BỘ Y TẾ
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG SINH HỌC VÀ
ĐỘC TÍNH CỦA CÂY LƯỢC VÀNG
CALLISIA FRAGRANS (LINDL.) WOODS.
Chủ nhiệm đề tài: TSKH. Nguyễn Minh Khởi
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Dược liệu Chủ nhiệm đề tài: TSKH. Nguyễn Minh Khởi
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Dược liệu
Cấp quản lý: Bộ Y tế
Thời gian thực hiện: từ tháng 9/2009 đến tháng 9/2010
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 565 triệu đồng
Trong đó, kinh phí sự nghiệp khoa học: 565 triệu đồng Năm 2010
BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ
1. Tên đề tài: Nghiên cứu tác dụng sinh học và độc tính của cây lược vàng
Callisia fragrans (Lindl.) Woods
AST Aspartate aminotransferase
BCMTT Bạch cầu múi trung tính
BSA Bovine Serum Albumin
CD Cluter of differentiation
cs. Cộng sự
CY Cyclophosphamid
DMSO Dimethylsulfoxyd
ĐƯMD
Đáp ứng miễn dịch
HCC Hồng cầu cừu
HPLC Sắc ký lỏng hiệu năng cao
IL Interleukin
INF Interferon
KN
Kháng nguyên
KTMD Kích thích miễn dịch
LVL Cao đông khô dịch ép lá lược vàng
LVT Cao chiết bằng cồn 50% thân bồ lược vàng
MDA Malonyl dialdehyd
MHC Major histocompatibility complex
NK Natural killer
OA Ovalbumin
TBTHHMC Tế bào lympho lách tạo hoa hồng mẫn cảm
TBTQDH Tế bào lympho lách tạo quầng dung huyết
MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
2.3.10. Phương pháp thử tác dụng trên enzym xanthine oxidase và
lypoxigenase
43
2.3.11. Phương pháp thử tác dụng độc tế bào in vitro 45
2.3.12. Phương pháp xử lý số liệu 47
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
48
3.1. Kết quả nghiên cứu độc tính của lá và thân bồ lược vàng
48
3.1.1. Kết quả thử độc tính cấp
48
3.1.2. Kết quả thử độc tính bán trường diễn
49
3.1.2.1. Kết quả theo dõi tình trạng chung và cân nặng động vật thí
nghiệm.
49
3.1.2.2. Kết quả theo dõi các chỉ số huyết học 51
3.1.2.3.Kết quả theo dõi các chỉ số thuộc chức năng gan 54
3.1.2.4.Kết quả theo dõi các chỉ số thuộc chức năng thận 59
3.1.2.5. Kết quả xét nghiệm mô học 61
3.2. Kết quả nghiên cứu một số tác dụng sinh học củ
a lá và thân bồ
lược vàng
64
3.2.1. Kết quả thử tác dụng kháng khuẩn
64
3.2.1.1. Kết quả thử trên chủng S. pneumoniae 64
3.2.5.2. Kết quả thử trên chủng K. pneumoniae 66
3.2.1.3. Kết quả thử trên chủng H.influenza 68
3.2.1.4. Kết quả thử trên chủng S. aureus 70
102
3.2.7. Kết quả thử tác dụng trên enzym xanthine oxidase và
104
lypoxigenase in vitro
3.2.7.1. Hoạt tính ức chế enzym xanthine oxidase của các mẫu chiết từ lá
và thân bồ lược vàng
104
3.2.7.2. Hoạt tính ức chế enzym lipoxygenase của các mẫu chiết từ lá và
thân bồ lược vàng
105
3.2.8. Kết quả thử tác dụng độc tế bào của các mẫu chiết từ lá và thân
bồ lược vàng
106
3.2.8.1. Kết quả thử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên dòng tế bào A549
106
3.2.8.2. Kết quả
thử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên dòng tế bào H358
107
3.2.8.3. Kết quả thử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên dòng tế bào Hela
108
3.2.8.4. Kết quả thử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên dòng tế bào H460
109
3.2.8.5. Kết quả thử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên dòng tế bào Hep-G2
110
3.2.8.6. Kết quả th
9. Thuộc chương trình: KHCN cấp Bộ Y tế
10. Chủ nhiệm đề tài: TSKH. Nguyễn Minh Khởi
11. Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Dược liệu
12. Thời gian thực hiện: từ tháng 9/2009 – đến tháng 9/2010
13. Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 565 triệu đồng
Trong đ
ó kinh phí từ NSNN: 565 triệu đồng
14. Tình hình thực hiện đề tài so với đề cương:
7.1. Về mức độ hoàn thành khối lượng công việc:
Đã hoàn thành đầy đủ khối lượng công việc theo đề cương nghiên cứu, cụ
thể đã hoàn thành các nội dung nghiên cứu sau:
1. Thu thập mẫu nguyên liệu lược vàng và giám định tên khoa học của đối tượng
nghiên cứu.
2. Xác định độ an toàn của dược liệu:
-
Thử độc tính cấp của cao chiết toàn phần từ lá và thân bồ lược vàng.
- Thử độc tính bán trường diễn của lá và thân bồ lược vàng, mỗi mẫu 3 liều.
3. Thử một số tác dụng sinh học của các mẫu cao chiết từ thân và lá lược vàng trên
thực nghiệm, mỗi mẫu 2-3 liều:
- Tác dụng chống viêm, giảm đau.
- Tác dụng kháng khuẩn trên một số chủng vi khuẩn đ
iển hình thường gây
viêm răng lợi, viêm họng, viêm phế quản.
- Tác dụng tăng cường miễn dịch trên 2 mô hình thực nghiệm: gây suy giảm
miễn dịch bằng hóa chất và bằng tia xạ.
- Tác dụng chống oxy hóa.
- Tác dụng hạ huyết áp.
- Tác dụng độc tế bào trên 8 dòng tế bào gây ung thư.
7.2. Về các yêu cầu khoa học và chỉ tiêu cơ bản của các sản phẩm KHCN
Các sản phẩm của đề tài :
2. Tác dụng chống viêm mạn
- Cao đông khô dịch ép lá lược vàng có tác dụng chống viêm mạn, với liều
uống 0,24g cao khô/ kg thể trọng/ngày trên chuột cống trắng, đã làm giảm trọng
lượng ổ viêm 29,04% so với lô đối chứng có ý nghĩa thống kê nhưng không có tác
dụng ở liều thấp hơn.
- Cao chiết bằng cồn 50% thân bồ lược vàng có tác dụng chống viêm mạn,
với 3 liều uống 0,013g; 0,026 g; 0,052 g cao/ kg thể trọng/ngày trên chuột cống
trắng ,đã làm giảm trọng lượng ổ viêm tương ứng 23,04%, 25,20%, 22,01 % so với
lô đối chứng có ý nghĩa thống kê.
3. Tác dụng giảm đau
Trên mô hình gây đau xoắn bụng bằng acid acetic
- Cao đông khô dịch ép lá lược vàng có tác dụng giảm đau ngoại biên, với
liều 0,2g và 0,4g cao khô/kg thể trọng trên chu
ột nhắt đã làm giảm 23,9 – 30,7%
số lần đau xoắn bụng chuột có ý nghĩa sau 5 phút gây đau, tác dụng kéo dài 20
phút.
- Cao chiết bằng cồn 50% thân bồ lược vàng có tác dụng giảm đau ngoại
biên, thử ở cả 3 liều 0,023; 0,046 và 0,092g cao khô/kg thể trọng trên chuột nhắt
đã làm giảm 27,7 – 53,6% số lần đau xoắn bụng chuột có ý nghĩa sau 5 phút gây
đau, tác dụng kéo dài 25 phút.
Trên mô hình gây đau bằng tấm nóng
Cao đông khô dịch ép lá lược vàng li
ều 0,1; 0,2 và 0,4g cao khô/kg thể
trọng và cao chiết bằng cồn 50% thân bồ lược vàng liều 0,023; 0,046 và 0,092g
cao khô/kg thể trọng trên chuột nhắt không thể hiện rõ tác dụng giảm đau theo cơ
chế thần kinh trung ương, tuy có làm kéo dài thời gian chịu nóng của chuột nhưng
chưa có ý nghĩa thống kê ở hầu hết các thời điểm theo dõi.
4. Tác dụng tăng cường miễn dịch
Cao đông khô dịch ép lá lược vàng liều 0,1 và 0,4g cao khô/kg thể
trọng/ngày và cao chi
ethylacetat lá lược vàng LE có tác dụ
ng theo quy luật tăng nồng độ, tăng độ độc
đối với 2 dòng tế bào ung thư phổi (A549 và H358) với các giá trị IC
50
tương ứng
là 20,27±0,89µg/ml và 44,25±0,57 µg/ml.
7.3. Về tiến độ thực hiện
Đề tài đã thực hiện các nội dung nghiên cứu theo đúng tiến độ dự kiến.
8. Về những đóng góp mới của đề tài:
Trên cơ sở so sánh với những thông tin đã được công bố trên các ấn phẩm
trong và ngoài nước đến thời điểm kết thúc đề tài, đề tài có những điểm mới sau
đây:
- Lần
đầu tiên đánh giá được độc tính cấp và độc tính bán trường diễn của
hai bộ phận dùng làm dược liệu từ cây lược vàng Callisia fragrans (Lindl.) Woods
là lá và thân bồ.
- Lần đầu tiên chứng minh lá và thân bồ lược vàng có tác dụng chống viêm
mạn, tác dụng giảm đau ngoại biên và tác dụng kháng khuẩn in vitro trên 5 chủng
vi khuẩn thường gặp.
- Lần đầu tiên chứng minh lá và thân bồ lược vàng có tác dụng kích thích
miễn dịch dịch thể và miễn dịch tế bào trên 2 mô hình gây suy giảm miễn dịch
bằng CY và bằng tia xạ thông qua 15 chỉ số đánh giá về tình trạng chung hệ miễn
dịch và chức năng đáp ứng miễn dịch dịch thể, miễn dịch tế bào.
- Đã chứng minh cao chiết lá và thân bồ lược vàng gây hạ huyết áp không
đáng kể trên mèo, không gây độc v
ới một số dòng tế bào ung thư, không ảnh
hưởng lên hoạt tính của các enzym xanthine oxidase và lypoxygenase in vitro.
Các đóng góp khác
- Đề tài đã giúp đào tạo 1 học viên cao học (DS. Hoàng Thị Diệu Hương)
làm luận văn thạc sỹ dược học với tên đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm thực vật,
bùng phát ở Thanh Hóa, sau đó lan truyền ra nhiều tỉnh và thành phố, từ Bắc chí
Nam.
Ở Việt Nam, lược vàng là đối tượng hoàn toàn mới chưa từng có tên trong
một tài liệu về cây thuốc nào, thậm chí chưa có tài liệu về thực vật học nào đề cập
đến.
Ở Nga đã có mộ
t số kết quả nghiên cứu về thành phần hóa học nhưng
nghiên cứu về tác dụng sinh học của lược vàng còn rất ít. Mặc dù vậy, cây lược
vàng hiện vẫn đang được ứng dụng rất rộng rãi để chữa các bệnh dạ dày – ruột,
bệnh túi mật, lá lách; các bệnh đường hô hấp như ho, viêm họng, viêm phế quản,
hen phế quản; các bệnh đường tiết niệu; các bệnh ngoài da như viêm da, zona,
chàm, làm thuốc giảm đau, chống nóng rát, giúp vết thương chóng lành Các sách
báo về lược vàng, các loại thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng với lược vàng là
dược liệu chính đang xuất hiện ngày càng nhiều [41], [42], [43].
Nhìn chung, lược vàng hầu như mới chỉ được dùng theo kinh nghiệm dân
gian, chưa được nghiên cứu đầy đủ về mặt dược liệu học. Để có thể sử dụng lược
vàng làm thuốc mộ
t cách hiệu quả và an toàn thì việc nghiên cứu thử nghiệm tác
dụng sinh học, xác định độ an toàn của dược liệu là một việc làm cần thiết. Trước
nhu cầu bức thiết về thông tin khoa học của nhân dân, được phép của Bộ Y tế, Vụ
KH-ĐT Bộ Y tế, Viện Dược liệu tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác dụng
sinh học và độc tính của cây lược vàng Callisia fragrans (Lindl.) Woods.”
M
ục tiêu của đề tài:
- Đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn của thân bồ và lá lược vàng.
- Đánh giá một số tác dụng sinh học của thân bồ và lá lược vàng.
Nội dung nghiên cứu:
1 Xác định độ an toàn của dược liệu:
- Thử độc tính cấp của cao chiết toàn phần từ lá và thân bồ lược vàng.
- Thử độc tính bán trường diễn của các cao chiết trên, mỗi mẫu 3 liều (kéo
Callisia Loefling là một chi nhỏ thuộc họ Commelinaceae (Thài lài). Chi này
có khoảng 20 loài tập trung ở châu Mỹ với trung tâm phân bố là Mexico. Những
loài thuộc chi có dạng thân thảo, sống nhiều năm hiếm khi là cây một năm. Rễ
mảnh, vài loài có dạng củ. Thân trườn hoặc bò sát đất. Lá lưỡng phân hoặc xếp
xoắn ở ngọn, không cuống. Cụm hoa dạng xim, như tán, xếp xít, không cuống,
được bao bởi lá bắ
c; phát hoa ở ngọn hoặc nách lá, thường gồm nhiều chùy hoặc
gié, đơn vị được tạo thành bởi các cặp xim. Lá bắc khó nhận, nhỏ hơn 1cm; không
có mo; có các lá dạng lá bắc tồn tại. Hoa lưỡng tính (cả lưỡng tính và có hoa đực ở
C. repens), đối xứng tỏa tròn; đài rời, gần bằng nhau; cánh hoa rời, trắng hoặc
hồng (hiếm khi có màu xanh), dài bằng nhau, có dạng vuốt; nhị (1-3) hoặc 6, hữu
thụ, bằng nhau; chỉ nhị
trơn hoặc có rãnh; bầu 2-3 ô, lá noãn (1) 2 mỗi ô. Quả
nang, 2-3 mảnh. Hạt (1) 2 hoặc 3 mỗi mảnh, có dạng hình trụ ngắn, rốn hạt dạng
điểm [34].
Đa số các loài thuộc chi Callisia được trồng làm cảnh như Callisia repens
(Jacquin) Linnaeus, Callisia elegans Alexander ex H. E. Moore Ở Trung Quốc
chỉ có 1 loài là Callisia repens (Jacquin) Linnaeus được nhập trồng làm cảnh ở
Hồng Kông [33]. Ở Việt Nam, chưa phát hiện thấy các loài thuộc chi này phân bố
trong tự nhiên. Trong vài n
ăm trở lại đây loài Callisia fragrans (Lindl.) Woods.
được nhập trồng vào nước ta với tên gọi là lan vòi hay lược vàng.
1.1.2. Loài Callisia fragrans (Lindl.) Woods.
Đặc điểm thực vật: Callisia fragrans (Lindl.) Woods. là cây thảo nhiều năm,
thân mọng nước có thể dài tới 100cm hoặc hơn, phân nhánh với thân bò ở gốc. Lá
mọc tập trung ở ngọn thân; rải rác ở phía dưới, dạng mác thuôn, dài 18-25cm, rộng
3,5-4cm, cuống lá có gân rõ, ôm thân, có lông mịn và thường có sọc tía. Hoa mọc
thành cụm 2-3 hoa dạng xim trên phát hoa hình chu
ỳ dài tới 60cm, mỗi cặp xim
được ôm bởi các lá bắc dạng răng cưa (3 răng) dài 10-15mm; lá đài trong suốt,
Aloe emodin C
15
H
10
O
5
Umbelliferon C
9
H
6
O
3
Scopoletin C
10
H
8
O
4
Quercetin C
15
H
đã xác định ngoài 7 chất nói trên còn có kaempferol, acid ferulic [78].
Kết quả định lượng cho thấy hàm lượng các nhóm hợp chất phenol chính
trong dịch ép này (so với cắn khô kiệt) là: coumarin (umbelliferon, scopoletin)
0,14%, anthraquinon (aloe-emodin) 0,008%, acid phenolic (acid gallic, caffeic và
chicoric) 0,37%, flavonoid (kaempferol, quercetin) 0,05% [78].
Năm 2009, Châu Văn Minh và cs. đã công bố phân lập được 1 hợp chất
flavon C-glycosid là isoorientin từ dịch chiết methanol toàn cây lược vàng [14].
Isoorientin
Saponin
Ginsenosid Rg1 đã được Phan Văn Kiệm và cs. phân lập từ cây lược vàng
trồng tại Việt Nam [13].
Ginsenosid Rg1
Các acid hữu cơ
Ngoài các acid phenolic nói trên, trong thân và lá cây lược vàng có acid
ascorbic [77][78]. Hàm lượng tổng các acid hữu cơ trong dịch ép thân bồ lược
vàng là 37,05% so với cắn khô kiệt [78].
Dầu béo
Phân tích dầu béo trong thân và lá C. fragrans, Chernenco T.V. và cs. thấy
có [25]:
- Phân đoạn trung tính: hydrocarbon parafinic, olefinic, aromatic;
carotenoid, sterol và triterpen acetat, triacylglycerid, acid béo tự do, triterpenol,
sterol, acid triterpenic và chlorophyl.
- Glycolipid: sulfolipid, digalactosyldiglycerid, sterol glycosid, cerebrosid
và monogalactosyldiglycerid.
- Phospholipid.
- Các sắc tố: chlorophyl A và B, caroten α và β, xanthophyl (neoxanthin và
anteraxanthin).
Hàm lượng chất béo trong dịch ép thân bồ C. fragrans là 0,21% so với cắn
a cao huyết áp, thấp khớp, chữa mụn cơm
[19], [93].
- C. repens: chữa cảm cúm, hoại thư, viêm dạ dày, cao huyết áp, nhiễm
trùng, thấp khớp, làm thuốc thư giãn [93].
Loài C. fragrans được dùng như một cây thuốc dân gian ở Nga để chữa
các bệnh dạ dày – ruột, bệnh túi mật, lá lách; các bệnh đường hô hấp như ho, viêm
họng, viêm phế quản, hen phế quản; các bệnh đường tiết niệu; các bệnh ngoài da
như viêm da, zona, chàm, bỏng, dị ứng, hắc lào, vết thương ngoài da và cả ung
th
ư…[41],[43].
Về kết quả nghiên cứu tác dụng sinh học của các loài Callisia, chúng tôi tìm
thấy một số công bố trong 2 năm gần đây của các tác giả Nga về C. fragrans và
một bài báo nói đến tác dụng chống herpes virus của dịch chiết cồn C. grasilis. Sau
đây là những kết quả cụ thể.
Tác dụng chống oxy hóa
Dịch ép thân bồ của loài C. fragrans có tác dụng chống oxy hóa in vitro
trên mô hình thử nghiệm với DPPH v
ới IC
50
= 1,07mg/ml. Các phân đoạn có tác
dụng mạnh nhất lần lượt là phân đoạn chiết ethyl acetat (IC
50
0,024mg/ml), phân
đoạn nước (IC
50
0,032mg/ml), phân đoạn butanol (IC
50
0,087mg/ml) và phân đoạn
cloroform (IC
50
ới 11,3 phút). Phân tích sinh hóa cho thấy
tác dụng bảo vệ khả năng hoạt động này là do dịch ép thân lược vàng đã hoạt hóa
quá trình tổng hợp ATP trong cơ xương và cơ tim, làm tăng hàm lượng glycogen
trong gan và giảm nồng độ acid pyruvic và acid lactic trong máu. Ngoài ra, dịch ép
này đã giúp làm giảm stress oxy hóa của chuột bị cưỡng bức chạy, thể hiện ở việc
làm giảm nồng độ MDA trong huyết thanh, trong cơ xương và cơ tim chuột thí
nghiệm cũng như làm t
ăng hoạt độ enzym catalase [105].
Tác dụng chống stress
Trên mô hình gây stress ở chuột bằng cách giữ tình trạng không hoạt động
liên tục 24h, dịch ép thân C. fragrans uống với liều 5ml/kg/ngày trong 7 ngày
trước khi gây stress không có ảnh hưởng có ý nghĩa lên trọng lượng của tuyến ức,
tuyến tụy, nhưng đã gây tăng có ý nghĩa số lượng tế bào có nhân của tuyến ức và
tuyến tụy lên tương ứng là 36 và 49%. Ở chuột được uống dịch ép thân lược vàng,
tình trạng loét d
ạ dày do stress giảm còn 25% so với 100% ở nhóm chứng, không
thấy có chuột nào có u dạng vân ở nhóm uống lược vàng trong khi nhóm đối
chứng bị u 100%. Tác dụng chống stress này cũng được cho là do tác dụng chống
oxy hóa của dịch ép này, biểu hiện ở việc làm giảm 40% nồng độ MDA trong
huyết thanh và làm tăng nồng độ glutation 3 lần, tăng hoạt độ các enzym catalase
(54%) và superoxid dismutase (20%) [106].
Tác dụng trên hệ miễn dịch
Thử nghiệm trên mô hình gây ức chế miễn dịch
ở chuột bằng azathioprin,
dịch ép thân bồ lược vàng đã thể hiện tác dụng tăng cường miễn dịch, làm tăng
trọng lượng tuyến ức (12%) và lách (27%) bị suy giảm do azathioprin, tăng 25%
số lượng tế bào có nhân của hai cơ quan này. Dịch ép này cũng làm tăng chỉ số
thực bào 1,5 lần so với nhóm chứng bệnh và đưa các chỉ số này về gần với nhóm
chứng sinh lý [106].
Tác dụng chống virus
mức độ phân tử, quercetin tương tác với một số thụ thể, c
ụ thể là thụ thể aryl
hydrocarbon, là một thụ thể có liên quan đến sự phát triển của bệnh ung thư do các
chất hóa học nhất định gây ra. Quercetin điều chỉnh một vài tín hiệu của sự truyền
tính trạng trong chuỗi các phản ứng hóa sinh liên quan đến MEK/ERK và
NRF2/KEAP1, là những chất gắn liền với quá trình viêm và gây ung thư. Những
nghiên cứu về loài gặm nhấm đã chỉ ra rằng chế độ ăn uố
ng có nhiều flavonol giúp
ngăn ngừa các chất hóa học gây ung thư, đặc biệt là trong ung thư ruột kết. Nhiều
nghiên cứu dịch tễ học cũng đã cho thấy quercetin có thể có liên quan đến phòng
ngừa ung thư phổi [70].
Quercetin còn được biết đến là một chất có tác dụng bảo vệ các tế bào gan.
Trong những nghiên cứu về tác động của quercetin trên những tế bào HepG2
nhiễm aflatoxin B (1) (AFB (1)) cho kết quả là quercetin ức chế sự sản xu
ất các
loại oxy phản ứng và các chất gây độc tế bào, và ngăn chặn sự giảm glutathion
(GSH) trong các tế bào HepG2 nhiễm AFB (1). Tuy nhiên, quercetin làm giảm
không đáng kể nồng độ phosphatase kiềm trong huyết thanh; trong khi alanin
aminotransferase và aspartat aminotransferase ở chuột nhiễm AFB(1) lại tăng lên.
Do đó, tác dụng bảo vệ gan của quercetin là không trực tiếp chống lại AFB(1) mà
tăng cường hệ thống phòng vệ chống oxy hóa và ức chế sự peroxy hóa lipid [27].
Các tế bào đuôi gai (DCs) cần thiết cho h
ệ thống điều hòa miễn dịch. Kết
quả nghiên cứu in vitro về sự tác động của quercetin trên các tế bào đuôi gai cho
thấy quercetin giảm độ bám dính của DCs (-42%, p<0,05) và sự biểu hiện của
CD11a (-21%; p < 0.05) và ức chế một phần sự phân hóa DCs do OxLDL
(oxidized low density lipoprotein) gây ra (BDCA-1-29%; BDCA-2-33%, p <0,05).
Thử nghiệm in vivo được tiến hành với 8 tình nguyện viên nam khỏe mạnh, được
dùng 500 mg quercetin 2 lần/ngày trong 4 tuần. Kết quả cho thấy quercetin làm
giảm BDCA-2 + DCs trong máu ngoại vi 42% (p<0,05) cũng như dimethylarginin
gen tiền viêm [36]. Kaempferol cũng ngăn cản một cách hiệu quả sự phát triển của
chứng viêm dị ứng qua trung gian IgE của các mô hình tế bào đường ruột [58] .
Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng tác dụng chống oxy hóa của kaempferol
có thể liên quan đến việc cảm ứng apoptosis các tế bào H460. Đây là một kiểu làm
chết tế bào theo chương trình điển hình kèm theo sự cô đặc ADN và sự
tăng mức
ATP nội bào. Điều này có liên quan tới khả năng thay đổi mức độ biểu hiện của
caspase-3 (caspase-phụ thuộc) và AIF (caspase-độc lập). Sự biểu hiện quá mức của
enzym chống oxy hóa Mn-SOD được đẩy mạnh để tạo một loại gen mới ức chế
khối u trong một vài tế bào ung thư của người; và có thể nó đóng vai trò quan
trọng vào tác dụng apoptosis trên tế bào H460 của hợp chất kaempferol [60].
Kaempferol có tác dụng gây apoptosis trên nhiều dòng tế bào ung thư. Các
tế bào MDA-MB-453 được điều trị bằng kaempferol ở các nồng độ khác nhau (từ
1 đến 200 µM) trong 24 và 48 giờ. Kaempferol ức chế một cách đáng kể sự tăng
trưởng của tế bào ung thư ở các tế bào tiếp xúc với 50 và 10 µM kaempferol và ủ
trong thời gian tương ứng là 24 và 48 giờ. Kaempferol ức chế sự phát triển của tế
bào bằng cách phá vỡ chu trình tế bào, kết hợp mạnh với việc ngăn cản sự phân
chia tế bào ở pha G2/M và có thể gây apoptosis thông quá sự phosphoryl hóa p53
ở các tế bào MDA-MB-453 trong ung thư vú ở người [26]. Trong điều kiện
hypoxic (1% oxy), kaempferol ức chế một cách hiệu quả hoạt động của HIF-1 theo
kiểu phụ thuộc liều (IC50 = 5,16 microM). Cơ chế của s
ự ức chế này không liên
quan đến việc ngăn cản mức độ protein HIF-1alpha mà là do bất hoạt p44/42
MAPK bởi kaempferol (IC50 = 4,75 microM). Khi cho các tế bào Huh7 tiếp xúc
với 10 microM kaempferol làm giảm đáng kể khả năng tồn tại của chúng và điều
này được thể hiện rõ hơn trong điều kiện hypoxic. Như vậy, kaempferol ức chế cả
MAPK và HIF-1 hoạt động ở nồng độ sinh lý (5-10 microM) và ngăn chặn sự sống
sót của các t
ế bào ung thư gan hiệu quả hơn trong điều kiện oxy giảm. Do đó
kaempferol là một tác nhân rất có tiềm năng giúp phòng ngừa hay chữa trị ung thư
triển các chủng vi sinh vật kiểm định nhưng khi được phân lập ra, hoạt tính của
isoorientin lại có giá trị thấp hơn dịch chiết ban đầu [32]. Ngoài những hoạt tính
sinh học kể trên, isoorientin còn thể hiện những nhiều tác dụng khác như bảo vệ
gan, thận [35], [79].
Scopoletin
Scopoletin là một coumarin có nhiều tác dụng sinh học. Nhiều kết quả
nghiên cứu cho thấy rằ
ng scopoletin có tác dụng chống oxy hóa, chống viêm khớp,
chống ung thư, làm hạ huyết áp và có tác dụng chống trầm cảm.
Năm 2003, Shaw CY và cộng sự đã tiến hành thử tác dụng chống oxy hóa
của scopoletin phân lập từ Sinomonium acutum. Kết quả chỉ ra rằng scopoletin
đóng vai trò dọn sạch các gốc anion superoxid trong hệ thống phản ứng
xanthin/xanthin oxidase theo kiểu phụ thuộc nồng độ, nhưng không ức chế xanthin
oxidase. Nó có thể được sử dụ
ng trong việc ngăn ngừa các gốc anion superoxid
gây hại trong cơ thể [90].
Cơ chế làm hạ huyết áp của scopoletin, phân lập từ quả Tetrapleura
tetraptera T AUB (Mimosaceae), đã được nghiên cứu in vivo và in vitro. Các kết
quả thu được cho thấy, scopoletin gây tác dụng hạ huyết áp trên động vật thí
nghiệm thông qua các cơ chế: (a) hoạt động làm giãn các cơ trơn – nghĩa là có thể