Nghiên cứu sản xuất thực phẩm chức năng từ chiết xuất hợp chất có lưu huỳnh trong súp lơ và cải xanh trồng ở việt nam - Pdf 13


LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC KỸ THUẬT VIỆT NAM
TRUNG TÂM TƯ VẤN ĐẦU TƯ NGHIÊN CỨU PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN VIỆT NAM BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI CẤP BỘ NGHIÊN CỨU SẢN XUẤT THỰC PHẨM CHỨC NĂNG TỪ
HỢP CHẤT CÓ LƯU HUỲNH CHIẾT XUẤT TỪ SUPLƠ
VÀ CẢI XANH TRỒNG Ở VIỆT NAM

Chủ nhiệm đề tài: GS.TSKH. LÊ DOÃN DIÊN
180.000.000 đồng (Một trăm tám mươi triệu
đồng)
5. Thời gian thực hiện: 2 năm (tháng 3/2007 đến 3/2009)
6. Mục tiêu của đề tài
- Xây dựng được quy trình chiết xuất hợp chất có lưu huỳnh: Sulforaphane và
dẫn chất của nó từ các loại rau nghiên cứu
- Sản xuất được 1 loại thực phẩm chức năng từ các hoạt chất chiết xuất được.
7. Nội dung của đề tài:
7.1. Nghiên c
ứu xác định hàm lượng hoạt chất có lưu huỳnh (sulforaphane và
dẫn chất của nó) ở 3 thời điểm sinh trưởng và phát triển: Mầm giá, thời kỳ
hoa nụ và thời kỳ hoa nở
7.2. Nghiên cứu quy trình công nghệ chiết xuất hoạt chất có lưu huỳnh
(sulforaphane và dẫn chất của nó) từ Suplơ và cải xanh
7.3. Nghiên cứu quy trình công nghệ chế biến 1 loại thực phẩm chức năng
bằng cách phối chế các hoạt chất có lưu huỳnh chiết xuất được từ các loại rau
nghiên cứu với bột nghệ vàng giàu curcumin, tumeric và ukon nhằm phục vụ
cho nhóm người cao tuổi.

t từ suplơ và cải xanh trồng ở Việt Nam”.
Chúng tôi cũng xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các cán bộ Viện Hóa học
thuộc Viện KHCN Việt Nam; Viện Dược liệu, Viện Dinh dưỡng (Bộ Y tế); Viện Cơ điện Nông
nghiệp và Công nghệ sau thu hoạch, Cục Bảo vệ thực vật (Bộ Nông Nghiệp và PTNN), đã
khuyến khích, kết hợp và giúp đỡ tận tình trong suốt thời gian chúng tôi thực hiện đề tài này. Thay mặt Ban chủ nhiệm

GS.TSKH Lê Doãn Diên MỤC LỤC

NỘI DUNG Trang

25
II.3 Phương pháp nghiên cứu xác định hoạt chất
25
II.3.1 Phương pháp nghiên cứu xác định hoạt chất 25
II.3.2 Phương pháp chiết xuất glycosinolate nhóm sulforaphane và Indol-3-
carbinol
26
II.3.3 Nghiên cứu quy trình công nghệ chế tạo thực phẩm chức năng Sucur 27
II.3.4 Phương pháp xác định thủy phần 28
II.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 28
II.4 Thiết bị & dung môi hóa chất nghiên cứu
29
II.4.1 Thiết bị 29
II.4.2 Dung môi và hóa chất đã được sử dụng 29
PHẦN III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
30
III.1 Kết quả nghiên cứu sản xuất mầm giá và chế biến hoa suplơ và cây
cải xanh
30
III.1.1 Kết quả nghiên cứu sản xuất mầm giá 30
III.1.2 Kết quả nghiên cứu chế biến hoa suplơ và cây cải xanh 31
III.2 Kết quả nghiên cứu việc xác định hàm lượng glycosinolate ở các thời
điểm sinh trưởng khác nhau của suplơ và cải xanh
32
III.2.1 Xác định glycosinolate nhóm sulforaphane 32
III.2.2 Xác định Glycosinolate nhóm Indol-3-carbinol 35
III.3 Kết quả nghiên cứu việc chiết xuất glycosinolate

DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

TPCN : Thực phẩm chức năng
HCSH : Hoạt chất sinh học
CNSH : Công nghệ sinh học
SGS : sulforaphane
I3C : Indol-3-carbinol
DIM : Diindolylmethane
ICZ : Indolecarbazole
HPLC : High-performance liquid chromatography (or High
pressure liquid chromatography, Sắc ký lỏng cao áp (sắc ký lỏng hiệu
năng cao)
SKLM : (Thin Layer Chromatography) Sắc ký lớp mỏng
H.P : Helicobacter pylori
RES : reticuloendothelial system) - hệ lưới nội mô

HDL : (high density lipoprotein) lipoprotein có phân tử lượng
cao

béo phì, Cholesterol cao,… mà còn có hiệu quả đối với chứng bệnh thường
gặp cả ở người giàu và người nghèo: chứng bệnh đau dạ
dày, tá tràng,… Một
trong các hoạt chất quý giá là glucosinolate nhóm sulforaphane và Indol-3-
carbinol.
Việc nghiên cứu các hoạt chất có lưu huỳnh nói trên của các loại rau họ
Cải (tên cũ là họ Chữ thập), đặc biệt là suplơ xanh, đã được nghiên cứu ở
nhiều nước trên thế giới, nhưng cho đến này chúng tôi chưa thấy có công
trình nào công bố ở Việt Nam. Vì vậy đề tài: “Nghiên cứu sản xuất thực
phẩm chức năng từ hợp chất có lưu huỳnh chiết xuất từ Súplơ và cải xanh
trồng ở Việt Nam” là hoàn tòan cần thiết và đúng hướng. Công trình nghiên
cứu này nhằm các mục tiêu sau đây:
1) Xác định hợp chất glucosinolate nhóm sulforaphane và nhóm Indol-3-
carbinol ở 3 thời điểm sinh trưởng và phát triển: Mầm giá, thời kỳ hoa n
ụ và
thời kỳ hoa nở
2) Nghiên cứu quy trình công nghệ chiết xuất hoạt chất có lưu huỳnh từ Suplơ
và cải xanh
3) Nghiên cứu quy trình công nghệ chế biến 1 loại thực phẩm chức năng bằng
cách phối chế các hoạt chất có lưu huỳnh chiết xuất được từ các loại rau
nghiên cứu với bột nghệ vàng giàu curcumin, tumeric và ukon nhằm phục vụ
cho nhóm người cao tuổi.
Hướng nghiên cứ
u này của đề tài rất phù hợp với xu thế của thế giới.
Đề tài sẽ đóng góp phần khiêm tốn của mình về mặt lý luận cũng như thực
tiễn trong lĩnh vực nghiên cứu hợp chất có lưu huỳnh của suplơ và cải xanh
trồng ở Việt Nam. Đồng thời việc sử dụng chế phẩm của hợp chất lưu huỳnh

Các loại thực phẩm này nằm ở ranh giới giữa thực phẩm và thuốc chữa bệnh.
Theo dự báo của các chuyên gia thì “thức ăn của con người trong thế
kỷ XXI là thực phẩm chức n
ăng”. Thức ăn không chỉ đảm bảo đủ calo, ngon,
an toàn, mà còn phải chứa các hoạt chất sinh học (HCSH) tự nhiên cần cho
sức khoẻ và sắc đẹp, không chỉ điều khiển được các hoạt động chức năng của
từng bộ phận trong cơ thể, tạo cho con người khả năng miễn dịch cao, chống
sự lão hoá, tăng tuổi thọ, mà còn giúp con người phòng chống được một số

bệnh, kể cả ung thư.
Thị trường thực phẩm chức năng là một trong những thị trường thực
phẩm tăng trưởng nhanh nhất, hơn 10% hàng năm. Riêng Mỹ chiếm tới 1/3
thị trường thế giới (khoảng 23 tỷ USD), thị trường Châu Âu đạt khoảng 19 tỷ
USD, Châu Á đạt 6 tỷ USD,… Chỉ tính riêng các loại TPCN dùng các chất bổ
sung có nguồn gốc từ cây cỏ, rau, quả ở M
ỹ đã có giá trị là 3,5 tỷ USD. Các
nước phát triển có xu hướng ưa chuộng các thực phẩm chức năng hơn là dùng
thuốc, theo quan điểm phòng bệnh hơn chữa bệnh. Chính vì vậy, đa số các tập
đoàn sản xuất thuốc đang chuyển sang sản xuất thực phẩm chức năng và tìm
được đối tượng tiêu thụ lớn hơn. Các chuyên gia kinh tế đã tính toán rằng,
doanh thu hàng năm của các loại thực phẩm chức năng đã vượt con số 100 tỷ
USD.
Trong các nước láng giềng của Việt Nam thì Trung Quốc là nước có
truyền thống sản xuất và sử dụng TPCN đi từ nguồn tài nguyên sẵn có trong
nước, đặc biệt là các chất bổ sung có lợi cho sức khỏe từ các loại cây cỏ, rau
quả. Vì vậy, TPCN của Trung Quốc rất đa dạng và phong phú không những
được s

Trên thị trường Việt Nam các sản phẩm TPCN rất phong phú và đa
dạng, hầu hết nhập từ các nước phát triển như Mỹ, các nước châu Âu, Nhật
Bản và Trung Quốc
Mỹ (Ultimate Nutrition và Mega-Pro) đã đưa ra thị trường loại thực
phẩm “làm đẹp” (cosmetic food). Một số thực phẩm “thông minh” đã xuất
hiệ
n có chứa các hoạt chất sinh học cần cho hoạt động của cấu trúc não bộ.
Các chế phẩm chống oxy hóa, chống lão hóa khá phong phú (Coenzyme
Q10), được bào chế từ các hoạt chất sinh học như selen hữu cơ, carotenoid,
các vitamin A, C, E, allicin, zingerol, và các tiền hormone steroid (từ động
vật) vốn có tác dụng khử các gốc tự do, kích hoạt các enzyme kháng oxy hoá
trong cơ thể, có tác dụng rất tốt trong việc chăm sóc vóc dáng và làn da của
người. Các nước châu Âu cũng đã giới thiệ
u một số thực phẩm “thông minh”
có chứa các hoạt chất sinh học cần cho hoạt động của cấu trúc não bộ. Ngoài
ra còn có dòng thực phẩm tăng cân Massive Whey, giúp cho người sử dụng
luôn giữ được cơ thể cân đối và khỏe mạnh. Một số thực phẩm hỗ trợ các
chức năng chống viêm nhiễm, chống lão hóa, tăng sức bền (Glutamin,
Coenzyme Q10, Creatine Monohydrate) cũng đã xuất hiện. Các sản phẩm này
giúp người sử dụng có một cơ thể mạnh khỏe, cân bằng, luôn ở trạng thái
hưng phấn, sẵn sàng với công việc và lúc nào cũng thể hiện sự tươi trẻ. Có
một số loại thực phẩm chức năng khác như TPCN hỗ trợ giảm mỡ, tăng
cường hormone sinh dục (Died Ripped, Ultimate Burner, Ultra ripped,
Tribulus ) cũng đã có mặt trên thị trường thế giới và đã được giới thiệ
u tại
thị trường Việt Nam.
Nhật Bản (Công ty Sakyo) đã đưa ra thị trường loại thực phẩm “làm
đẹp”, thức ăn mỹ phẩm (cosmetic food) và nhiều sản phẩm kỳ diệu khác như:
Đồ uống có ga cho người có quá nhiều axit và huyết áp cao; chế phẩm từ vây
cá mập làm tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể; chế phẩm từ thịt rùa có khả


I.1.2. Tình hình nghiên cứu và sản xuất các loại TPCN ở Việt Nam.
Ở Việ
t Nam hiện nay, việc nghiên cứu tạo ra các thực phẩm chức năng
với phương châm “kết hợp công nghệ cổ truyền mang bản sắc dân tộc với
công nghệ hiện đại” đang là hướng nghiên cứu rất lý thú và có lợi thế, bởi thế
hầu hết các Công ty Dược phẩm đều có sản xuất TPCN .
Từ việc sử dụng bột cóc làm thuốc chống bệnh còi xương cho trẻ em,
việc sử dụng côn trùng và các động vật rừng với mục đích làm chất bồi bổ sức
khỏe và làm thuốc chữa bệnh, đến việc sử dụng nhiều loại sản phẩm biển có
giá trị dinh dưỡng cao, dược liệu quý có tác dụng “hồi xuân cường lực, cải lão
hoàn đồng” ví dụ nh
ư “nhất yến sào, nhì bào ngư”, món ăn “Bát trân” gồm 8
loại hải sản quý phục vụ các bữa yến tiệc trong cung đình khi xưa, vv đều là
những kinh nghiệm quý báu mà tổ tiên cha ông ta đã đúc rút được từ bao đời
nay.
Gần đây, một số thực phẩm chức năng do Việt Nam sản xuất trên cơ sở
ứng dụng CNSH nhằm nâng cấp công nghệ cổ truyền đã được đưa ra thị

trường phục vụ nội tiêu và xuất khẩu. Có thể nêu lên các công trình nghiên
cứu của GS.TSKH Nguyễn Tài Lương để làm ví dụ minh họa, một số chế
phẩm như viên nang Hải sâm (từ hải sâm), Rabiton và Rabitam (từ rắn biển),
Hagaton (từ hải long, cầu gai). Hay như Pantocrin từ nhung hươu sao Việt
Nam, rượu Tam xà, rượu Tắc kè, rượu Hải sâm, vv , trong đó, rượu bổ Tam
xà (kích thích hệ tiêu hoá, hệ tuần hoàn, bổ dương, trị thấ
p khớp) đã được sản
xuất bằng công nghệ enzyme có chất lượng cao. Đó là các chế phẩm nhuận

cung cấp nhiều loại rau về mùa đông trên khắp thế giới. Các loại cây trồng
trong họ này gần như đều có chứa chữ cải trong tên g
ọi. Chúng bao gồm cải
bắp, cải bông xanh, súp lơ, cải brussels, cải xoăn (tất cả đều là các giống cây
trồng từ một loài là Brassica oleraceae), cải làn, cải củ Thụy Điển, cải xoăn
nước mặn, cải củ, cải thìa và su hào. Các thành viên khác được biết đến nhiều
của họ Brassicaceae còn có cải dầu (gồm cải dầu Canola và các loại khác), mù
tạc, cải ngựa, cải canh, mù tạc Nhật và c
ải xoong. Thành viên được nghiên
cứu nhiều và kỹ nhất của họ Cải là sinh vật mẫu Arabidopsis thaliana.
Họ này trước đây được gọi là Cruciferae ("thập tự"), do bốn nhánh trên
hoa của chúng trông tương tự như hình thập tự. Nhiều nhà thực vật học vẫn
còn gọi các thành viên của họ này là các loài "hoa thập tự". Theo điều 18.5
của ICBN (Quy tắc St Louis) thì Cruciferae được coi là tên gọi hợp lệ và vì
thế nó là tên gọi khác c
ủa họ Cải được chấp nhận. Tên gọi Brassicaceae có
nguồn gốc từ chi điển hình của họ là chi Brassica
.
Quan hệ gần gũi giữa họ Brassicaceae và họ Bạch hoa (Capparaceae),
một phần là do các thành viên trong cả hai nhóm này đều sản sinh ra các hợp
chất glucosinolate (dầu cải). Công trình nghiên cứu gần đây (Hall và cộng sự.,
2002) cho rằng Capparaceae theo định nghĩa truyền thống là cận ngành trong
tương quan với họ Brassicaceae, với chi Cleome và một số chi họ hàng khác
là có quan hệ họ hàng gần gũi với họ Brassicaceae hơn là so với các chi còn
lại trong họ Capparaceae. Hệ thống APG II vì thế đã hợp cả hai họ này thành
một họ lớn dưới tên gọi Brassicaceae. Các hệ thống phân loại khác vẫn tiếp
tục công nhận họ Capparaceae nhưng với đị

Các loại rau cải như Cải hoa xanh (Broccoli), Cải bắp (Cabbage), Cải
súp lơ (Cauliflower), mầm cải Brussel (Brussels sprouts) và Cải boc choi (bok
choi) đã được báo chí, các phương tiện truyền thông cho là một nguồn thực
phẩm phòng ung thư tốt.
Ngày nay, người ta đã biết khoảng 90 glucosinolate,
các chất này đều là acid S- β – (D – 1 - glucopyranosyl) alkylthio – oxime – O
– sulphate. Khi thủy phân nhờ enzyme dưới tác dụng của myrosinase có trong
các loại rau họ Chữ thập đã xảy ra sự phân giải theo các giai đoạn sau: bắt đầu
muối của acid sulfuric sẽ được giải phóng, sau đó glucose và aglycone sẽ
được hình thành. Tùy theo pH của môi trường, tùy theo cấu tạo của các gốc
aglycone, các sản phẩm phân giải khác nhau có thể được hình thành. Khi thủy
phân bằng enzyme, các sản phẩ
m phân giải này chủ yếu là isothiocyanate,
thiocyanate và nitril. Cả 2 loại isothiocyanate và thiocyanate đều là những
hợp chất rất quan trọng trong vấn đề diệt khuẩn. Quan trọng nhất là
glucosinolate nhóm sulforaphane và indol-3-carbinol
a. Glucosinolate nhóm sulforaphane: Glucosinolate nhóm này là loại
glycoside có phần aglycone có cấu trúc (R)-1-isothiocyanto-4-methyl-
sulfonyl
– R.
R: Buten. đó là sulforaphene

R: Butan, đó là sulforaphane – aglycone của glucoraphanine. glucoraphanine (-)-(R)-sulforaphane
Glucoraphanine
còn gọi là sulforaphane glucosinolate có ở hầu hết
trong các loại rau họ Cải, nhiều nhất ở cây súp lơ xanh, nhưng hàm lượng rất
thấp và biến động rất lớn, khoảng 10 - 50 lần tùy theo thời kỳ sinh trưởng và

[20, 22, 23]

Năm 1992, các nhà khoa học ở Trường Đại học Johne Hopkins đã phát
hiện giá trị phòng chống nhiều loại ung thư của các loại rau họ Cải nói trên do
các hợp chất glucosinolate, đặc biệt là sulforaphane và Indol-3-carbinol mang
lại như ung thư tuyến tiền liệt, và ngăn chặn sự tăng trưởng những tế bào ung
thư ruột kết, ung thư da. [15, 30]

Trên hệ tim mạch sulforaphane có tác dụng giảm chứng tăng huyết áp
và sự viêm tấy trong hệ tim mạch. TS. Juurlink, trường đại học Saskatchewan,
Canada đã cho biết "mặc dầu cần nhiều nghiên cứu hơn để hoàn toàn thiết lập
mối liên hệ giữa SGS và cải thiện sức khỏe cho trái tim, nhưng những nghiên
cứu ban đầu cho kết quả rất đáng khích lệ”. Thực nghiệm trên chuột khi cho
chúng ăn thức ăn giàu glucoraphanine – đ
ã thể hiện cơ chế tăng cường việc
kháng ôxy hóa của mô tế bào, giảm bớt viêm và cải thiện bệnh tim, giảm
viêm cơ tim, động mạch và thận.
Các nghiên cứu của Trường đại học Y khoa
Johne Hopkins còn chỉ ra rằng, cho chuột ăn mầm bông cải xanh sẽ phòng
ngừa được việc tăng huyết áp, bệnh tim và đột quỵ.

Đối với đường tiêu hóa, sulforaphane có tác dụng làm sạch hóa chất
độc ở ống tiêu hóa, có tác dụng chống vi khuẩn HP, phòng chống viêm loét dạ
dày và ung thư dạ dày. Theo các nhà nghiên cứu ở Trường đại học Y khoa
Johne Hopkins, mầm cây cải hoa và cải hoa chứa hoạt chất sulforaphane, chất
này tiêu diệt Helicobacter pylori (HP), vi khuẩn gây ra việc loét dạ dày và
phần lớn các loại ung thư dạ dày. Các nghiên cứu trước đây của một số tác giả

Đã có nhiều nghiên cứu về tác dụng của các loại thực phẩm được bổ
sung các hoạt chất kể trên trong việc hỗ trợ ngăn ngừa ung thư.
Glucobrassicine và sản phẩm thủy phân của nó có tác dụng kháng ôxy hóa
theo cơ chế gián tiếp tương tự glucosinolate nhóm sulforaphane. Được quan
tâm nhiều hơn về tác dụng hỗ trợ phòng chố
ng chứng bệnh ung thư có yếu tố
do hormone.[5, 8] khởi đầu bằng việc nghiên cứu chứng minh rằng cả Cải hoa
xanh và Diindolylmethane tinh khiết hoặc I3C [31, 32] đều ngăn ngừa được
ung thư vú do hóa chất trên động vật thí nghiệm. Việc mở rộng sử dụng
chúng cho phụ nữ trong dinh dưỡng dự phòng (preventive nutrition) đã đem
lại kết quả tốt, chúng có tác dụng giảm nguy cơ ung thư vú [33] và làm giảm
đến tiêu biến lo
ạn sản cổ tử cung giai đoạn cuối [6]. Các chất tự nhiên này
ngày càng có mặt nhiều hơn trong các sản phẩm bổ sung thực phẩm theo
hướng tác dụng giúp chuyển hóa Estrogen tốt hơn, rất tốt đối với phụ nữ tiền
mãn kinh.
Trong những năm 1990, người ta đã phát hiện việc bổ sung thực phẩm
của cả Diindolylmethane và I3C gắn liền với sự chuyển dịch quá trình chuyển
hóa Estrogen theo hướng có lợi [21]. Chế phẩm Diindolylmethane và I3C
dùng làm chất bổ sung thức ăn đã được chứng minh làm tăng việc Hydroxyl
hóa Estrogen ở vị trí C-2, tăng tỷ lệ 2/16 các sản phẩm chuyển hóa Estrogen.
[18, 33]. Diindolymethane cũng đã được thực nghiệm chứng minh là có tác
dụng
điều trị ung thư vú ở động vật [9]. Trong nghiên cứu này, ung thư vú
thực nghiệm ở động vật được gây ra bởi Dimenthylbenzanthracene (DMBA).
Sau khi khối u hình thành, mới bắt đầu tiến hành điều trị bằng
Diindolmethane, ứng với liều đang dùng trong nghiên cứu trên người,

quan riêng rẽ nào mà bảo vệ cho toàn bộ c
ơ thể. Chúng cũng có tác dụng kéo
dài hơn trong cơ thể vào khoảng bốn tới năm ngày trong tế bào sau khi uống.
Các công ty, các hãng sản xuất lớn trên thế giới sản xuất và chế biến
thực phẩm đã sử dụng các loại hoạt chất đó để bổ sung vào thực phẩm chức
năng nhằm tăng tính miễn dịch và phòng chống một số bệnh. Các khả năng
ứng dụ
ng của hợp chất chứa lưu huỳnh trong rau họ Cải được kể đến nhiều
nhất là: Hỗ trợ và phòng ngừa bệnh ung thư, đặc biệt hỗ trợ việc phòng ngừa
nguy cơ ung thư dạ dày tá tràng, ruột kết, tuyến tiền liệt; Phòng ngừa ngộ độc
do khói thuốc lá và chống độc cho những người nghiện hút thuốc lá; Phòng
chống một số bệnh ở người cao tu
ổi, người già.
a) Hỗ trợ và phòng ngừa bệnh ung thư, đặc biệt hỗ trợ việc phòng ngừa nguy
cơ ung thư dạ dày tá tràng, ruột kết, tuyến tiền liệt…
Nguy cơ bị ung thư có ở nhiều người, chúng ta nên phòng và chống ở
giai đoạn “cửa sổ”, tức là ở khoảng thời gian 10 - 20 năm trước khi các biểu
hiện lâm sàng của ung thư đã rõ ràng. May mắn thay cho loài người, chỉ bằng
ăn kiêng với một số thực phẩm thực vật chúng ta có thể chiến thắng bệnh ung
thư nguy hiểm. Một số trong các thực phẩm đó là các loại rau cải họ Thập tự
(Cải súp lơ, cải bắp, cải xanh, su hào, củ cải ). Hoạt tính chống ung thư của
sulforaphane vốn có khả năng thúc đẩy hoạt tính các enzyme kháng oxy hóa
trong gan, liên tục kìm hãm những chất gây bệnh ung thư, chuyển các chất đó
sang d
ạng khác và dễ dàng loại trừ khỏi cơ thể.
Vi khuẩn HP. đó không những luôn luôn gây ra sự loét dạ dày mà còn
gia tăng đáng kể ung thư dạ dày và là nguyên nhân chính của các triệu chứng
phức tạp liên quan đến dạ dày, bao gồm viêm dạ dày, viêm thực quản, và tăng
việc tiết acid clohydric ở dạ dày. Diệt trừ vi khuẩn HP. rất khó khăn, đặc biệt


Đối với nam giới, nhiều tài liệu đã đúc kết Estrogen bắt đầu tích lũy
trong tuyến tiền liệt từ độ tuổi 50 và gắn liền với sự phì đại của tuyến tiền liệt.
Nam giới dùng Diindolylmethane giảm thiểu hoặc tránh được sự gia tăng
chuyển hóa Testosterone, đặc biệt biến đổi không mong muốn Testosterone
thành Estrogen. Diindolylmethane mang lại sự cải thiện rõ r
ệt chức năng
tuyến tiền liệt, điều đó được đánh giá bằng việc giảm hiện tượng tiểu đêm,
mót tiểu, tiểu ít và không hết ở nam giới trung niên và cao tuổi
b) Phòng ngừa ngộ độc do khói thuốc lá và chống độc cho những người
nghiện hút thuốc lá.
Tác dụng kháng oxy hóa của các glucosinolate và Aglycone của chúng
được ứng dụng phòng chống các chất độc xâm nhập vào cơ thể, trong đó đáng
kể ch
ống độc hại của khói thuốc lá. Nghiên cứu trên 60 người nghiện thuốc
dùng dịch chiết toàn phần mầm cây súp lơ đã thu được kết quả rất khả quan.
Việc sản sinh, thậm chí tàng trữ gốc tự do (peroxid, lipid peroxid,…) trong
cơ thể đã giảm bớt, hàm lượng các chất kháng oxy hóa trong cơ thể, chất khử
Glutathione (GSH) và Vitamin E và C đều tăng thêm. Việc sử dụng dịch chiết
toàn phần mầm cây súp lơ cũ
ng kích thích việc tăng trưởng các enzyme kháng
oxy hóa, enzyme chống ung thư trong huyết tương như enzyme Quinone
NADPH, enzyme oxy hóa khử (E.C.1.6.99.2) và enzyme dẫn truyền
Glutathione (E.C.2.5.1.18); đồng thời làm giảm hoạt tính enzyme oxy hóa
Xanthin- enzyme sản sinh ra các gốc oxy tự do
c) Phòng chống một số bệnh ở người cao tuổi, người già
Ở người cao tuổi toàn cơ thể lão hóa, hệ miễn dịch suy giảm cho nên sức đề
kháng giảm,… biểu hiện các suy giảm thường nhận thấy là giảm trí nhớ, tim

Cây Nghệ vàng mọc hoang và được gieo trồng ở nhiều nước trên thế giới như
một cây gia vị, cây thuốc. Ở Phương Đông, củ nghệ đã được sử dụng hàng
ngàn năm nay làm gia vị và chữ
a bệnh. Khi dùng trong, chữa chứng viêm loét
dạ dày, viêm gan, thấp khớp, kinh nguyệt không đều của phụ nữ. Khi dùng
ngoài, chữa chấn thương tụ máu, giúp mau lành vết thương đỡ để lại vết sẹo.
Người Phương Tây, hàng thế kỷ nay đã chú ý giá trị phòng chữa bệnh của củ
nghệ theo kinh nghiệm Phương Đông. Ngay năm 1910, Lamp đã chiết tách,
phân lập, xác định cấu trúc hoạt chất curcumin - thành phần hoạt chất chủ

yếu của củ nghệ - từ những năm 1970 cho đến nay họ nghiên cứu sâu, toàn
diện về mọi mặt dược liệu học loài cây này.
Về thực vật học đó là loài Curcuma longa L, trong thân rễ (Rhizoma
Curcumae longae, thường gọi là củ) có nhiều loại hoạt chất khác nhau, chủ
yếu là tinh dầu, dầu, các hợp chất màu vàng (curcuminoid), peptid tan trong
nước và các Ukon. Trong những năm gần đây đã có nhiều công trình nghiên
cứu về hoạ
t tính sinh học của các hoạt chất curcuminoid, peptid, ukon, đặc
biệt là các curcuminoid. Curcuminoid được xem là thành phần mang lại hoạt

Trích đoạn Nhóm hoạt chất màu vàng Tổng quan về một số phương pháp chiết xuất hợp chất tự nhiên để ứng dụng trong việc chiết xuất hoạt chất có lưu huỳnh của rau họ Cả Củ Nghệ thu hoạch vào tháng 4, thân rễ phát triển đầy đủ thân rễ cấp 1, cấp 2 và cấp 3 Cây hoang dại được thu thập ở miền núi phía bắc (Hoà Bình), cây Mô tả quy trình chiết xuất glucosinolate nhóm sulforaphane Mô tả quy trình chiết xuất glucosinolate nhóm Indol-3 – cacbinol
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status