nghiên cứu tác dụng sinh học và độc tính của cây lược vàng callisia fragrans (lindl.) woods. - Pdf 13


BỘ Y TẾ

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI CẤP BỘ NGHIÊN CỨU TÁC DỤNG SINH HỌC VÀ
ĐỘC TÍNH CỦA CÂY LƯỢC VÀNG
CALLISIA FRAGRANS (LINDL.) WOODS.
Chủ nhiệm đề tài: TSKH. Nguyễn Minh Khởi
Cơ quan chủ trì đề tài: Viện Dược liệu
KTMD Kích thích miễn dịch
LVL Cao đông khô dịch ép lá lược vàng
LVT Cao chiết bằng cồn 50% thân bồ lược vàng
MDA Malonyl dialdehyd
MHC Major histocompatibility complex
NK Natural killer
OA Ovalbumin
TBTHHMC Tế bào lympho lách tạo hoa hồng mẫn cảm
TBTQDH Tế bào lympho lách tạo quầng dung huyết

MỤC LỤC

Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ
1
1. TỔNG QUAN
3
1.1. Thực vật học 3
1.2. Thành phần hóa học của chi Callisia Loefling 4
1.3. Tác dụng sinh học của các cây thuốc chi Callisia Loefling 8
1.4. Tác dụng sinh học của một số chất có trong C. fragrans 10
1.5. Một số chế phẩm chứa lược vàng 24
2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
25
2.1. Đối tượng nghiên cứu
25
2.2. Nguyên vật liệu
25
2.3. Phương pháp nghiên cứu
27

49
3.1.2.2. Kết quả theo dõi các chỉ số huyết học 51
3.1.2.3.Kết quả theo dõi các chỉ số thuộc chức năng gan 54
3.1.2.4.Kết quả theo dõi các chỉ số thuộc chức năng thận 59
3.1.2.5. Kết quả xét nghiệm mô học 61
3.2. Kết quả nghiên cứu một số tác dụng sinh học củ
a lá và thân bồ
lược vàng
64
3.2.1. Kết quả thử tác dụng kháng khuẩn
64
3.2.1.1. Kết quả thử trên chủng S. pneumoniae 64
3.2.5.2. Kết quả thử trên chủng K. pneumoniae 66
3.2.1.3. Kết quả thử trên chủng H.influenza 68
3.2.1.4. Kết quả thử trên chủng S. aureus 70
3.2.1.4. Kết quả thử trên chủng P. aeruginosa 72
3.2.2. Kết quả thử tác dụng chống viêm mạn
74
3.2.3. Kết quả thử tác dụng giảm đau
75
3.2.3.1. Tác dụng giảm đau trên mô hình gây đau xoắn bụng bằng acid
acetic
75
3.2.3.2. Tác dụng giảm đau trên mô hình gây đau bằng tấm nóng 76
3.2.4. Kết quả thử tác dụng tăng cường miễn dịch
79
3.2.4.1.Kết quả thử tác dụng trên mô hình gây suy giảm miễn dịch bằng
hóa chất
79
3.2.4.1.1. Nghiên cứu đánh giá tình trạng chung hệ miễn dịch 79

106
3.2.8.2. Kết quả
thử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên dòng tế bào H358
107
3.2.8.3. Kết quả thử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên dòng tế bào Hela
108
3.2.8.4. Kết quả thử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên dòng tế bào H460
109
3.2.8.5. Kết quả thử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên dòng tế bào Hep-G2
110
3.2.8.6. Kết quả th
ử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên dòng tế bào Cos-7
111
3.2.8.7. Kết quả thử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên dòng tế bào MCF-7
112
3.2.8.8. Kết quả thử độc tính của các mẫu chiết từ lá và thân bồ lược vàng
trên tế bào dòng KPL-4
113
4. BÀN LUẬN
115
5. KẾT LUẬN
136
6. KIẾN NGHỊ
138

báo về lược vàng, các loại thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng với lược vàng là
dược liệu chính đang xuất hiện ngày càng nhiều [41], [42], [43].
Nhìn chung, lược vàng hầu như mới chỉ được dùng theo kinh nghiệm dân
gian, chưa được nghiên cứu đầy đủ về mặt dược liệu học. Để có thể sử dụng lược
vàng làm thuốc mộ
t cách hiệu quả và an toàn thì việc nghiên cứu thử nghiệm tác
dụng sinh học, xác định độ an toàn của dược liệu là một việc làm cần thiết. Trước
nhu cầu bức thiết về thông tin khoa học của nhân dân, được phép của Bộ Y tế, Vụ
KH-ĐT Bộ Y tế, Viện Dược liệu tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu tác dụng
sinh học và độc tính của cây lược vàng Callisia fragrans (Lindl.) Woods.”
M
ục tiêu của đề tài:
- Đánh giá độc tính cấp và bán trường diễn của thân bồ và lá lược vàng.
- Đánh giá một số tác dụng sinh học của thân bồ và lá lược vàng.
Nội dung nghiên cứu:
1 Xác định độ an toàn của dược liệu:
- Thử độc tính cấp của cao chiết toàn phần từ lá và thân bồ lược vàng.
- Thử độc tính bán trường diễn của các cao chiết trên, mỗi mẫu 3 liều (kéo
dài thời gian uống thuốc của thỏ thí nghiệm lên 60 ngày)
2. Thử một số tác dụng sinh học của các mẫu cao chiết từ thân và lá lược
vàng trên thực nghiệm, mỗi mẫu 2-3 liều:
- Tác dụng kháng khuẩn (trên một số chủng vi khuẩn điển hình thườ
ng gây
viêm răng lợi, viêm họng, viêm phế quản)
- Tác dụng chống viêm, giảm đau
- Tác dụng tăng cường miễn dịch trên 2 mô hình thực nghiệm: gây suy giảm
miễn dịch bằng hóa chất và bằng tia xạ.
- Tác dụng hạ huyết áp
- Tác dụng chống oxy hóa
- Tác dụng độc tế bào (trên 8 dòng tế bào gây ung thư)

trơn hoặc có rãnh; bầu 2-3 ô, lá noãn (1) 2 mỗi ô. Quả
nang, 2-3 mảnh. Hạt (1) 2 hoặc 3 mỗi mảnh, có dạng hình trụ ngắn, rốn hạt dạng
điểm [34].
Đa số các loài thuộc chi Callisia được trồng làm cảnh như Callisia repens
(Jacquin) Linnaeus, Callisia elegans Alexander ex H. E. Moore Ở Trung Quốc
chỉ có 1 loài là Callisia repens (Jacquin) Linnaeus được nhập trồng làm cảnh ở
Hồng Kông [33]. Ở Việt Nam, chưa phát hiện thấy các loài thuộc chi này phân bố
trong tự nhiên. Trong vài n
ăm trở lại đây loài Callisia fragrans (Lindl.) Woods.
được nhập trồng vào nước ta với tên gọi là lan vòi hay lược vàng.
1.1.2. Loài Callisia fragrans (Lindl.) Woods.
Đặc điểm thực vật: Callisia fragrans (Lindl.) Woods. là cây thảo nhiều năm,
thân mọng nước có thể dài tới 100cm hoặc hơn, phân nhánh với thân bò ở gốc. Lá
mọc tập trung ở ngọn thân; rải rác ở phía dưới, dạng mác thuôn, dài 18-25cm, rộng
3,5-4cm, cuống lá có gân rõ, ôm thân, có lông mịn và thường có sọc tía. Hoa mọc
thành cụm 2-3 hoa dạng xim trên phát hoa hình chu
ỳ dài tới 60cm, mỗi cặp xim
được ôm bởi các lá bắc dạng răng cưa (3 răng) dài 10-15mm; lá đài trong suốt,
màu trắng, khô xác, dạng mác, dài 5-6mm; cánh hoa bóng, trong suốt, màu trắng,
mỏng, có dạng trứng hẹp; nhị 6. Cây ra hoa vào mùa xuân [34].
Cây ưa những nơi đất màu mỡ, ẩm, thoát nước tốt và che bóng một phần.
Nếu trồng ở nơi nhiều ánh sáng, lá thường chuyển sang màu tía và thân mọc thấp.
Cây được nhân trồng bằng hạt và cành giâm.
Callisia fragrans được trồng làm cảnh ở nhiều nước bởi có thân bò khá đẹp
và dễ trồng. Người ta thường trồng Callisia fragrans trong các chậu treo để thân
buông rủ tạo dáng hoặc phủ kín mặt đất tạo thảm xanh trong vườn nhà. Do khả
năng phát triển nhanh, ở Florida - Mỹ, loài cây này được xếp vào danh sách “Các
loài thực vật nhập trồng xâm lấn” [45].
1.2. Thành phần hóa học của chi Callisia Loefling
Trong các loài Callisia có một số loài như C. elegans, C. fragrans, C.

6
O
3
Scopoletin C
10
H
8
O
4
Quercetin C
15
H
10
O
7
Acid gallic C
7
H


Ginsenosid Rg1
Các acid hữu cơ
Ngoài các acid phenolic nói trên, trong thân và lá cây lược vàng có acid
ascorbic [77][78]. Hàm lượng tổng các acid hữu cơ trong dịch ép thân bồ lược
vàng là 37,05% so với cắn khô kiệt [78].
Dầu béo
Phân tích dầu béo trong thân và lá C. fragrans, Chernenco T.V. và cs. thấy
có [25]:
- Phân đoạn trung tính: hydrocarbon parafinic, olefinic, aromatic;
carotenoid, sterol và triterpen acetat, triacylglycerid, acid béo tự do, triterpenol,
sterol, acid triterpenic và chlorophyl.
- Glycolipid: sulfolipid, digalactosyldiglycerid, sterol glycosid, cerebrosid
và monogalactosyldiglycerid.
- Phospholipid.
- Các sắc tố: chlorophyl A và B, caroten α và β, xanthophyl (neoxanthin và
anteraxanthin).
Hàm lượng chất béo trong dịch ép thân bồ C. fragrans là 0,21% so với cắn
khô [78].
Carbohydrat
Trong dịch ép thân bồ lược vàng có chứa tới 25,13% đường tự do và 2,44%
polysaccharid so với cắn khô kiệt [78]. Thủy phân polysaccharid thì thu được các
đường đơn là glucose, mannose, acid glucuronic, glucosamin và galactosamin
[104], [76].
Các acid amin
Phân tích, so sánh thời gian lưu với 24 acid amin chuẩn, Hikolaeva G. và
cs. đã xác định được 18 acid amin, trong đó 15 acid amin tự do và 14 acid amin
liên kết trong dịch ép thân bồ lược vàng tươi: asparagin, acid aspartic, threonin,
serin, glutamin, acid glutamic, glycin, alanin, valin, methionin, leucin, isoleucin,
tyramin, phenylalanin, lysin, histamin, arginin và acid γ-aminobutyric [74].

một bài báo nói đến tác dụng chống herpes virus của dịch chiết cồn C. grasilis. Sau
đây là những kết quả cụ thể.
Tác dụng chống oxy hóa
Dịch ép thân bồ của loài C. fragrans có tác dụng chống oxy hóa in vitro
trên mô hình thử nghiệm với DPPH v
ới IC
50
= 1,07mg/ml. Các phân đoạn có tác
dụng mạnh nhất lần lượt là phân đoạn chiết ethyl acetat (IC
50
0,024mg/ml), phân
đoạn nước (IC
50
0,032mg/ml), phân đoạn butanol (IC
50
0,087mg/ml) và phân đoạn
cloroform (IC
50
0,21mg/ml). Dich ép thân bồ lược vàng cũng được chứng minh có
khả năng liên kết với ion Fe
2+
(IC
50
0,79mg/ml), với O
2
•-
(IC
50
0,36mg/ml), gây bất
hoạt H

tuyến tụy, nhưng đã gây tăng có ý nghĩa số lượng tế bào có nhân của tuyến ức và
tuyến tụy lên tương ứng là 36 và 49%. Ở chuột được uống dịch ép thân lược vàng,
tình trạng loét d
ạ dày do stress giảm còn 25% so với 100% ở nhóm chứng, không
thấy có chuột nào có u dạng vân ở nhóm uống lược vàng trong khi nhóm đối
chứng bị u 100%. Tác dụng chống stress này cũng được cho là do tác dụng chống
oxy hóa của dịch ép này, biểu hiện ở việc làm giảm 40% nồng độ MDA trong
huyết thanh và làm tăng nồng độ glutation 3 lần, tăng hoạt độ các enzym catalase
(54%) và superoxid dismutase (20%) [106].
Tác dụng trên hệ miễn dịch
Thử nghiệm trên mô hình gây ức chế miễn dịch
ở chuột bằng azathioprin,
dịch ép thân bồ lược vàng đã thể hiện tác dụng tăng cường miễn dịch, làm tăng
trọng lượng tuyến ức (12%) và lách (27%) bị suy giảm do azathioprin, tăng 25%
số lượng tế bào có nhân của hai cơ quan này. Dịch ép này cũng làm tăng chỉ số
thực bào 1,5 lần so với nhóm chứng bệnh và đưa các chỉ số này về gần với nhóm
chứng sinh lý [106].
Tác dụng chống virus
Dịch chi
ết ethanol của C. gracilis thể hiện hoạt tính chống herpes virus trên
thử nghiệm in vitro với herpes simplex virus type 2 (HSV-2) với trị số EC
50
= 10,5
µg/ml [19].
1.4. Tác dụng sinh học của một số chất có trong C. fragrans
Các chất đã được biết có trong lược vàng đều là những chất quen biết đã
được phân lập từ nhiều cây thuốc khác và đã được nghiên cứu chứng minh có
nhiều tác dụng sinh học đáng chú ý. Sau đây là một số kết quả nghiên cứu về tác
dụng sinh học của các hợp chất này.
Quercetin

Trong những nghiên cứu về tác động của quercetin trên những tế bào HepG2
nhiễm aflatoxin B (1) (AFB (1)) cho kết quả là quercetin ức chế sự sản xu
ất các
loại oxy phản ứng và các chất gây độc tế bào, và ngăn chặn sự giảm glutathion
(GSH) trong các tế bào HepG2 nhiễm AFB (1). Tuy nhiên, quercetin làm giảm
không đáng kể nồng độ phosphatase kiềm trong huyết thanh; trong khi alanin
aminotransferase và aspartat aminotransferase ở chuột nhiễm AFB(1) lại tăng lên.
Do đó, tác dụng bảo vệ gan của quercetin là không trực tiếp chống lại AFB(1) mà
tăng cường hệ thống phòng vệ chống oxy hóa và ức chế sự peroxy hóa lipid [27].
Các tế bào đuôi gai (DCs) cần thiết cho h
ệ thống điều hòa miễn dịch. Kết
quả nghiên cứu in vitro về sự tác động của quercetin trên các tế bào đuôi gai cho
thấy quercetin giảm độ bám dính của DCs (-42%, p<0,05) và sự biểu hiện của
CD11a (-21%; p < 0.05) và ức chế một phần sự phân hóa DCs do OxLDL
(oxidized low density lipoprotein) gây ra (BDCA-1-29%; BDCA-2-33%, p <0,05).
Thử nghiệm in vivo được tiến hành với 8 tình nguyện viên nam khỏe mạnh, được
dùng 500 mg quercetin 2 lần/ngày trong 4 tuần. Kết quả cho thấy quercetin làm
giảm BDCA-2 + DCs trong máu ngoại vi 42% (p<0,05) cũng như dimethylarginin
bất đối xứng ức chế NO-synthase trong cơ thể (-31%, p<0,05). Như vậy, tác dụng
điều biến miễn dịch của quercetin cũng góp phần chống xơ vữa động mạch [73].
Một tác dụng khác của quercetin cũng được quan tâm nhiều là tác d
ụng
chống viêm. Quercetin ức chế đáng kể mức độ mARN của iNOS, COX-2 và CRP
của tế bào gan Chang. Flavonoid này cũng có tác dụng ức chế trên NF-kappaB
hoạt động và trên protein cô đặc của mẫu phosphoryl hóa của chất ức chế IkappaB
alpha và IKK (IkappaB kinase) alpha. Các nghiên cứu hiện nay cho thấy rằng tác
dụng điều chỉnh iNOS, COX-2 và CRP trong tế bào gan Chang của quercetin có
thể góp phần vào tác dụng chống viêm, thông qua các cơ chế có liên quan đến việc
phong tỏa NF-kappaB hoạt động và điề
u hòa tăng của các gen tiền viêm [36].

tế bào MDA-MB-453 được điều trị bằng kaempferol ở các nồng độ khác nhau (từ
1 đến 200 µM) trong 24 và 48 giờ. Kaempferol ức chế một cách đáng kể sự tăng
trưởng của tế bào ung thư ở các tế bào tiếp xúc với 50 và 10 µM kaempferol và ủ
trong thời gian tương ứng là 24 và 48 giờ. Kaempferol ức chế sự phát triển của tế
bào bằng cách phá vỡ chu trình tế bào, kết hợp mạnh với việc ngăn cản sự phân
chia tế bào ở pha G2/M và có thể gây apoptosis thông quá sự phosphoryl hóa p53
ở các tế bào MDA-MB-453 trong ung thư vú ở người [26]. Trong điều kiện
hypoxic (1% oxy), kaempferol ức chế một cách hiệu quả hoạt động của HIF-1 theo
kiểu phụ thuộc liều (IC50 = 5,16 microM). Cơ chế của s
ự ức chế này không liên
quan đến việc ngăn cản mức độ protein HIF-1alpha mà là do bất hoạt p44/42
MAPK bởi kaempferol (IC50 = 4,75 microM). Khi cho các tế bào Huh7 tiếp xúc
với 10 microM kaempferol làm giảm đáng kể khả năng tồn tại của chúng và điều
này được thể hiện rõ hơn trong điều kiện hypoxic. Như vậy, kaempferol ức chế cả
MAPK và HIF-1 hoạt động ở nồng độ sinh lý (5-10 microM) và ngăn chặn sự sống
sót của các t
ế bào ung thư gan hiệu quả hơn trong điều kiện oxy giảm. Do đó
kaempferol là một tác nhân rất có tiềm năng giúp phòng ngừa hay chữa trị ung thư
biểu mô tế bào gan (HCC) [71].
Isoorientin
Hợp chất isoorientin là một flavon có mặt trong một số loài thực vật bậc
cao. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy hợp chất này thể hiện nhiều hoạt tính sinh học
có giá trị trong các thử nghiệm in vitro và in vivo bao gồm hoạt tính chố
ng oxy
hoá, kháng viêm, kháng sinh, bảo vệ gan, chống tiểu đường, giảm đường máu.
Giống như các chất thuộc nhóm flavonoid, hoạt tính chống oxy hoá của isoorientin
thể hiện rõ rệt trong các nghiên cứu trên hệ DPPH và sự peroxy hóa lipid với giá
trị IC50 khá thấp (9-10 µM) Khả năng chống oxy hoá này được chứng minh do
isoorientin kích thích sự hoạt hoá của yếu tố phiên mã Nrf2, từ đó thúc đẩy quá
trình tổng hợp các gen liên quan đến khả năng chống oxy hoá như NAD(P)H:

xanthin/xanthin oxidase theo kiểu phụ thuộc nồng độ, nhưng không ức chế xanthin
oxidase. Nó có thể được sử dụ
ng trong việc ngăn ngừa các gốc anion superoxid
gây hại trong cơ thể [90].
Cơ chế làm hạ huyết áp của scopoletin, phân lập từ quả Tetrapleura
tetraptera T AUB (Mimosaceae), đã được nghiên cứu in vivo và in vitro. Các kết
quả thu được cho thấy, scopoletin gây tác dụng hạ huyết áp trên động vật thí
nghiệm thông qua các cơ chế: (a) hoạt động làm giãn các cơ trơn – nghĩa là có thể
làm giãn nở các mạch máu; và (b) đóng vai trò như một tác nhân chống co thắt
không đặc hiệu (giống papaverin) [75].
Các kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng scopoletin có thể là một hợp chất có
tiềm năng chống lại khối u, được sử dụng để điều trị ung thư. Scopoletin phân lập
từ T. cordata Mill., đã được tiến hành thử tác dụng kháng phân bào và tác dụng
gây độc tế bào trên các u lympho bào. Các tác dụng khác nhau ở các nồng độ khác
nhau
được phân tích liên quan đến việc cảm ứng apoptosis. Scopoletin làm tăng
nhanh tế bào lympho T bình thường (chỉ số kích thích sự tăng sinh tế bào:
1microg/ml scopoletin: 1,26 +/-0,1; 10microg/ml scopoletin: 3 +/-0,25; 100
microg/ml scopoletin: 1,86 +/-0,08). Tác dụng kích thích này là do sự tương tác
của scopoletin với protein kinase C (PKC) [66]. Ngoài ra, scopoletin ức chế sự
tăng sinh của tế bào PC3 bằng cách cảm ứng quá trình apoptosis của chúng.
Scopoletin ức chế sự tăng sinh của PC3, PAA và tế bào Hela với IC
50
lần lượt là
(157 +/- 25), (154 +/- 51), và (294 +/- 100) mg/L. Scopoletin làm giảm hàm lượng
protein và giảm mức ACP trong các tế bào PC3 theo kiểu phụ thuộc nồng độ. Các
tế bào được xử lý với scopoletin cho thấy những sự thay đổi về hình thái điển hình
của apoptosis bằng kính hiển vi ánh sáng, kính hiển vi huỳnh quang và kính hiển
vi điện tử truyền qua. Tỷ lệ tế bào chết theo chương trình là 0,3%, 2,1%, 9,3% và
35% tương ứng với liều scopoletin là 0, 100, 200, và 400 mg/L và các tế bào ở pha

chống oxy hóa nên được xem là một chất chống oxy hóa mạnh. Chuột tiểu đường
được điều trị bằng umbelliferon (30 mg/kg trọng lượng cơ thể) hòa tan trong 10%
dimethyl sulfoxide (DMSO) trong 45 ngày, làm giảm mức peroxy hóa lipid và
tăng cường những chất chống oxy hóa enzym và không-enzym lên mức gần như
bình thường [87].
Ở chuột tiểu đường, mức đường huyế
t, hemoglobin glycosyl hóa (HbA
(1c)) tăng và hoạt động của các enzym tân tạo glucose như glucose-6-phosphatase
và fructose-1, 6-bisphosphatase cũng tăng; trong khi mức insulin huyết tương,
hemoglobin (Hb), glycogen gan giảm và các hoạt động của glucokinase và
glucose-6-phosphate dehydrogenase cũng giảm. Tiêm umbelliferon vào màng
bụng chuột tiểu đường (với liều 10, 20 và 30 mg/kg trọng lượng cơ thể) và
glibenclamid (600 micro g/kg trọng lượng cơ thể) trong 10% DMSO hòa tan trong
nước, trong 45 ngày, làm giảm đáng kể mức độ glucose máu, HbA (1c) và hoạt
động của glucose-6-phosphatase và fructose-1,6-bisphosphatase, trong khi đó làm
tăng nồng độ insulin huyết tươ
ng, Hb, glycogen gan và hoạt động của glucokinase
và glucose-6-phosphate dehydrogenase lên gần như bình thường. Ngoài ra, ở chuột
tiểu đường, các thành phần glycoprotein trong huyết tương và trong các mô (gan,
thận, tim và não) như acid sialic, hexose toàn phần, fucose, và hexosamin tăng
lên. Điều trị với umbelliferon hòa tan trong 10% DMSO trong 45 ngày đưa các
thành phần glycoprotein về gần bình thường. Như vậy, kết quả cho thấy rằng
umbelliferon với liều 30 mg/kg trọng lượng cơ thể có tác dụng hạ đường huyết, tác
dụng này có thể so sánh được vớ
i glibenclamid. Umbelliferon đã cải thiện việc
kiểm soát mức đường huyết, do đó giảm sự hình thành các thành phần
glycoprotein, giúp chống lại nguy cơ biến chứng của bệnh tiểu đường [86], [88].
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng umbelliferon ngoài tác dụng chống đái tháo
đường còn có tác dụng chống tăng lipid máu. Trong huyết tương của chuột bị tiểu
đường, cholesterol toàn phần (TC), cholesterol lipoprotein tỷ trọng thấp (LDL-C),

0,52microg/mL đối với EV71. Aloe emodin cho thấy rõ khả năng ức chế mạnh
virus và đạt được các chỉ số điều trị cao, đặc biệt với các tế bào HL-CZ [62].
Hợp chất aloe emodin là một loại tác nhân chống ung thư mới với hoạt tính
chọn lọc chống lại khối u thần kinh ngoại bì (neuroectodermal) in vitro và in vivo.
Aloe emodin không ức chế sự
tăng sinh của nguyên bào sợi bình thường cũng như
của các tế bào tiền tạo máu mà cơ chế gây độc tế bào của nó là cảm ứng apoptosis
làm chết tế bào theo chương trình. Tính chọn lọc chống lại các tế bào khối u thần
kinh ngoại bì phụ thuộc hiệu lực cụ thể của việc kết hợp thuốc [81].
Kết quả nghiên cứu tác dụng chống ung thư của aloe emodin trên hai dòng
tế bào ung thư gan ở người là Hep G2 và Hep 3B cho thấy aloe emodin ức chế sự
phát triển tế bào và gây apoptosis ở cả hai dòng tế bào được thử nghiệm, nhưng
với các cơ
chế khác nhau. Ở các tế bào Hep G2, aloe emodin cảm ứng sự biểu hiện
p53 và kèm theo cảm ứng sự biểu hiện p21 kết hợp với việc ngăn cản chu trình tế
bào trong pha G1. Ngoài ra, aloe emodin làm tăng đáng kể lượng thụ thể
Fas/APO1 và sự biểu hiện của Bax. Ngược lại, với những tế bào Hep 3B thiếu p53,
tác dụng ức chế sự tăng sinh tế bào của aloe emodin qua trung gian phụ thuộc p21
mà không ngăn cản chu trình t
ế bào hoặc làm tăng lượng thụ thể Fas/APO1. Cơ
chế chính là aloe emodin gây cảm ứng apoptosis bằng cách tăng cường sự biểu
hiện của Bax [56].
Những nghiên cứu tiền lâm sàng cho thấy rằng aloe emodin có thể là một
loại thuốc hóa trị liệu mới và phù hợp để điều trị ung thư dạ dày ở người. Kết quả
điều tra tác dụng chống ung thư của aloe emodin trên hai dòng tế bào ung thư dạ

dày riêng biệt ở người là AGS và NCI-N87, cho thấy aloe emodin làm chết tế bào
theo cách thức phụ thuộc thời gian và liều lượng. Nó giải phóng các yếu tố cảm
ứng apoptosis và cytochrom c từ ty thể, tiếp theo là hoạt hóa caspase-3, dẫn đến co
rút nhân và gây apoptosis. Ngoài ra, aloe emodin ngăn cản sự hoạt động của casein

vận chuyển glucose 2 trong gan. Ngược lại với chất vận chuyển glucose 2 ở gan,
sự bi
ểu hiện của chất vận chuyển glucose 4 ở tế bào tạo mỡ lại lớn hơn nhóm đối
chứng. Ngoài ra, acid caffeic còn làm tăng đáng kể hoạt động của các enzym SOD,
CAT, GPx và mức độ biểu hiện mARN của chúng; trong khi đó làm giảm mức
hydrogen peroxid và các chất phản ứng acid thiobarbituric trong hồng cầu và gan
của chuột db/db. Các kết quả này cho thấy cơ chế chống đái tháo đường của acid
caffeic là ngăn chặn sự ti
ến triển của đái tháo đường týp 2 do nó làm giảm lượng
glucose sản xuất ở gan và tăng cường hấp thu glucose ở các tế bào tạo mỡ, tăng
tiết insulin và tăng khả năng chống oxy hóa [49].
Ho Sun Song và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu một tác dụng đặc biệt của
acid caffeic là tác dụng làm lành vết thương trên chuột bị rạch da. Acid caffeic là
một chất có hoạt tính chống oxy hóa mạnh và chống viêm trong hệ thống tế bào
nuôi cấy; và có thể có liên quan đến việc chữa lành vết thương trên chuột bị rạch
da. Nó kích thích các polymer tổng hợp giống như collagen trong tế bào nguyên
bào sợi NIH 3T3; nhưng lại ức chế cả hai thế hệ loài oxy phản ứng do silica gây ra,
ức chế sự giải phóng acid arachidonic do melittin sinh ra, ức chế sự sản xuất PGE
2 trong tế bào Raw 264,7; và ức chế sự giải phóng histamin trong các tế bào RBL
2H3 được kích thích bởi melittin hoặc acid arachidonic [92].
Acid gallic
Acid gallic là một polyphenol, được phân bố rộ
ng rãi trong các loài thực vật
cũng như trong nhiều loại thực phẩm khác nhau và nhiều tác dụng sinh học của nó
đã được báo cáo.
Acid gallic là một hợp chất chống oxy hóa tự nhiên. Đặc tính chống oxy
hóa hỗ trợ cho tác dụng bảo vệ gan của hợp chất này. Các tác dụng này được đánh
giá trên chuột bị tổn thương gan do nhiễm độc paracetamol và được so sánh với
silymarin, một thuốc bảo vệ gan tiêu chuẩn. Chuột được nhận một liều
paracetamol (900 mg/kg trọng lượng cơ thể); và được cho acid gallic (100 mg/kg

như Bax và gây cảm ứng hoạt động của dòng thác caspase, nhưng lại điều hòa ức
chế các protein anti-apoptotic như Bcl-2. Acid gallic kích thích giải phóng nguyên
sinh chất của các phân tử apoptotic, cytochrom c, thúc đẩy sự hoạt hóa caspase-9
và caspase-3 và cuối cùng là làm chết tế bào. Ngoài ra, acid gallic cũng thúc đẩy
việc giải phóng nguyên sinh chất của yếu tố cảm ứng apoptosis (AIF) và
endonuclease G (Endo G). Do đó, acid gallic gây cảm ứng apoptosis thông qua cả
2 cơ chế phụ thuộc caspase và không phụ thuộc caspase [65].
Acid gallic còn có tác dụng cảm ứng apoptosis trên các tế bào bạch cầu
dạng tiền tuỷ bào promyelocytic HL-60RG. Phân tích Flow cytometric (phương
pháp đo dòng chảy tế bào) cho thấy rằng apoptosis không được kích hoạt ở một
giai đoạn cụ thể của chu kỳ tế bào và các tế bào HL-60RG chỉ cần tiếp xúc với
acid gallic 2h là đủ để gây ra apoptosis. Các thử nghiệm khác cho thấy tác dụng
gây chết tế bào của acid gallic qua trung gian bở
i các loài oxy phản ứng như
hydrogen peroxid, các anion superoxid , các enzym phụ thuộc calmodulin [44].
Cũng liên quan đến tác dụng gây chết tế bào theo chương trình của acid
gallic, các nhà khoa học của Hàn Quốc, You BR và cộng sự đã tiến hành nghiên
cứu những tác động của acid gallic liên quan đến việc ức chế sự tăng trưởng và
gây chết tế bào trên các tế bào ung thư cổ tử cung HeLa. IC50 của acid gallic
khoảng 80 microM trong 24h đối với các tế bào HeLa; trong khi IC50 của acid
gallic đối với các tế bào nội mô tĩ
nh mạch rốn của người (HUVEC) là khoảng 400
microM. Acid gallic ức chế sự tăng trưởng của tế bào HeLa và HUVEC qua
apoptosis và/hoặc hoại tử. Độ nhạy cảm của các tế bào HeLa đối với acid gallic
cao hơn của HUVEC [101].
Acid chicoric
Một tác dụng đáng chú ý và đang được quan tâm nghiên cứu nhiều của acid
chicoric là tác dụng chống HIV. Acid chicoric là một dẫn xuất của acid caffeic,
trong tương lai nó có thể là hợp chất chống HIV đa mục tiêu, hỗ tr
ợ mạnh cho việc


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status