1
BỘ TƯ PHÁP
VIỆN KHOA HỌC PHÁP LÝ
BÁO CÁO TỔNG HỢP
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP BỘ
XÃ HỘI HÓA HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
Chủ nhiệm đề tài: TS. Trần Mạnh Đạt
Thư ký đề tài: Ths. Nguyễn Minh Khuê
8986
HÀ NỘI - 2010 2
MỤC LỤC
3
CẢI CÁCH TƯ PHÁP TRONG THỜI GIAN QUA TẠI VIỆT NAM
I. Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành chủ trương xã hội hoá hoạt
động giám định tư pháp trong thời gian qua
47
1. Thực trạng pháp luật liên quan đến xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp 47
2. Thực tiễn thi hành chủ trương xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp 54
II. Một số hạn chế bất cập về pháp luật và thực tiễn thực hiện chủ trương
xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp trong thời gian qua
67
1. Về pháp luật 68
2. Về tổ chức giám định tư pháp 72
3. Về lựa chọn và bổ nhiệm giám định viên tư pháp 74
4. Về bảo vệ lợi ích của người giám định tư pháp, cơ quan, tổ chức chuyên
môn thực hiện giám định tư pháp
77
5. Về nhận thức của các chủ thể có liên quan đến việc huy động các cơ quan,
tổ chức chuyên môn và chuyên gia giỏi tham gia vào hoạt động giám định tư
pháp
80
6. Về công tác quản lý 83
7. Về công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật liên quan đến việc huy động,
thu hút các cơ quan, tổ chức chuyên môn và chuyên gia giỏi tham gia hoạt
động giám định tư pháp
84
CHƯƠNG III: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ TĂNG CƯỜNG XÃ HỘI HOÁ HOẠT
ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI CÁCH TƯ PHÁP
86
I. Định hướng và yêu cầu đặt ra đối với xã hội hoá hoạt động giám định
tư pháp
5
CÁC CHUYÊN ĐỀ
1 Khái niệm, vai trò, mục đích, ý nghĩa
của giám định tư pháp
TS. Trần Mạnh Đạt 110
2 Bản chất của giám định tư pháp -
Những nhận thức mới trong bối cảnh
cải cách tư pháp
Thiếu tướng, PGS.TS. Ngô
Tiến Quý
116
3 Đánh giá thực trạng pháp luật Việt
Nam liên quan đến xã hội hoá hoạt
động giám định tư pháp
Ths. Nguyễn Minh Khuê 129
4 Thực tiễn thi hành chủ trương xã hội
hoá hoạt động giám định tư pháp trong
thời gian qua
Luật gia Nguyễn Thị Thuỵ 143
5 Hoạt động giám định tư pháp và yêu
cầu xã hội hoá đối với công tác giám
định tư pháp
7
NHÓM THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
- TS. Trần Mạnh Đạt, Chủ nhiệm Đề tài
- Ths. Nguyễn Minh Khuê, Thư ký đề tài
- Thiếu tướng, PGS. TS. Ngô Tiến Quí, Viện trưởng Viện Khoa học hình sự,
Bộ Công an
- PGS.TS. Trần Chủng, Nguyên Cục Trưởng Cục Giám định Nhà nước về
Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII tháng 6/1997, Nghị quyết Đại hội Đảng
khóa IX tháng 6/2001, Nghị quyết số 08 ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về
một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác t
ư pháp trong thời gian tới, Nghị
quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng
đến năm 2020 và đặc biệt là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của
Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 đặt ra: “Hoàn
thiện chế định giám định tư pháp. Nhà nước cần đầu tư
cho một số lĩnh vực
giám định tư pháp để đáp ứng yêu cầu thường xuyên của hoạt động tố tụng.
Thực hiện xã hội hoá đối với các lĩnh vực có nhu cầu giám định không lớn,
không thường xuyên. Quy định chặt chẽ, rõ ràng về trình tự, thủ tục, thời hạn
trưng cầu và thực hiện giám định ”
- Xã hội hóa hoạt động giám định tư pháp góp phần tích cự
c thực hiện
chủ trương “nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử” theo
Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp.
Trong hoạt động tố tụng, hoạt động giám định ngày càng trở nên quan
trọng bởi trong nhiều vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự nếu không có
giám định tư pháp thì không thể điều tra, truy tố, xét xử được đúng đắn, chính
xác, bảo v
ệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên, bảo vệ trật tự xã hội.
Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật tố tụng hiện hành, hoạt động
giám định tư pháp chỉ có thể do các cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu, còn
các cá nhân, tổ chức là đương sự trong các vụ án dân sự, kinh tế và bị can, bị
cáo, người bị hại trong các vụ án hình sự không được quyền trực tiếp trưng
cầu giám
định. Điều này rõ ràng là ảnh hưởng đến quyền thu thập chứng cứ,
2008 còn 4.000 vụ án bị ách tắc do liên quan đến vi
ệc trưng cầu giám định (như
thiếu người để thực hiện giám định tư pháp )
2
. Thêm vào đó, nếu theo như qui
định của pháp luật tố tụng và các văn bản liên quan hiện nay thì nhiều người 1
Số liệu thống kê kiểm sát điều tra hình sự (án thụ lý các năm 2000, 2001, 2002, 2003) và việc trưng cầu
giám định tư pháp của Cục thống kê tội phạm - Viện kiểm sát NDTC.
2
Thông tin từ Vụ Bổ trợ tư pháp - Bộ Tư pháp. 10
không muốn tham gia làm giám định viên tư pháp (do không tận dụng được
chuyên môn, do chính sách đãi ngộ )
3
.
- Nghiên cứu xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp là góp phần
chuẩn bị cho việc xây dựng Dự án Luật giám định tư pháp và sửa đổi, bổ
sung các văn bản luật có liên quan như Bộ luật tố tụng hình sự 2003, Bộ luật
tố tụng dân sự 2004 và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính
Pháp lệnh giám định tư pháp 2004 đã có một số giải pháp có tính
bứt phá, th
ể hiện những tư tưởng xã hội hoá như việc mở rộng chủ thể
thực hiện hoạt động giám định, khẳng định việc thành lập các tổ chức
giám định trong một số lĩnh vực để tập trung đầu tư còn các lĩnh vực khác
sẽ không thành lập tổ chức giám định mà chỉ có các giám định viên tư
- Xã hội hóa hoạt động tư pháp nói chung và hoạt động giám định tư
pháp nói riêng là một xu thế, đồng thời còn là một phương hướng mới trong
cuộc cải cách tư pháp của Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề xã hội hóa hoạ
t
giám định tư pháp còn có nhiều quan điểm khác nhau. Chẳng hạn như cần
xác định rõ nội hàm giữa hai khái niệm “xã hội hoá” và “tư nhân hoá” hoạt
động bổ trợ tư pháp; hay việc xác định những lĩnh vực nào thuộc thuộc về
"quyền lực công" mà Nhà nước phải trực tiếp tổ chức thi hành và những lĩnh
vực nào thuộc về "quyền lực tư" Nhà nước không trực tiếp thực hi
ện mà coi
đó là một loại dịch vụ pháp lý đặc biệt và giao cho các tổ chức hoặc cá nhân
có đủ điều kiện theo luật định thực hiện; hay nếu quan niệm xã hội hoá là sự
chuyển giao một số công việc vốn lâu nay thuộc chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước sang cho các tổ chức xã hội hoặc cá nhân thực hiện thì việc xã hội
hóa hoạt động giám định tư pháp nên được áp dụ
ng xã hội hóa toàn bộ hay
vẫn duy trì hai loại hình tổ chức cùng thực hiện những công việc trên là các
cơ quan tư pháp Nhà nước và các tổ chức, cá nhân ngoài khu vực Nhà nước;
hay cũng có quan điểm cho rằng, thực hiện xã hội hoá hoạt động giám định
tư pháp, nên chăng, chỉ triển khai thực hiện trong một số nội dung lĩnh vực,
công việc cụ thể và ở những địa phương thật sự có nhu cầ
u, mà ở đó, các
hoạt động này cũng đang bức xúc, quá tải… Vì vậy, xã hội hoá hoạt động bổ
trợ tư pháp nói chung và hoạt động giám định tư pháp nói riêng là một vấn
đề chưa được thực tiễn kiểm chứng nên rõ ràng cần phải có sự nghiên cứu,
phân tích thấu đáo cả về mặt lý luận cũng như trên cơ sở các dự báo về các
điều kiện kinh tế, xã hộ
i trong tương lai.
- Trong công tác nghiên cứu khoa học, đã có khá nhiều công trình nghiên
cứu khác nhau, trong đó trực tiếp hoặc gián tiếp có đề cập đến vấn đề giám định
State and Local Government- University of Texas- West Publishing Co- St
Paul Minn-1995; Những kiến gi
ải hạn hẹp về giám định tư pháp, Tư pháp
Trung quốc 1- Bắc Kinh, 2000; Giám định DNA để xác định nguồn gốc - một
vùng pháp luật xám Med. Christian, Natasha Rittus, Tư pháp mới Số ngày
10/6/2002 - Munchen.Frankfurt.a.m; Một số ý kiến hoàn thiện để đẩy mạnh
công tác quản lý giám định tư pháp, Hoắc Hiến Đan- Tạp chí Tư pháp Trung 13
quốc số 8/2006- Bắc Kinh; Chế độ giám định tư pháp nước ngoài, Chu Ngọc
Chương- Tư pháp Trung Quốc Số 6/2004- Bắc Kinh Pháp lý 2004
Những tài liệu này đã đề cập các nội dung chủ yếu sau:
- Khái quát hoạt động giám định tư pháp của Pháp, Thuỵ Điển, Trung
Quốc. Trong đó, một số vấn đề đã được Ban Soạn thảo Pháp lệnh giám định
tư pháp tiếp thu trong quá trình xây dựng Pháp lệnh giám đị
nh tư pháp năm
2004 như mở rộng chủ thể giám định, phí giám định, tổ chức giám định
- Giới thiệu cách thức cung cấp dịch vụ, các tiêu chuẩn nghề nghiệp của
các chức danh nghề nghiệp trong lĩnh vực luật, quyền và nghĩa vụ đối với
khách hàng của một số nước như Mỹ, Thuỵ điển
- Giới thiệu một số Bộ luậ
t tố tụng, trong đó có các quy định về giám
định tư pháp trong tố tụng của một số nước như: Mỹ, Canada, Nhật Bản, Nga,
Trung Quốc
- Giới thiệu kinh nghiệm quản lý hoạt động giám định tư pháp của một
số nước
2. Tình hình nghiên cứu ở trong nước
Liên quan đến hoạt động giám định tư pháp, ở trong nước, có khá nhiều
công trình nghiên cứu đã được công bố như Đề
định trong một số lĩnh vực của Việt Nam từ năm 1945 đến thời điểm trước
khi có Pháp lệnh giám định tư pháp năm 2004;
- Nêu được các khái niệm về giám định tư pháp và hoạt động tư pháp;
- Đánh giá khái quát thực trạng các quy định pháp luật về giám định tư
pháp và việc áp dụng các quy định đó trên thực tiễn đến thời điểm trước khi
có Pháp lệnh giám định t
ư pháp năm 2004;
- Một số công trình đã đưa ra được các bất cập của hoạt động giám định
tư pháp và bước đầu đưa ra những kiến nghị để khắc phục.
Các công trình nghiên cứu trên đây (cả ngoài nước và trong nước) đều là
những công trình có giá trị khoa học và thực tiễn cao. Tuy nhiên, do mục tiêu đặt
ra cũng như do bị chi phối bởi các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể nên m
ỗi
công trình thường chỉ khai thác sâu về một khía cạnh nhất định của vấn đề giám
định tư pháp mà chưa có công trình nào đề cập một cách đầy đủ, toàn diện về
vấn đề xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp.
III. Mục tiêu của Đề tài
Mục tiêu của của Đề tài là đưa ra các kiến nghị về những giải pháp góp
phần xã hội hoá hoạt động giám định tư pháp đáp
ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
15
IV. Nội dung nghiên cứu của Đề tài
1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về giám định tư pháp trong điều
kiện mới, trên cơ sở đó làm rõ căn cứ lý luận của việc xã hội hóa hoạt động
giám định tư pháp trong bối cảnh cải cách tư pháp;
2. Nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật về giám định tư pháp
và việc tổ chức thực hiện các quy định
I. Một số vấn đề lý luận cơ bản về giám định tư pháp và xã hội hoá
hoạt động giám định tư pháp
II. Đánh giá thực trạng thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động
giám định tư pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời gian qua tại
Việt Nam
III. Mộ
t số kiến nghị tăng cường xã hội hóa hoạt động giám định tư
pháp đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp
Nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn Viện Khoa học pháp lý, Nhà
xuất bản Tư pháp cùng nhiều tổ chức, các cá nhân khác đã tận tình giúp đỡ
các thành viên của Nhóm Đề tài trong quá trình triển khai nghiên cứu.
Hà Nội, 2010
17
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
VÀ XÃ HỘI HOÁ HOẠT ĐỘNG GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC TRƯNG, VAI TRÒ, MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA CỦA
GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP
1. Khái niệm giám định tư pháp
Khái niệm giám định tư pháp là vấn đề lý luận cơ bản có ý nghĩa quan
trọng trong việc hoàn thiện thể chế, xây dựng mô hình tổ chức, cơ ch
ế quản lý
phù hợp với bản chất của hoạt động giám định, nhằm đảm bảo phát huy được vai
trò của hoạt động giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng cũng như đáp ứng
18
Giám định là công việc kiểm tra, đánh giá chung đối với hầu hết đối
tượng. Giám định liên quan đến sự đo lường, kiểm tra và các tiêu chuẩn đánh
giá áp dụng để xác nhận chắc chắn các thông số kỹ thuật đặt trưng liên quan
đến đối tượng giám định. Kết quả giám định thông thường được so sánh với
các yêu cầu và các tiêu chuẩn đã đưa ra nhằm xây dựng mục tiêu đã định đối
v
ới đối tượng giám định.
Từ khái niệm này cho thấy, để hoạt động giám định chỉ có thể được
tiến hành khi có các yêu cầu và tiêu chuẩn đối với một đối tượng giám định
nhất định.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế trong hoạt động của các cơ quan Nhà nước,
các tổ chức xã hội và công dân nên có nhiều loại hoạt động giám định khác
nhau như giám định chất lượng công trình xây dự
ng trong xây dựng, giám định
thương tật trong y tế, giám định chất lượng hàng hoá trong thương mại
Trong lĩnh vực tư pháp, để phục vụ cho quá trình điều tra, truy tố, xét
xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, lao động, hành chính và các
vụ án khác nếu phát sinh những vấn đề liên quan đến kiến thức thuộc các lĩnh
vực chuyên môn thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ trưng cầu giám định các cá
nhân, tổ chức, cơ
quan chuyên môn thực hiện giám định. Hoạt động giám
định này được gọi là giám định tư pháp.
Ở nước ta, quan niệm về giám định tư pháp được thể hiện trong một
số văn bản pháp luật thực định và ngày càng được qui định cụ thể, rõ ràng
hơn.
Tại Thông tư liên bộ Y tế - Tư pháp số 2795/HC-TP ngày 12/12/1956
quy định về một số điểm cụ thể trong công tác giám định pháp y qui định:
Giám đị
nh viên pháp y và cơ quan điều tra phải quan niệm giám định pháp y
giám định tư pháp mà chưa xác định chủ thể của hoạt động giám định tư pháp.
Đến Pháp lệnh giám định tư pháp năm 2004 - vă
n bản pháp lý có ý
nghĩa quan trọng đặt nền móng cho sự đổi mới tổ chức và hoạt động giám
định tư pháp theo hướng xã hội hóa, tại Điều 1 được xác định: Giám định tư
pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện, phương pháp khoa học, nghiệp
vụ chuyên môn những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ
việc dân sự (gọi chung là vụ án) do người giám định tư pháp th
ực hiện theo 20
trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nhằm phục
vụ cho việc giải quyết các vụ án.
Khái niệm về giám định tư pháp Pháp lệnh này đã thể hiện sự đổi
mới tư duy pháp lý về giám định tư pháp; nhận thức về giám định tư pháp đã
đầy đủ hơn; đã xác định rõ: chủ thể của hoạt độ
ng giám định tư pháp; chủ
thể trưng cầu giám định tư pháp và mục đích của hoạt động giám định tư
pháp. Tuy nhiên, khái niệm trên cũng mới chỉ giới hạn chủ thể trưng cầu
giám định là các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Mặt
khác, việc sử dụng thuật ngữ "người giám định tư pháp" trong khái niệm
trên dễ gây ra cách hiểu, chỉ có ngườ
i giám định tư pháp mới được thực hiện
giám định tư pháp; hoặc cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
chỉ được trưng cầu người giám định tư pháp thực hiện giám định tư pháp
(mà đáng lẽ phải hiểu là, nhà chuyên môn, tổ chức chuyên môn thực hiện
giám định theo trưng cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụ
ng là người giám định tư pháp). Việc giới hạn chủ thể trưng cầu và chủ thể
thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có quyền nhưng không
buộc chứng minh là mình vô tội. Trong tố tụng dân sự, nghĩa vụ chứng minh
thuộc về đương sự, các bên đương sự phải cung cấp chứng cứ và chứng minh
cho yêu cầu của mình. Đây là một nguyên tắc xuất phát từ quyền tự định đoạt
của đương sự
đối với việc khởi kiện của mình.
Với cơ chế tố tụng đang từng bước được đổi mới như trên, việc pháp
luật quy định chủ thể trưng cầu giám định tư pháp chỉ thuộc về cơ quan tiến
hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như hiện nay ở Việt Nam chỉ phù hợp
với tố tụng hình sự, còn
đối với tố tụng dân sự là không thỏa đáng. Bởi một
nguyên tắc quan trọng là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự,
đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu tòa án có thẩm quyền
giải quyết vụ việc dân sự; có quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình
bằng việc rút lại, thừa nhận hoặc th
ỏa thuận với nhau để giải quyết các vụ
việc dân sự một cách tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Đây
là nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự, phản ánh sự khác nhau về bản chất
giữa tố tụng dân sự và tố tụng hình sự. Mặt khác, việc giới hạn chủ thể thực
hiện giám định tư pháp chỉ là người giám định tư
pháp cũng hạn chế không
nhỏ tới việc thu hút sự tham gia của các nhà chuyên môn, tổ chức chuyên
môn vào thực hiện giám định tư pháp. 22
Do đó, trong khái niệm giám định tư pháp, việc xác định chủ thể trưng
cầu giám định cần có tiêu chí bao quát phù hợp với cả tố tụng hình sự, tố tụng
dân sự, theo hướng: Trong tố tụng hình sự, quyền trưng cầu giám định tư
pháp thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị can, bị
6
Ths.Trần Diện, Xã hội hóa giám định tư pháp ở Việt Nam hiện nay, luận văn thạc sỹ luật học,
2009, Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
23
2. Đặc trưng hoạt động giám định tư pháp
2.1. Giám định tư pháp là hoạt động chuyên môn do chuyên gia thực hiện
Để phục vụ cho việc giải quyết các vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng có
thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau nhằm thu thập chứng cứ. Một trong
những biện pháp đó là trưng cầu giám định tư pháp. Theo quy định của pháp
luật tố tụng thì trong một số trường h
ợp bắt buộc hoặc khi xét thấy cần thiết
cho việc giải quyết vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng có thể trưng cầu giám
định tư pháp. Trong khi đó, tội phạm và tranh chấp dân sự có thể xảy ra trong
mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Cơ quan tiến hành tố tụng có thể trưng cầu
bất kỳ chuyên gia nào có kiến thức về lĩnh vực chuyên môn liên quan đến v
ụ
án để thực hiện giám định. Với các chuyên gia, bên cạnh hoạt động chuyên
môn thì hoạt động giám định tư pháp chỉ là một nhiệm vụ (công việc) của họ.
Có thể nói, giám định tư pháp là một biện pháp điều tra do nhà chuyên môn
thực hiện. Cũng như quan niệm của nhiều nước khác trên thế giới, ở nước ta
giám định tư pháp không được coi là một nghề mà là một hoạt động chuyên
môn, giám đị
nh viên tư pháp hầu hết là kiêm nhiệm.
Khi thực hiện giám định, bên cạnh việc tuân thủ các quy định của pháp
luật có liên quan thì người giám định tư pháp còn phải thực hiện đúng các quy
phục vụ cho công tác quản lý của nhà nước, giao dịch dân sự và đời sống
hàng ngày. Tuy nhiên, tất cả các hoạt động giám định nói trên đều không
được coi là giám định tư pháp. Chỉ xác định là giám định tư pháp khi việc
thực hiện giám định để phục vụ cho việc giải quyết các vụ án.
3. Vai trò, mục đích, ý nghĩa của giám định tư pháp
3.1. Vai trò của giám định tư pháp
Giám định t
ư pháp là hoạt động bổ trợ tư pháp, xuất hiện và tồn tại do
nhu cầu của hoạt động tố tụng, có ý nghĩa đặc biệt và không thể thiếu trong
bất kỳ nền tư pháp nào. Sự tương tác giữa hoạt động giám định và hoạt động
tố tụng là một trong những tiêu chí để đánh giá, là yếu tố phản ánh trình độ
phát triển hệ thống tư pháp của mộ
t quốc gia.
Thông qua việc đánh giá, kết luận về phương diện chuyên môn những
vấn đề có liên quan đến vụ án, hoạt động giám định tư pháp đóng vai trò quan
trọng đối với hoạt động tố tụng, cung cấp cho các cơ quan tiến hành tố tụng
những chứng cứ mang tính khoa học, góp phần giải quyết vụ án được chính
xác, khách quan và đúng pháp luật. 25
Trong tình hình hiện nay, khi hình thái kinh tế - xã hội đa dạng, khoa
học kỹ thuật phát triển, tranh chấp trong các quan hệ, giao dịch, hành vi phạm
tội trong các vụ án ngày càng nhiều, với tính chất phức tạp, tinh vi và mức độ
nghiêm trọng, thì nhu cầu về giám định tư pháp trong hoạt động tố tụng ngày
càng lớn và trở nên bức thiết hơn.
Xét trên phương diện quyền công dân trong một Nhà nước pháp quyền,
hoạt động giám định tư pháp góp phần b
ảo vệ một cách hữu hiệu các quyền
và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thông qua việc tạo lập và cung cấp