta đã coi thơ lãng mạn
Việt Nam, trong đó có “Thơ mới” như dòng chảy bên ngoài cuộc sống, không phải là
ngọn nguồn của thành tựu văn học Việt Nam, như thơ ca cổ điển của Nguyễn Trãi,
Nguyễn Du, thơ ca cách mạng của Tố Hữu.
Vì vậy thơ mới được đưa vào giảng dạy hết sức hạn chế, ít ỏi. Cuộc cải cách mở
cửa về kinh tế đã kéo dài những quan niệm mới về văn học nghệ thuật “ Thơ mới”
được nhận lại những giá trị đích thực và được đưa vào nội dung chính để giảng dạy
trong nhà trường.
2. Cơ sở thực tiễn:
Trong nền văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng Tháng Tám năm
1945, ở chương trình Ngữ văn lớp 8, thơ lãng mạn, trong đó thơ mới được đưa vào
giảng dạy khá nhiều, trong đó có bài thơ: “ Quê hương” của nhà thơ Tế Hanh.

Hiểu được vấn đề đó, là một giáo viên dạy Văn, tôi luôn trăn trở làm sao giúp học
sinh chuyển hướng suy nghĩ của mình để có sự hứng thú trong học văn, để giúp các
em hiểu được học Văn là hướng con người tới cái chân, thiện, mĩ, hướng tới cái đẹp
của cuộc sống. Vì thế tôi mạnh dạn nêu ra suy nghĩ của mình về một vài kinh nghiệm
nhỏ trong dạy Văn nói chung và dạy thơ ở lớp 8 nói riêng thông qua một tiết học cụ
thể.
Trước khi tiến hành áp dụng đề tài này, tôi đã khảo sát tình hình học sinh hiểu bài
môn Ngữ văn khối 8, kết quả như sau:
B.
GIẢI QUYẾT VẤN Đ Ề:
I. Đặc trưng nghệ thuật của “ Thơ mới” trong nền thơ Việt Nam hiện đại:
Là giáo viên, mỗi chúng ta phải thấy được cái “mới” của “ Thơ mới” so với thơ cũ.
Mới và cũ, cái ranh giới và con người một cách đặc thù. Nếu như thơ cổ điển đã hoàn
thành khuôn thước bất di bất dịch về cách biểu hiện cảm xúc về thực trạng ấy thì “
Nhà thơ lãng mạn muốn bày tỏ cho chúng ta trước hết là về chính họ, là phơi bày tâm
hồn, cõi lòng họ.” ( V. Gri – munxi). Con người trong thơ trữ tình cổ điển là con người
điển hình của cái ta “ Tự tôn”, “Tự trọng”, “ Tự túc”, “ Tự tại”.Ngược lại con người
trữ tình “ Thơ mới” là con người của cái tôi cá nhân, cái tôi nằm ở trung tâm cảm
nhận, là nguyên tắc giới quan. Đọc thơ họ ta thấy rõ tâm hồn của họ rất riêng, rất cá
thể. Do cảm nhận con người và thế giới khách quan bằng cái tôi riêng nên cách biểu
hiện của “ Thơ mới” cũng khác thơ cổ điển.
I. 1. Thi pháp thời gian, không gian nghệ thuật trong “ Thơ mới”:
I.1.1. Thời gian nghệ thuật:
Thời gian trong thơ cổ điển là bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông với “ Đêm năm canh,
ngày sáu khắc”. Đêm và ngày luôn ở trong chỉnh thể đối nhau.
“ Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén
Ngày vàng xem hoa bợ cây.”
(Nguyễn Trãi)
Nếu trong thơ cổ điển, các nhà thơ thường lấy thiên nhiên vũ trụ làm cảm xúc. Dù
viết như thế nào đi chăng nữa thì họ đều hướng tới cai chuẩn mực của thiên nhiên, vũ

chung.
“ Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ, lâu đài bóng tịch dương
Đá vẫn trơ gan cùng tức nguyệt
Nước còn chau mặt với tang thương.”
( Thăng Long thành hoài cổ - Bà Huyện Thanh Quan)
Không gian trong thơ mới là không gian sống động, đa chiều, muôn màu, muôn vẻ
và mang cảm giác của cá nhân rõ rệt. Không gian buổi mai hồng với cách buồm, con
thuyền của Tế Hanh. Tất cả đều sống động, cụ thể, hữu tình và gợi cảm, đồng thời
cũng rất riêng biệt.Đối lập với cuộc sống xã hội lúc bấy giờ, đất nước ta đang sống
trong xã hội nửa thực dân nửa phong kiến nên cuộc sống của người dân nói chung và
của văn nghệ sĩ nói riêng đang bị gò bó, chưa được tự do. Trong hoàn cảnh ấy đã xuất
hiện nhiều tác phẩm điển hình với những cảm xúc và tình yêu cuộc sống mới, trong đó
tiêu biểu lànhà thơ Tế Hanh.
Nhắc đến Tế Hanh, người ta nghĩ ngay đến hình ảnh của “ Cánh buồm giương to
như mảnh hồn làng, rướn thân trắng bao la thâu góp gió.”, chính Hoài Thanh, Hoài
Chân trong cuốn “ Thi nhân Việt Nam” đã viết: “ Thơ Tế Hanh đưa ta vào một thế
giới rất gần gũi….cái thế giới của những tình cảm đã âm thầm trao cho cảnh vật: Sự
mỏi mệt, say sưa của thuyền lúc trở về bến, nỗi khổ đau chất chứa trên toa tàu nặng
trĩu, những vui buồn, sầu tủi của một con đường.
Nhà thơ cổ điển nhìn vào vật, thế giới bằng cái nhìn siêu cá thể. Vì vậy mà mọi
biểu hiện của thế giới ấy có thuộc tính chung, mặc dầu cũng là nỗi buồn, thơ của
“Chinhh Phụ Ngâm” với cái buồn nhớ của Bà Huyện Thanh Quan.
“ Nước có chảy lòng phiền khôn rửa
Có cỏ thơm dạ nhớ chẳng khuây.”

Giáo viên: Cao Thị Hòa. Trường THCS Hoằng Lý – Thành phố Thanh Hóa
3
SKKN
Tên đề tài:Hướng dẫn học sinh cảm thụ cái hay, cái đẹp của nghệ thuật “ Thơ mới”qua bài “ Quê hương” của Tế Hanh.

Không có hình ảnh, thơ là một biến dạng của văn vần. Hình ảnh trong thơ cổ điển
thường mang tính chất ước lệ, tượng trưng. Hình ảnh trong “ Thơ mới là hình ảnh do
cá thể hoá mạng lại”. Bởi vậy nó mang tính tạo hình rất rõ nét và gắn với phong cách
của mỗi bài thơ.
Hình ảnh của thơ mới thường gắn với ẩn dụ. Đó là những tưởng tượng, liên
tưởng, cảm nhận sống động của chủ thể. Hình ảnh thường là để thể hiện những tâm
trạng:
“ Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió….”
I.2.3. Lời thơ:
Lời thơ trong thơ cổ điển thường được sắp xếp sẵn theo cách nói song song của đối
ý, đối lời, niêm luật chỉnh tề. Vì vậy nó được diễn tả theo điệu ngâm. Câu thơ Đường

Giáo viên: Cao Thị Hòa. Trường THCS Hoằng Lý – Thành phố Thanh Hóa
4
SKKN
Tên đề tài:Hướng dẫn học sinh cảm thụ cái hay, cái đẹp của nghệ thuật “ Thơ mới”qua bài “ Quê hương” của Tế Hanh.

luật như không phải là lời ai cả, hướng tới ai cả. Còn thơ mới là lời của một người cụ
thể đang giải bày về mình hoặc đang hướng tới ngoại cảnh. Câu thơ được diễn tả theo
điệu nói. Đó là lời nói cá thể, có chủ ngữ “ tôi”. Câu thơ chứa cả câu hỏi, câu cảm
thán, ngữ điệu thay đổi theo cảm xúc chủ đạo, hướng tới chính người đọc, theo kiểu
bộc bạch tâm sự bạn bè.
“ Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá.”
I.2.4. Cấu tứ:
Thơ Đường luật thường làm theo thể thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt hoặc ngũ
ngôn và kết cấu quy định: Đề - Thực - Luận - Kết.
Cấu tứ của một bài thơ mới đa dạng, mới mẻ tuỳ thuộc vào cách cảm nhận và biểu

từ cảm giác lãng mạn của cá thể,
“ Thơ mới” là những rung động xảy ra, tinh tế của bản thân nhà thơ trước cuộc sống
muôn màu, muôn vẻ. muốn học sinh cảm được giọng điệu của thơ mới, có thể so sánh

Giáo viên: Cao Thị Hòa. Trường THCS Hoằng Lý – Thành phố Thanh Hóa
5
SKKN
Tên đề tài:Hướng dẫn học sinh cảm thụ cái hay, cái đẹp của nghệ thuật “ Thơ mới”qua bài “ Quê hương” của Tế Hanh.

ngay với những bài học trong chương trình của văn thơ cổ như: “ Cảm tác vào nhà
ngục Quảng Đông”, “ Đập đá ở Côn Lôn”,… do không bị gò bó bởi niêm luật và bố
cục nên giộng điệu của các bải thơ là giọng điẹu tự nhiên của cảm xúc và của giãi bày
tâm trạng, sôi nỏi, hùng tráng, man mác, mơ màng trong hồi ức kỉ niệm.
II.1.2. Cảm nhận giọng điệu của bài “ Quê hương”.
Các bài thơ cổ đều có chung một giọng điệu theo kiểu vịnh cảnh, tức cảnh, tức sự,
ngôn chí, ngôn hoài ( ví dụ các bài” Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh củ Nguyễn Khuyến;
Thuật hứng, Ngôn chí của Nguyễn Trãi)
Giọng điệu của thơ mới vừa mang nét chung nói trên, lại vừa mang nét riêng của
từng bài thơ. Cũng như trong từng bài thơ, mỗi bài lại có một giọng điệu riêng như bài
thơ: “ Quê hương” của Tế Hanh âm điệu trong sáng, vui tươi, đằm thắm như một hồn
thơ trẻ trung, của một cái nhìn ấm áp về làng quê trong kỷ niệm. Bài được mở đầu
bằng giọng điệu êm ả, dịu ngọt, không khí sôi nỏi, chan chứa cảm xúc.
“ Khi trời trong gió nhẹ khóm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá
Chiếc thuyền hẹ hang như con tuấn mã
Thăng mái chèo mạnh mẽ vượt trường giang.”
Đã qua khúc dạo đầu, đi vào cảm xúc chủ đạo. Bài thơ chuyển thành giọng điệu
mạnh mẽ, khoẻ khoắn và khoáng đạt.
“ Cánh buồm gương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió.”

hồng và thuyền về ồn ào trên bến đổ.”
Điều cần toát lên khi giảng dạy bài thơ này chính là mảng cuộc sống đã in hẳn
trong thơ Tế Hanh, tạo nên cái riêng trong cảm nhận của nhà thơ. Cũng như cánh
buồm, con thuyền, người dân nhưng chỉ ở Tế Hanh mới có cánh buồm “ Rướn thân
trắng bao la thâu góp gió.” Trên thân mình đại dương như vậy. Khi Tế Hanh cảm
nhận tất cả những mảnh của không gian ấy bằng con mắt, trái tim của riêng mình như
vậy thì khi thể hiện nó cũng chỉ có Tế Hanh mới nói được như vậy:
“ Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ.”
II. 3. Khai thác cấu tứ và một số hình ảnh thơ đặc sắc:
II.3.1. Cấu tứ:
Cấu tứ của bài thơ: “Quê hương” thì khá rõ ràng vì nhà thơ đã nhìn cảnh vật bằng
con mắt hướng ngoài nhiều hơn, ta có thể định hình được cách khai thác bài thơ: “
Quê hương” theo hướng:
Cảnh ra khơi
* Quê hương trong hồi tưởng

Cảnh thuyền về.
*Quê hương trong nỗi nhớ hiện tại ( Khổ cuối), tuy nhiên hướng khai thác này
không bất di bất dịch cho ai trong quá trình tiếp cận, vì thơ mới đa dạng về cấu tứ nên
cũng có thể đa dạng trong tìm hiểu.
II.3.2. Hình ảnh:
Để có thể làm một giờ giảng dạy thay mới hay có sức lay động lớn. mỗi bài thơ,
giáo viên chỉ cần dừng lại ở phân tích, giảng bài, bình luận một số hình ảnh thơ đặc
sắc. Từ đó làm điểm sáng toả đi trong các bài thơ và gợi mở những giá trị về nội dung.
Hình ảnh cuộc sống tâm tưởng Hình ảnh văn bản người đọc.
Điều này rất quan trọng của người giáo viên là phải làm sao đi ngược lại quy trình
này để đưa người đọc ( học sinh) đến với được hình ảnh cuộc sống qua tâm tưởng nhà
thơ.
Bài thơ: “ Quê hương” có những hình ảnh hay, độc đáo mà giáo viên cần dừng lại,

bài theo cách triển khai các phương thức tìm hiểu về mặt nghệ thuật như vừa nêu trên.
III. Cách sắp xếp hệ thống câu hỏi của mỗi bài giảng “ Thơ mới”:
Hệ thống câu hỏi trong một bài giảng thơ mới rất quan trọng. Nếu không được cân
nhắc, lựa chọn kĩ càng và nhuần nhuyễn thì dễ làm mất chất thơ của bài thơ, từ đó mất
cả tính văn chương của giờ dạy văn.
Câu hỏi trong hệ thống bài giảng thơ ( hoặc văn) đặc biệt là thơ phải đồng thời là lời
giới thiệu, lời chuyển tíêp giữa ý khai thác này sang ý khai thác kia làm sao cho các ý
được rành mạch, có hệ thống. Tính văn chương của mỗi câu hỏi được thể hiện ở chỗ
giáo viên có thể kết hợp trong đó lời nhận xét, gợi mở hoặc giả định của mình, nhằm
tạo điệu kiện cho học sinh phát huy được trí tuệ, hướng dẫn học sinh vào trọng tâm
vấn đề cần giải đáp. Một điều quan trọng là nội dung câu hỏi phải là sự khám phá về
nghệ thuật của tác giả, của tác phẩm. Để hiểu sâu hơn nội dung, câu hỏi phải đi vào
trọng tâm, không vụn vặt, hơi ít, mà gợi cho học sinh phát biểu nhiều và có nhiều ý
kiến khác nhau trả lời cho câu hỏi đó.
Sau đây là hệ thống câu hỏi của bài giảng “ Quê hương:
H? Tóm tắt những nét chính về cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà thơ?
H?. Bài thơ được mở ra với âm điệu hết sức tự nhiên, nhẹ nhàng, tác giả đã giới thiệu
cho ta về làng quê của ông như thế nào qua những câu thơ mở đầu đó?
H? Hãy đọc những câu thơ tiếp theo, những câu thơ này đã gợi cho ta một bức tranh
phong cảnh rất đẹp, rất sống động, trong bức tranh đó đã làm nổi bật nên cảnh chính
gì?
H? Không gian của bức tranh được in đậm bởi những nét phác thảo gì? Em có thể hình
dung được đây là một bầu không gian như thế nào?
H? Hình ảnh “ Dân trai tráng” với “chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã” gợi nên
cho em điều gì? ( Người ra khơi mang tâm trạng gì?)

Giáo viên: Cao Thị Hòa. Trường THCS Hoằng Lý – Thành phố Thanh Hóa
8
SKKN
Tên đề tài:Hướng dẫn học sinh cảm thụ cái hay, cái đẹp của nghệ thuật “ Thơ mới”qua bài “ Quê hương” của Tế Hanh.

những năm đầu thế kỷ. Nó không những chỉ khai sinh, tạo dựng một nền thơ hiện đại
với nhiều phong cách mà còn đặt nền móng cho thơ ca Việt Nam thế kỉ XX và thế kỉ
XXI. Các bài thơ được chọn dạy trong chương trình Ngữ văn lớp 8 là những bài thơ
đặc sắc. Giảng dạy tốt các bài thơ này là một điều quan trọng, cần thiết. Vì vậy sau khi
tìm hiểu, nghiên cứu đề tài này, tôi xin được mạnh dạn rút ra một số điểm sau:
1. Điều kiện để truyền thụ tốt là người giáo viên cần phải cảm và hiểu một cách
sâu sắc, bằng tất cả tâm hồn bài thơ ấy.
2. Phải nhận ra được đặc trưng nghệ thuật của thơ mới nói chung trong từng bài và
cái hay riêng của bài thơ.
3. Khai thác các yếu tố nghệ thuật để làm nổi bật nội dung. Không tham lam ôm
đồm mà phải đi vào chiều sâu của nghệ thuật ấy.
4. Huy động mọi giác quan và trí tuệ của học sinh trong quá trình tiếp thu bài
giảng và trả lời câu hỏi của giáo viên.

Giáo viên: Cao Thị Hòa. Trường THCS Hoằng Lý – Thành phố Thanh Hóa
9
SKKN
Tên đề tài:Hướng dẫn học sinh cảm thụ cái hay, cái đẹp của nghệ thuật “ Thơ mới”qua bài “ Quê hương” của Tế Hanh.

5. Tạo không khí vui tươi, hồ hởi, trang nghiêm trong giờ dạy. Điều này rất quan
trọng trong giờ dạy thơ.
6. Cuối cùng là luôn tạo ra một khoảng tự do trong suy nghĩ của mỗi học sinh,
không gò ép, áp đặt, tạo điều kiện phát huy những cảm nhận và cảm thụ riêng.
Kết quả khảo sát sau khi áp dụng kinh nghiệm trên vào giảng dạy môn Ngữ văn
nói chung và dạy thơ nói riêng của khối 8 ở trường tôi như sau:
Trên đây là những suy nghĩ và kinh nghiệm giảng dạy của cá nhân tôi rút ra trong
quá trình giảng dạy và đã đạt được các kết quả tốt khi thực hiện giảng dạy một bài
thơ: Có 97,5% học sinh chú ý nghe cô giáo giảng bài và có 55% học sinh hăng say
phát biểu ý kiến của mình trước lớp.
Mong được sự góp ý của các đồng nghiệp!

I.2.2. Hình ảnh.
I.2.3. Lời thơ.
I. 2.4. Cấu tứ.
II. Hướng dẫn học sinh cảm thụ, phân tích cái hay, cái đẹp của nghệ thuật “ THơ mới”
qua bài “ Quê hương” của Tế Hanh.
II.1. Khơi dậy những rung động sâu xa, đẹp đẽ qua nhạc điệu, giọng thơ của nghệ
thuật “ Thơ mới”.
II.1.1. Cảm nhận giọng điệu chung của “ Thơ mới”
II. 1.2. Cảm nhận giọng điệu của bài thơ: “Quê hương”
II. 2. Khai thác thời gian, không gian nghệ thuật của bài thơ: “ Quê hương”
II. 3. Khai thác cấu tứ và một số hình ảnh thơ đặc sắc.
II. 3. 1. Cấu tứ.
II. 3. 2. Hình ảnh.
II. 4. Khai thác lời thơ.
III. Cách sắp xếp hệ thống câu hỏi của mỗi bài giảng “ Thơ mới”
C. KẾT LUẬN.

Giáo viên: Cao Thị Hòa. Trường THCS Hoằng Lý – Thành phố Thanh Hóa
11


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status