thực trạng nghèo và người nghèo ở tp hồ chí minh - Pdf 13

- 1 – MỤC LỤC
trang

Mở đầu 1
Chương 1: Tổng quan về nghèo và người nghèo trong xã hội
1.1/Những lý do nghiên cứu về nghèo 4
1.2/ Một số quan điểm về người nghèo 5
1.2.1/ Nghèo tuyệt đối 5
1.2.2/ Nghèo tương đối 7
1.2.3/ Cách nhìn nhận của chính người nghèo 8
1.3/ Nguyên nhân của nghèo 9
1.3.1/ Nguyên nhân chung trên thế giới 9
1.3.2/ Nguyên nhân ở Việt Nam 10
1.4/ Thực trạng của nghèo 11
1.4.1/ Nghèo trên thế giới 11
1.4.2/ Nghèo ở Việt Nam 14
1.5/ Các chính sách giảm nghèo 19
1.5.1/ Trách nhiệm của xã hội 19
1.5.2/ Mục tiêu phát triển kinh tế toàn cầu 19
1.5.3/ Quan điểm của Đảng, nhà nước Việt Nam 20
1.6/ Mối quan hệ của nghèo và tín dụng 21
1.6.1/Mối quan hệ của tín dụng và vòng luẩn quẩn của nghèo 21
1.6.2/ kinh nghiệm một số tổ chức nước ngoài 23
Chương 2 : Thực trạng nghèo và người nghèo ở TP Hồ Chí Minh
2.1/ Chuẩn nghèo 27
2.1.1/ Hình thành chuẩn nghèo 27
2.1.2/ Chuẩn nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh 28
2.2/ Tình hình chung 29

dụng nhỏ 62
3.3.1/ Phát triển các tổ chức hiện hành 62
3.3.2/ Mở rộng chương trình tín dụng tiết kiệm 65
3.3.3/ Xây dựng năng lực cho khu vực tài chính bán
chính thức 65
3.4/ Các giải pháp hỗ trợ khác giúp giảm nghèo 65
3.4.1/ Hướng nghiệp đào tạo giải quyết việc làm 65
3.4.2/ Hỗ trợ chính sách ưu đãi xã hội 66
3.4.3/ Đầu tư cơ sở hạ tầng các xã nghèo trọng điểm 67
3.5/ Kiến nghò 68
Kết luận 71
Tài liệu tham khảo 72 - 3 – Mở đầu

1/ Đặt vấn đề
Xây dựng một xã hội không có người nghèo là điều mà các tổ chức, các nhà
làm chính sách luôn luôn quan tâm. Trong tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên hiệp
quốc, kêu gọi xây dựng một xã hội hoà đồng và thònh vượng dựa trên các giá trò: tự
do, bình đẳng, đoàn kết, khoan dung và tôn trọng thiên nhiên. Quan niệm tự do ở
đây không bó hẹp trong phạm vi thoát khỏi tình trạng nghèo đói mà trên cơ sở ghi
nhận rằng, con người một khi còn phải đấu tranh cho sự sinh tồn thì không bao giờ
có bình đẳng và tự do.
Chủ Tòch Hồ Chí Minh khi sinh thời đã từng mơ ước về một nước Việt Nam không
còn bò nghèo đói.Thế hệ của chúng ta có thể thực hiện được ước mơ đó của người,
đồng thời đạt được mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Chúng ta có công nghệ, tri

-Giải pháp hiệu quả của tín dụng nhỏ cho người nghèo, hộ nghèo
-Gợi ý các chính sách nhằm tạo điều kiện cho tài chính vi mô hoạt động tốt hơn,
tác động giảm nghèo nhanh hơn
3/ Đối tượng nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu trên đòa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh. Đây là nơi có
nguồn vốn đầu tư lớn, phát triển mạnh trong cả nước, cũng là vùng chòu áp lực lớn
của quá trình đô thò, di dân lớn nhất trong nước.
Đối tượng là người nghèo, các tổ chức tài chính vi mô đang hoạt động tại thành
phố Hồ Chí Minh
4/ Phương pháp nghiên cứu
-Phương pháp chuyên gia: Nghiên cứu các quan điểm chính sách các mô hình xoá
đói giảm nghèo.
-Phương pháp thống kê mô tả kết hợp với so sánh phân tích tìm ra những mấu chốt
chính của người nghèo, tìm ra giải pháp tốt hơn trong chính sách giảm nghèo.
5/ Ý nghóa của đề tài
Giúp các nhà làm chính sách quan tâm hơn trong lónh vực cung cấp nguồn
vốn nhỏ cho người nghèo, một công cụ hiệu quả giúp người nghèo vượt nghèo.
Giúp những người làm công tác giảm nghèo có cái nhìn bao quát hơn, có
chiều sâu hơn trong công tác tiếp cận với người nghèo.
Mở ra một hướng nghiên cứu mới về mô hình lượng hoá tác động của tài
chính vi mô đến giảm nghèo tại Việt Nam. Mối quan hệ giữa tăng trưởng và giảm
nghèo, thoát nghèo bền vững thông qua đầu tư trong lónh vực giáo dục. - 5 – Chương 1: Tổng quan về nghèo và người nghèo trong xã hội
1.1/ Những lý do nghiên cứu về nghèo
Đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội cấp bách, mang tính toàn cầu,

4,6 triệu hộ nghèo. Chuẩn này còn thấp hơn nhiều so với chuẩn nghèo trên thế giới
là 1 USD/người/ngày; ba là số hộ nằm trên ngưỡng nghèo rất nhiều, nguy cơ tái
nghèo rất cao chỉ cần có một biến cố thiên tai, dòch bệnh,… Điều này nói lên tính
thiếu bền vững trong vượt nghèo, cũng như các giải pháp giảm nghèo cần phải tiếp
tục được quan tâm cả những hộ nghèo và vừa vượt nghèo.
1.2/ Một số quan điểm về người nghèo
1.2.1/ Nghèo tuyệt đối
Nghèo đói có nhiều mặt, cho nên không có một đònh nghóa duy nhất, mà tuỳ
thuộc vào tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện, về thu nhập, điều kiện sinh
hoạt, môi trường sống, thiếu tài sản, thiếu cơ hội tạo thu nhập, dể bò tổn thương, ít
được ra quyết đònh, bò sỉ nhục, không được tôn trọng, sinh hoạt trong điều kiện
thiếu vệ sinh, thiếu nước sạch,… Một khái niệm mà các quốc gia trong khu vực
Thái Bình Dương thống nhất là :”Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư
không có khả năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu
cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của
từng vùng mà những phong tục ấy được xã hội thừa nhận.”
11

Theo ông Robert McNamara, khi làm giám đốc ngân hàng thế giới, đã đưa
ra khái niệm nghèo tuyệt đối :” Nghèo ở mức độ tuyệt đối… là sống ở ranh giới
ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu
tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm
cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí
thức chúng ta.”
Ngân hàng thế giới xem thu nhập 1 đô la Mỹ/ ngày theo sức mua tương
đương của đòa phương so với (đô la thế giới) để thoả mãn nhu cầu sống như là

- 7 – Ranh giới cho nạn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác
nhau cho một xã hội. Một con số ranh giới của nạn nghèo dùng trong chình trò và
công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình và của thu nhập ròng tương
đương. Lý luận của những nhà phê bình cho biết con số này thể hiện rất ít về
chuẩn mực sống của con người. Ngược với ranh giới nghèo tương đối, các phương
án tính toán ranh giời nghèo tuyệt đối đã đứng vững. Các ranh giới nghèo tuyệt đối
được tính toán một cách phức tạp bằng cách lập ra những giỏ hàng cần phải có để
có thể tham gia vào cuộc sống xã hội.
1.2.3/ Cách nhìn nhận của chính người nghèo
Quan niệm của chính người nghèo ở Việt Nam cũng như một số quốc gia
khác trên thế giới về nghèo đói, trực diện hơn rất nhiều. Những đoạn trích từ báo
cáo phát triển năm 2001 của WB dưới đây cho thấy cái mà người nghèo nhận thức
về cuộc sống trong cảnh đói nghèo của mình:
“Đừng hỏi tôi nghèo đói là gì,vì ông đã thấy nó ngay từ bên ngoài nhà tôi. Hãy
quan sát ngôi nhà và xem nó có bao nhiêu lỗ thủng trên đó. Hãy nhìn những đồ
đạc trong nhà và những quần áo tôi đang mang trên người. Hãy quan sát tất cả và
ghi lại những gì ông thấy. Cái mà ông thấy chính là đói nghèo đó.”
13
“Nghèo đói là sự hổ thẹn, cảm giác phải phụ thuộc vào người khác và buộc phải
chấp nhận sự bạo hành, sỉ nhục, thái độ thờ ơ khi tìm kiếm sự giúp đỡ.”
13
“Cháu đi lấy nước một ngày bốn lần bằng một cái vò đất nung có sức chứa 20 lít.
Đó là công việc nặng nhọc! Cháu chưa bao giờ được đến trường vì cháu phải giúp
mẹ trong công việc giặt giũ để kiếm đủ tiền,… Cháu cũng phải giúp mẹ chợ búa,
nấu nướng, đi kiếm củi và nhặt rác để đun. Nhà cháu không có buồng tắm, cháu
phải tắm trong bếp, mỗi tuần một lần vào ngày chủ nhật,… khi muốn đi vệ sinh
cháu phải xuống một con mương chảy ra sông sau nhà,… nếu có thể được thay đổi
cuộc đời, cháu thật sự muốn được đến trường và có thêm quần áo”

việc làm, ngoài ra những yếu tố nguy hiểm khác là phân bổ thu nhập quá mất cân
bằng, thiếu giáo dục và bệnh tật mãn tính.
1.3.2/ Nguyên nhân ở Việt Nam
Nguyên nhân khách quan là xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta trước
khi “đổi mới” thấp, do trải qua hơn 30 năm chiến tranh và điều kiện tự nhiên

- 10 – không thuận lợi, hàng năm Việt Nam phải chòu ít nhất trên dưới 10 cơn bảo, lũ lụt
triền miên,……
Nguyên nhân chủ quan do: Một là, tác động của chính sách chi tiêu cho y tế,
giáo dục và chính sách đầu tư phát triển kinh tế xã hội của nhà nước chưa cân đối
giữa các cấp hành chính, giữa các vùng miền, giữa các ngành kinh tế: nông
nghiệp, công nghiệp, nông thôn, thành thò; Hai là, do yếu tố chủ quan chính người
dân, thiếu ý chí vươn lên, thiếu năng động trong việc tận vụng các nguồn lực để
thoát nghèo, bê tha rượu chè, hút sách, cam chòu số phận.
Theo số liệu điều tra năm 2004 của bộ lao động thương binh xã hội, nguyên
nhân nghèo được người dân trả lời như sau:
-Thiếu vốn sản xuất : 79%
- Thiếu kiến thức sản xuất :70%
-Thiếu thông tin về thò trường : 35%
-Thiếu đất sản xuất : 29%
-Ốm đau, bệnh tật : 32%
-Đông con : 24%
-Không tìm được việc làm : 24%
-Rủi ro : 5,9%
-Gia đình có người mắc bệnh tệ nạn xã hội : 1%
1.4/ Thực trạng của nghèo
1.4.1/ Nghèo trên thế giới

thiểu được đònh nghóa bằng trợ cấp xã hội còn ở dưới ranh giới này.
Theo số liệu từ “Báo cáo giàu nghèo lần hai” do chính phủ liên bang đưa ra
trong tháng 3 năm 2005 thì năm 1998 có 12,1% dân số là nghèo, năm 2002 có
12,7% dân số là nghèo,năm 2003 có 13,5 dân số là nghèo. Hơn 1/3 những người
nghèo là những người nuôi con một mình , vợ chồng có nhiều hơn ba con chiếm
19%.

- 12 – Trẻ em và thanh niên ở Đức có nguy cơ nghèo cao, 15% trẻ em dưới 15 tuổi
và 19,1% thanh niên từ 16 đến 24 tuổi thuộc diện này. Số trẻ em sống nhờ vào trợ
cấp xã hội ở Đức tăng thêm 64.000, lên đến 1,08 triệu trong năm 2003 và đạt 1,45
triệu trong thời gian 2004/2005. Theo UNICEF, trẻ em nghèo ở Đức tăng nhanh so
với hầu hết các nước công nghiệp.
Ngược lại thì nạn nghèo ở người già giảm từ 13,3% năm 1998 xuống còn
11,4% năm 2003. Thế nhưng nạn nghèo ở đây được dự đoán là sẽ tăng vì những
người thất nghiệp hay việc làm nữa ngày.
1.4.1.3/ Nghèo ở Mỹ
Theo số liệu báo cáo của Cục điều tra dân số tháng 8 năm 2005 thì ở Mỹ
con số những người thu nhập dưới ranh giới nghèo đã liên tiếp tăng đến lần thứ tư.
Có 12,7% dân số hay 37 triệu người nghèo tăng 0,2% so với năm trước, một gia
đình được coi là nghèo khi chỉ có thể chi tiêu ít hơn 19.310 USD/người /năm. Đối
với những ngưới độc thân thì ranh giới này vào khoảng 9.650USD/người /năm.
1.4.1.4/ Tình hình chung
Theo số liệu của Ngân hàng Thế Giới thì trong năm 2001 trên toàn thế giới
có 1,1 tỉ người nghèo, tương đương 21% dân số thế giới, có thu nhập ít hơn 1
USD/người/ngày, tính theo sức mua đòa phương và vì thế được xem là rất nghèo.
Năm 1981 là 1,5 tỷ người, chiếm 40% dân số thế giới; Năm 1987 là 1,227 tỷ người,
tương đương 30% dân số thế giới; Năm 1993 là 1,314 tỷ người, tương đương 29%

Thu nhập bình quân đầu người/tháng trong hộ dưới 80.000 đồng ở khu vực
nông thôn miền núi; dưới 100.000 đồng ở khu vực nông thôn đồng bằng; và dưới
150.000 đồng ở khu vực thành thò được gọi là nghèo.
1.4.2.2/ Theo chuẩn giai đoạn 2001-2005
Trong báo cáo phát triển Việt Nam 2004 đã coi “những thành tựu giảm
nghèo của Việt Nam là một trong những câu chuyện thành công nhất trong phát
triển kinh tế”. Tỷ lệ giảm nghèo mạnh trong 5 năm từ năm 2001 là 2,8 triệu hộ,

- 14 – chiếm 17,2% xuống còn 1,44 triệu hộ vào năm 2004, chiếm 8,3%; tức là giảm 1,36
triệu hộ so với 2001, bình quân mổi năm giảm 34 vạn hộ.
Tính đến cuối năm 2004 có :
2 Tỉnh/Thành phố cơ bản không còn hộ nghèo
18 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 3 – 5%
24 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 5 – 10%
15 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 10 – 15%
3 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo từ 15 – 20%
2 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo trên 20%
Theo ước tính đến cuối năm 2005, cả nước còn khoảng 1,1 triệu hộ nghèo
theo chuẩn 2001-2005, dưới 7% tổng số hộ trong cả nước.
Thực tế, tuy tỷ lệ giảm nghèo có nhanh nhưng không đồng đều giữa các
vùng. Vùng Tây bắc, Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ có tốc độ giảm nghèo nhanh
nhất; tuy vậy các vùng này vẫn còn tỷ lệ hộ nghèo cao gấp 1,7 đến 2 lần so với tỷ
lệ chung của cả nước (biểu 1). Gần 90% hộ nghèo sống ở nông thôn, hộ nghèo là
đồng bào dân tộc thiểu số còn chiếm tỷ lệ khá cao ở một số tỉnh như Kontum 80%,
Gia Lai 77% nếu gặp thiên tai, rủi ro, sự thay đổi của cơ chế chính sách và tác
động của qui trình hội nhập thì khả năng tái nghèo của nhóm này rất lớn.


2004 so
với 2000
giảm(%)
ghi chú
1 Đông Bắc 22,35

179,872
10,36 11,99
2 Tây Bắc 33,96

81,986
14,88 19,08
3 ĐB Sông Hồng 9,76

289,647
6,13 3,63
4 Bắc Trung Bộâ 25,64

302,431
13,23 12,41
5 Nam Trung Bộ 22,34

164,289
9,56 12,78
6 Tây Nguyên 24,90

111,508
11,03 13,87
7 Đông Nam Bộ 8,88


21%
12%
8%
4%
16%
Đông Bắc
Tây Bắc
ĐB Sông Hồng
Bắc Trung Bộâ
Nam Trung Bộ
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
ĐB Sông Cửu LongBiểu 1.2 Tỷ lệ hộ dân nghèo thiểu số trong tổ số hộ nghèo (đơn vò %)

Dân tộc 1992 1998 2005 ghi chú
Dân tộc thiểu số 21 29 36
Dân tộc kinh 79 71 64
Chung 100 100 100
Nguồn Ban chỉ đạo xoá đói giảm nghèo TP.HCM
1.4.2.3/ Theo chuẩn mới (2006-2010)
Chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010 theo quyết đònh 170/2005/QĐ-TTg ngày
8 tháng 7 năm 2005 thì những hộ thu nhập bình quân đầu người một tháng ở vùng
nông thôn dưới 200.000đ được cho là nghèo, những hộ thu nhập bình quân đầu
người một tháng ở vùng thành thò dưới 260.000đ được cho là nghèo.Theo chuẩn
này ước tính vào cuối năm 2005 cả nước có khoảng 4,6 triệu hộ nghèo, chiếm 26%
đến 27% số hộ toàn quốc. Vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là vùng Tây Bắc
(52,2%), thấp nhất là vùng Đông Nam Bộ (10,8%)

2006 vừa được công bố, tại thủ đô Oslo của Na Uy sáng ngày 12/10/2006 cho Ngân
Hàng Grameen và người sáng lập là Giáo sư Muhammad Yunnus người Bangladesh
nhờ công giúp giảm nghèo, là một minh chứng cho việc đấu tranh giúp giảm nghèo
là trách nhiệm của xã hội. Ông Yunnus từng rất nổi tiếng với câu nói sẽ phấn đấu

- 18 – xoá đói nghèo cho “Một ngày con cháu chúng ta tới viện bảo tàng để thấy đói
nghèo là như thế nào”
18

1.5.2/ Mục tiêu phát triển kinh tế toàn cầu
Tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ đã được 189 nước thông qua tại Hội
nghò thượng đỉnh Thiên niên kỷ mang tính lòch sử vào tháng 9 năm 2000. Các mục
tiêu này thể hiện những ưu tiên và mục tiêu phát triển toàn cầu đến năm 2015
gồm:
-Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực và thiếu đói
-Đạt phổ cập giáo dục tiểu học
-Tăng cường bình đẳng giới
-Giảm tỷ lệ tử vong trẻ em
-Tăng cường sức khoẻ bà mẹ
-Phòng chống HIV/AIDS, sốt rét và các bệnh khác
-Đảm bảo bền vững về môi trường
-Thiết lập mối quan hệ toàn cầu vì mục đích phát triển
Với khẩu hiệu là :”Cuộc hành trình cho một tương lai tốt đẹp hơn”, Liên
Hợp Quốc phối hợp cùng chính phủ và nhân dân Việt Nam, phấn đấu đảm bảo
rằng, mọi người dân Việt Nam được hưởng cuộc sống ngày càng thònh vượng với
nhân phẩm, sức khoẻ không ngừng được nâng cao và phạm vi được lựa chon được
mở rộng hơn. Thông qua nổ lực toàn hệ thống quan tâm và tạo cơ hội cho những

Tiết kiệm
thấ
p
Đầu tư
thấp
Thu nhập
thấp

Năng
suất thấp

- 20 –
Người nghèo thường không có được vò trí cao trong xã hội, không có quyền
lực và họ thường chòu nhiều sự thiệt thòi, bò coi rẻ trong cộng đồng. Chúng ta có
thể hình dung cơ chế của sự nghèo trong một vòng luẩn quẩn:

Thiếu cơ hội
Học vấn thấp


Là một nước nông nghiệp, dân số khoảng 120 triệu người, trên 80% dân số
sống tại nông thôn bằng nghề nông, thu nhập đầu người từ 120 – 150 USD năm
1999, trên 50% số hộ nông dân không có ruộng, cuộc sống phần lớn trong số họ
nằm dưới mức nghèo khổ. Qua một dòp tình cờ, Giáo sư Mohammad Yunus biết
được có một ngôi làng Jobra ngay cạnh trường Đại học Chittagong, nơi ông dạy
học, có một phụ nữ nghèo mới 25 tuổi tên là Sofia Cartul, cô ấy có một khoản nợ
0,25 USD và người chủ nợ thật khắc nghiệt, yêu cầu mua tất cả những gì người
phụ nữ này làm ra hàng ngày vốn chỉ là những chiếc ghế bằng tre, với giá do
người này tự quyết đònh. Như vậy chẳng khác nào thuê lao động nô lệ. Giáo sư
quyết đònh ghi danh sách các nạn nhân được 42 người tổng số nợ là 27 USD và trở
thành người bảo lãnh cho những món vay này. Thật bất ngờ là tất cả các người
nghèo đều trả nợ đúng hạn. Từ đó ông quyết đònh thành lập ngân hàng riêng cho
người nghèo, cung cấp các món vay không cần thế chấp. Năm 1983 Grameen
Bank ra đời. Hiện nay không chỉ có người sáng lập là giáo sư Mohammad Yunus
là sở hữu mà đồng sở hữu là những người nghèo khổ ở quốc gia này. Trong hội
thảo tài chính vi mô được tổ chức ở Thành Phố Hồ Chí Minh năm 2005, chính ông
khẳng đònh rằng ngân hàng của ông còn cho cả những người ăn mày ở Bangladesh
vay.
Điều đặc biệt ngạc nhiên là 4,5 triệu người nghèo khổ của Bangladesh là
khách hàng của Grameen bank, nhưng tỷ lệ hoàn trả là 99%, như vậy nợ quá hạn
chỉ có 1%, cho dù các khoản vay chỉ dựa vào lòng tin, một con số mà đối với ngân
hàng thông thường không dễ gì có được dù khách hàng của họ là những người
giàu, có tài sản thế chấp. (Nobel hoà bình)
Các chuyên gia cũng sẽ rất ngạc nhiên về ngân hàng Grameen Bank, khi
biết rằng 66% trong số 500 triệu USD tiền cho vay hàng năm là từ tiền gửi tiết
kiệm của chính thành viên, những người nghèo ở Bangladesh.

- 22 –



BRI-UD có một mạng lưới hoạt động rộng khắp trên toàn quốc, ở cả những
làng xã nhỏ. Ban đầu, BRI-UD có mục tiêu thay thế tín dụng nông thôn trực tiếp
bằng rộng khắp cho bất kỳ loại hình kinh tế nông thôn nào; Thay thế tín dụng trợ
cấp với lãi suất cho vay dương với khoản chênh lệch đủ để trang trải chi phí tài
chính và chi phí trung gian. Thành công của BRI-UD trong việc huy động các
khoản tiết kiệm trong nông thôn và mục tiêu hướng đến những hộ nông dân cực
nghèo, được xem như là một thành tích đáng kể.
- Mô hình nhóm liên kết của châu Mỹ Latin
Do tổ chức quốc tế ACCION là tổ chức tiên phong thực hiện, các cá nhân
vay theo nhóm gồm 4 tới 7 thành viên bảo lãnh chéo cho nhau. Các khách hàng
vay là những nhà kinh doanh nhỏ, tiết kiệm là điều kiện bắt buộc để nhận được
khoản vay và thông thường được trừ dần vào nợ gốc, các thành viên trong nhóm tự
bảo lãnh cho nhau, khả năng được vay trong những lần tiếp tuỳ theo tình hình hoàn
trả của các thành viên trong nhóm. Ban đầu mỗi thành viên được vay từ khoảng
100 USD đến 200 USD, mỗi cán bộ quản lý từ 300 đến 400 thành viên

Tóm tắt chương 1
Nghiên cứu nhằm mục đích giảm nghèo, mà chúng ta không biết được người
nghèo họ là ai, đặc điểm của họ là gì, họ sinh sống ở đâu, có bao nhiêu người
nghèo thì cũng giống như một thuyền trưởng đang lênh đênh trên biển với một con
thuyền mà không có chiếc la bàn, bầu trời thì âm u không có mặt trời, mất phương
hướng. Trong chương này tập trung tìm hiểu về các khái niệm về nghèo, các chuẩn
nghèo trên thế giới và Việt Nam, đặc điểm của người nghèo, cách nhìn của chính
những người nghèo, trách nhiệm xã hội đối với người nghèo, mục tiêu thiên niên
kỷ mà Liên Hiệp Quốc đã thống nhất hành động cho cuộc hành trình cho một
tương lai tốt đẹp hơn, các quan điểm của đảng nhà nước với việc giảm nghèo, cuối
cùng là mối quan hệ giữa tín dụng với việc giúp người nghèo giảm nghèo.

- 24 –
2.1.2/ Chuẩn nghèo ở thành phố Hồ Chí Minh
So với chuẩn nghèo quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh là khu vực kinh tế
năng động, phát triển, nhu cầu cải thiện cuộc sống tăng nhanh, cần có một chuẩn
riêng ngang tầm với khu vực. Chính vì vậy vào năm 2004 Thành phố Hồ Chí Minh
xây dựng chuẩn nghèo là dưới 6trđ/người/năm tương đương thu nhập 1
USD/người/ngày cao hơn 1,9 lần so với chuẩn nghèo quốc gia.
Chuẩn nghèo này được Uỷ Ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh được xây
dựng trên hai tiêu chí:
-Một là, về mức thu nhập bình quân đầu người
-Hai là, khả năng tiếp cận và hưởng thụ các dòch vụ xã hội
Trong tiêu chí về mức thu nhập được dựa vào trình độ phát triển kinh tế và
mức thu nhập trung bình của người dân được chấp nhận trong từng thời điểm để
tính chuẩn nghèo. Giai đoạn từ 1992 đến 2003 thành phố đã điều chỉnh 5 lần thay
đổi chuẩn nghèo cụ thể như sau:
Giai đoạn 1
Vào tháng 2 năm 1992 thu nhập dưới 500 ngđ/người/năm, tương đương với
13 kg gạo được cho là nghèo.
Từ tháng 10 năm 1992 do điều kiện mức sống giữa nội thành và ngoại thành
có khác nhau nên điều chỉnh chuẩn nghèo cho nội thành nếu thu nhập dưới 1
trđ/người/năm và dưới 700 ngđ/người /năm được cho là nghèo.
Đến 1995, điều chỉnh chuẩn nghèo là thu nhập dưới 1 trđ/người/năm đối với
ngoại thành và dưới 1,5 trđ/người/năm đối với nội thành được cho là nghèo.
Năm 2004 chuẩn nghèo là thu nhập dưới 2,5 trđ/người/năm, đối với nội
thành và 2 trđ/người/năm đối với ngoại thành.
Từ năm 1997 đến 2003 thành phố điều chỉnh chuẩn nghèo là thu nhập dưới
3 trđ/người/năm và dưới 2,5 trđ/người/năm đối với ngoại thành.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status