Bộ khoa học và công nghệ
Đề tài 17/2004/HĐ-ĐTNĐT
Hợp tác Việt Nam Hoa Kỳ theo Nghị định th Quy hoạch và lập kế hoạch quản lý tổng hợp vùng
bờ vịnh Hạ Long, Quảng Ninh
Cơ quan chủ trì
Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản Báo cáo chuyên đề
Tổng quan về sinh thái và môi trờng Vùng Bờ
VịNH Hạ LONG - QUảNG NINH
Ngời thực hiện:
ThS. Cao Lệ Quyên
Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản
TCVN
Tiêu chuẩn Việt Nam
BQL
Ban Quản lý vịnh Hạ Long
HCBVTV
Hoá chất Bảo vệ thực vật
TQTMTB
Trạm quan trắc môi trờng biển
RNM
Rừng ngập mặn
3
Mục lục 1. Điều kiện tự nhiên của vùng bờ Hạ Long 5
1.1. Phạm vi nghiên cứu của đề tài 5
1.2. Vị trí địa lý của vùng bờ nghiên cứu 5
1.3. Điều kiện khí hậu 5
1.4. Đặc điểm thuỷ văn sông 9
1.5. Đặc điểm hải văn 10
1.5.1. Thuỷ triều 10
1.5.2 Dòng chảy 10
1.5.3. Sóng 11
1.5.4. Nhiệt độ, độ muối 11
3.4.2.4. Chỉ số pH 11
1.6. Đặc điểm địa hình, địa mạo 12
4
4.2. Các chất ô nhiễm trong nớc vịnh Hạ Long 41
4.2.1. Ô nhiễm do các hợp chất tiêu thụ ôxy tự nhiên 41
4.2.2. Dầu trong nớc 43
4.2.3. Xyanua (CN
-
) và phenol trong nớc 44
4.2.4. Kim loại nặng trong nớc 44
4.2.5. Coliform trong nớc 47
4.2.6. Chlorophyll-a trong nớc 47
4.2.7. HCBVTV trong nớc vịnh Hạ Long 48
4.3. Các chất dinh dỡng trong nớc vịnh Hạ Long 49
4.3.1. Photphat và photpho tổng 49
4.3.2. Amoni, nitrit, nitrat 51
4.3.3. Silicat và Sunfat 53
5. Sự cố môi trờng và chất thải 53
5.1. Hiện trạng tai biến vùng bờ biển 53
5.1.1. Bão, nớc dâng và sóng thần 53
5.1.2. Xói lở bờ biển 54
5.2. Hiện trạng ô nhiễm chất thải 54
5.2.1. Ô nhiễm do sinh hoạt và du lịch 54
5.2.2. Ô nhiễm dầu 57
5.2.3. Ô nhiễm do các hoạt động kinh tế xã hội 57
6. Tài liệu tham khảo 61 5
1. Điều kiện tự nhiên của vùng bờ Hạ Long
1.1. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
nhiều kéo dài, thờng xuất hiện bão, áp thấp nhiệt đới, dông và kéo dài từ
tháng 5 đến tháng 10 năm sau. Mùa đông rét, lạnh, ít ma từ tháng 11 đến
tháng 3. Tháng 4 và tháng 10 là các tháng chuyển tiếp, các khối không khí
suy yếu và tranh giành ảnh hởng nên thời tiết ôn hoà hơn. Mặt khác, do
vùng bờ nghiên cứu nằm ở bờ Tây vịnh Bắc bộ nên khí hậu mang tính chất
biển và luôn đợc điều hoà bởi ảnh hởng của biển. Các đặc trng khí hậu
nh: nhiệt độ, độ ẩm không khí, ma, gió luôn biến động theo mùa và theo
ngày đêm, đặc biệt là chế độ nhiệt trong mùa đông và chế độ ma trong mùa
Hè luôn biến động nhanh theo hình thái khí quyển.
Chế độ gió ở khu vực chịu ảnh hởng của hoàn lu chung của khí
quyển và thay đổi theo mùa. Mùa đông có gió mùa đông bắc với hớng gió
thịnh hành là Bắc và đông Bắc. Hàng tháng trung bình có 3-4 đợt, có tháng
5-6 đợt, mỗi đợt kéo dài 3-5 ngày. Tốc độ gió Đông Bắc đạt trung bình cấp
5-6, mạnh nhất cấp 7 8. Vào đầu mùa đông, gió có hớng chủ yếu là Bắc
và Đông Bắc, sau đổi dần sang Đông - Đông Bắc.
Chế độ gió mùa hè chịu sự chi phối của hệ thống gió mùa Tây Nam.
Do ảnh hởng của địa hình lục địa, hệ thống gió mùa này đã thay đổi đáng
6
kể trong vùng bờ nghiên cứu, vì vậy hớng gió chủ yếu là Đông Nam và
Nam. Tốc độ gió trung bình 2,5 3 m/s. Đặc biệt về mùa này thờng xuất
hiện bão (tốc độ gió bão có lúc đạt tới 35 50 cm/s) và áp thấp nhiệt đới ảnh
hởng rất lớn đến thời tiết toàn bộ khu vực nghiên cứu.
Bảng 1: Tần suất (%) hớng gió tại Hòn Gai
Mùa Hớng,
cấp
Lặng Bắc Đông
Băc
Đông Đông
C đến 17
0
C.
Nhiệt độ không khí thấp nhất ghi đợc tại Cô Tô là 4,4
0
C (ngày 31/01/1977),
ở Hòn Dấu là 6,5
0
C (ngày 22/01/1983). Về mùa hè nhiệt độ trung bình
khoảng 28,5 - 29
0
C. Nhiệt độ không khí cao nhất đã quan trắc đợc ở Cô Tô
là 36,2
0
C (ngày 25/7/1976), ở Hòn Dấu là 38,6
0
C (nhiều lần, nhiều ngày).
Biến động nhiệt trong năm có dạng 1 đỉnh. Đỉnh lớn nhất vào tháng 7,
thấp nhất vào tháng 1 (trong đất liền), vào tháng 2 (ở các đảo xa). ở vùng
ven bờ Quảng Ninh biên độ nhiệt trong năm có xu thế giảm dần từ Bắc
xuống Nam (Móng Cái 12,8
0
C, Hòn Gai 12
0
C) và từ ngoài khơi vào sâu
trong lục địa (Cô Tô 13,2
0
C, Hòn Gai 12
0
C và Phơng Đông 11,6
4)
20 (tháng
1)
Hòn Gai 82 87 83 80 84 88 (tháng
3)
18 (tháng
1)
Hòn Dấu 83 90 85 84 85 91 (tháng
3)
19 (tháng
1)
Nguồn: Nguyễn Chu Hồi và nnk (1997)
1.3.3. Nắng và bức xạ nhiệt
Trung bình hàng năm có 1600 1800 giờ nắng. Biến trình năm có 2
dạng đỉnh. Lớn nhất vào tháng 7 chiếm tới 182 giờ (Quảng Hà) đến 224 giờ
(Cô Tô). Đỉnh thứ hai vào tháng 9 với 193 giờ (Quảng Hà) và 205 giờ (Cô
Tô). Số giờ nắng ít nhất vào tháng 2 từ 45-51 giờ và tháng 8 từ 100-180 giờ.
Do độ cao mặt trời các tháng trong năm đều lớn nên bức xạ mặt trời có
giá trị khá cao. Bức xạ nhiệt trung bình năm lớn hơn 200 Kcal/cm2, trung
bình tháng 17kcal/cm2, tháng ít nhất cũng trên 10 kcal/cm2.
1.3.3. Lợng ma và lợng bốc hơi
8
Lợng ma trung bình nhiều năm ở vùng ven biển Quảng Ninh rất lớn
đạt từ 2.000 5.000 mm, cao hơn so với vùng phía Tây của tỉnh từ 1600
2400 mm. Ma phân bố theo mùa: mùa ma từ tháng 5 đến tháng 10, lợng
ma trung bình đạt 296 mm/tháng, cao nhất vào tháng 8 đạt trên 500 mm. Số
ngày ma trong tháng mùa ma thờng trên 10 ngày. Phần lớn lợng ma
giông. Đặc biệt trong tháng 8 hầu nh ngày nào cũng có giông, nhất là
ven biển Hòn Gai. Mùa đông hiện tợng giông ít xảy ra. Riêng tháng
12 hầu nh không có giông.
- Bão và áp thấp nhiệt đới: Theo tài liệu thống kê thì bão và áp thấp
nhiệt đới đổ bộ trực tiếp vào vùng ven biển Quảng Ninh có tần suất là
9
28% so với toàn quốc. Trung bình mỗi năm có 1,5 cơn. Mùa ma bão
ở đây từ tháng 6 đến tháng 10. Tốc độ gió cực đại với phần lớn các cơn
bão đạt trên 20 m/s. Bão thờng gây ma lớn kéo dài tới 6-7 ngày,
lợng ma đạt trên 200 mm.
1.4. Đặc điểm thuỷ văn sông
Các sông ngòi chảy vào vùng ven bờ Quảng Ninh đều thuộc hệ thống
sông miền núi Quảng Ninh có đặc điểm sông nhỏ, độ dốc lớn bắt nguồn từ
dãy núi Đông Triều - Yên Tử, gồm các sông chính: Diên Vọng, Trới và Yên
Lập Các sông này có tổng lu lợng nớc nhỏ, chủ yếu tập trung vào mùa
ma lũ, tổng lợng bùn cát và hàm lợng vật lơ lửng đều thấp.
Khu vực nghiên cứu chịu ảnh hởng chủ yếu của các sông đổ vào vịnh
Cửa Lục gồm sông Diên Vọng, sông Trới, sông Mỹ, sông Mãn, sông Vũ
Oai và một phần nớc của sông Lạch Huyện. Đặc điểm chính của các
sông này là độ rộng lòng sông nhỏ, độ dốc lớn và chiều dài sông ngắn nên
sức chứa lòng sông không lớn. Các đặc trng thuỷ văn sông: tốc độ dòng
chảy, lu lợng biến đổi mạnh theo mùa phụ thuộc vào sự biến động của các
yếu tố khí hậu, thời tiết, trong đó chủ yếu là lợng nớc ma trên lu vực
sông.
Vào mùa ma (từ tháng 5 đến tháng 10), lợng nớc ma từ thợng
lu dồn vào các sông và đổ vào Vụng Bãi Cháy qua sáu cửa sông ở phía bắc
vịnh tơng đối lớn, nên lu lợng và tốc độ dòng sông tăng nhanh, và cùng
với thuỷ triều nó ảnh hởng mạnh mẽ tới chế độ thuỷ văn trong vịnh. Vào
1.5.1. Thuỷ triều
Thuỷ triều ở vịnh Hạ Long thuộc chế độ nhật triều thuần nhất điển
hình, với hầu hết số ngày trong tháng chỉ có một lần Nớc lớn và một lần
Nớc ròng. Trong một tháng có hai kỳ triều cờng với độ cao mực nớc
trung bình đạt 3,9m và hai kỳ triều kiệt với độ cao mực nớc trung bình đạt
1,9m.
Biên độ triều cực đại ở đây lên tới trên 4m, mực nớc trung bình đạt
2,06m.
Theo dự báo của Bộ t lệnh Hải quân, năm 1997 thuỷ triều ở vào thời
kỳ yếu nhất trong chu kỳ nhiều năm với biên độ cực đại đạt 3,4m. Mực nớc
lên cao nhất 3,8m và xuống thấp nhất 0,4m so với 0m hải đồ. Trong những
tháng triều yếu 3,4,8 và 9 tính chất nhật triều suy giảm, thời gian dâng, rút
xấp xỉ nhau. Vào kỳ triều cờng mực nớc lên xuống nhanh có thể tới
0,5m/giờ, vào kỳ triều kém mực nớc lên xuống yếu, biên độ dao động xấp
xỉ 0,1m.
1.5.2 Dòng chảy
Dòng chảy ở vịnh Hạ Long là tổng hợp của dòng chảy sông, dòng
chảy gió và dòng chảy triều, trong đó dòng chiều là dòng thịnh hành và
mang tính chất thuận nghịch.
Hớng dòng chảy: nhìn chung phía ngoài vịnh dòng triều lên thờng
có hớng Bắc - Tây Bắc, dòng triều xuống có hớng Nam - Đông Nam. Khi
vào bên trong vụng Bãi Cháy dòng triều đổi hớng: dòng triều lên có hớng
Bắc - Đông Bắc, dòng trièu xuống hớng Nam - Tây Nam.
Vận tốc dòng chảy: Vận tốc dòng chảy phụ thuộc vào từng pha triều
(triều lên hay triều xuống) và chu kỳ triều (triều cờng hay triều kiệt) cũng
nh phụ thuộc vào dòng chảy theo từng mùa. Tổng hợp kết quả đo đạc trong
nhiều năm cho thấy dòng triều trong pha triều xuống thờng cao hơn dòng
triều trong pha triều lên từ 1,5 đến 2 lần, dòng triều vào kỳ triều cờng cũng
thờng có vận tốc cao hơn kỳ triều kiệt 2,5 đến 3 lần hoặc hơn nữa.
C. Độ
muối trung bình đạt 24%o. Theo phơng thẳng đứng nhiệt độ và độ muối ở
tầng đáy thờng lớn hơn tầng mặt. Tại vịnh Hạ Long các thông số này
thờng cao hơn vầ ổn định hơn vụng Bãi Cháy.
Theo khảo sát của Phân Viện HDH Hải Phòng (HIO) năm 1997, độ
muối của nớc vịnh Hạ Long trong thời gian khảo sát (giữa mùa đông) cao
và ổn định nh muối ở ngoài khơi. Số liệu đo đợc cho thấy độ muối nằm
trong khoảng từ 31 34%o , trung bình là 33%o.
- Theo phơng thẳng đứng, sự chênh lệch độ muối giữa tầng mặt và
tầng đáy là rất nhỏ; độ muối của lớp nớc tầng đáy cao hơn so với lớp mặt
0,1 %o. Nh vậy là cũng nh nhiệt độ, độ muối của nớc vịnh Hạ Long
trong thời gian khảo sát có tính đồng nhất cao theo phơng thẳng đứng.
- Trong một chu kỳ triều, về cơ bản độ muối biến đổi đồng pha với dao
động mực nớc.
3.4.2.4. Chỉ số pH
Theo khảo sát của Phân Viện HDH Hải Phòng năm 1997, giá trị của
chỉ số pH trong nớc vịnh Hạ Long luôn luôn mang tính chất kiềm yếu. ở
lớp nớc mặt, trị số pH nằm trong khoảng từ 7,96 - 8,19 và giá trị trung bình
là 8,1. Trong lớp nớc đáy các giá trị tơng ứng là 7,92 - 8,19 và 8,1. Giá trị
12
pH trong nớc tầng mặt và tầng đáy đã phản ánh tính chất đồng nhất rất cao
cuả thông số này theo phơng thẳng đứng ở vịnh Hạ Long.
- Sự phân bố theo phơng nằm ngang của trị số pH có đặc điểm là: trị
số pH cao nhất ở trạm 12 (xa bờ) và thấp bờ ở trạm 4 (gần cửa sông - Cửa
Lục).
- Sự phân bố theo không gian và biến đổi theo mực nớc của giá trị pH
nh đã nêu trên là phù hợp với quy luật chung trong tự nhiên.
1.6. Đặc điểm địa hình, địa mạo
Vùng bờ Hạ Long nằm trong phạm vi vùng bờ Móng Cái-Hải Vân,
13
2. Tài nguyên nguồn lợi
2.1. Nguồn lợi thuỷ sinh
2.1.1. Thực vật phù du
Thành phần loài thực vật phù du của vịnh là những loài thờng gặp ở
vùng nớc ven bờ của vùng ôn đới và cận nhiệt đới. Theo nghiên cứu của
HIO (1997) thành phần và mật độ TVPD có sự biến đổi giữa hai mùa ma và
mùa khô.
- Mùa ma:
Có 166 loài thuộc 6 hệ sinh vật phù du. Hệ Bacillariophyta
có nhiều loài nhất (128 loài, chiếm 77% tổng số), Dinophyta với 33 loài
(20%), Cyanophyta với 2 loài (1%). Số lợng tế bào các sinh vật phù du thay
đổi ở các điểm khảo sát khác nhau. Sự hình thành các loài cho thấy thực vật
phiêu sinh thờng dễ thấy ở vùng nớc biển ở khu vực cận nhiệt đới hay ôn
đới.
Số lợng tế bào ở tầng đáy từ 33 170 đến 157 020 tế bào/l. Sự thay đổi số
lợng tế bào cho thấy mức độ thờng quan sát đợc ở khu vựcnớc bờ biển
không có sự phân tầng rõ rệt lắm. Số lợng các loài ở lớp đáy cao hơn lớp bề
mặt vì các tảo đáy nh Navicula, Pleurosigma và Amphora đợc phân bố ở
tầng đáy nhiều hơn ở tầng bề mặt. Về họ Dinphyta, có 10 loại thuộc loại tảo
có hại nhng mật độ tảo loại này rất thấp, số lợng cao nhất là 800 tế bào/l
thuộc nhóm Dinophisis caudata.
- Mùa khô:
Theo kết quả phân tích các mẫu thực vật phù du đợc thu
thập từ 10 điểm khảo sát, 126 chủng loại thuộc 4 loài tảo đã đợc xác định.
Trong đó loài Silic Bacillariophyceae có nhiều chủng loại nhất (98 chủng
loại, chiếm 77,8% tổng số), loài Dinophyceae với 26 chủng loại(20,6%). Hầu
hết các chủng loại vào mùa khô đợc cấu thành từ các loài sống ở biển và
nớc mặn và các chủng loại sống ở nớc ngọt không nhiều- có ít chủng loại
nớc ngọt vào mùa khô. Số chủng loại ở mỗi lớp cho thấy xu hớng lớp trên
ở mỗi điểm khảo sát.
- mùa khô
Có 46 loài động vật phù du đã đợc xác định. Số loài ở mỗi điểm khảo
sát dao động từ 9 đến 30 . Số loài trung bình vào mùa khô là 20 loài và cho
thấy giá trị cao hơn vào mùa ma. Số lợng động vật phù du trung bình là
491 con/m
3
ở tất cả các điểm khảo sát và dao động từ 90 đến 878 con/m
3
ở
mỗi điểm khảo sát. Số lợng trung bình vào mùa khô cho thấy giá trị cao hơn
so với mùa ma.
Sự đa dạng của ĐVPD tại vùng bờ nghiên cứu còn đợc thể hiện qua giá
trị tổng đa dạng H đợc quan trắc. Theo kết quả quan trắc của TQTMTB Đồ
Sơn năm 2003, giá trị H tại trạm Cửa Lục khá cao so với các điểm quan trắc
khác, trung bình tầng mặt là 2,55 và tầng đáy là 2,18. Xem bảng sau:
Bảng 5: Giá trị tổng đa dạng H tại trạm Cửa Lục quan trắc trong thời
kỳ nớc lớn tại các thời điểm năm 2004.
TT Thời điểm quan trắc Tầng đáy Tầng mặt
1 Tháng 2/2003 2,19 2,1
2 Tháng 5/2003 2,48 1,83
3 Tháng 8/2003 1,53 2,92
4 Tháng 11/2003 2,51 3,34
Trung bình 2,18 2,55
Nguồn: TQTMTB Đồ Sơn, 2003
2.1.3. Động vật đáy
Nghiên cứu của JICA (1999) cho thấy có 208 loài động vật đáy đã đợc
phát hiện. Trong số đó, nhuyễn thể (thân mềm) molluscs có số lợng các loài
mg/m
2
H
Đợt 1 5 140 12798 2,13
Đợt 2 4 120 5836 1,92
Tháng
2/2003
Đợt 3 5 140 21892 2,11
Trung bình 4,7 133,3 13508,7 2,05
Đợt 1 7 200 28506 2,65
Đợt 2 5 120 7602 2,25
Tháng
5/2003
Đợt 3 6 260 14238 2,41
Trung bình 6 193,3 16782 2,44
Đợt 1 5 180 7214 2,20
Đợt 2 4 140 3542 1,84
Tháng
8/2003
Đợt 3 3 160 3712 1,56
Trung bình 4 160 4822,6 1,87
Đợt 1 7 160 39438 2,75
Đợt 2 8 160 10998 3,00
Tháng
11/2003
Đợt 3 3 60 5668 1,58
Trung bình 6 126,6 18701,3 2,45
Nguồn: TQTMTB Đồ Sơn, 2003
16
2.3. Nguồn lợi rùa biển
Khu vực vịnh Hạ Long và Bãi Tử Long đã phát hiện đợc 3 loài rùa
biển: vích (Chelonia mydas), đồi mồi Eretmochelys imbricata và đồi mồi dứa
(Lepidochelys olivacea). Tuy nhiên, các nghiên cứu cũng cho thấy rất khó để
bắt gặp rùa của cả 3 loài. Quần thể hiện nay của 3 loài có tầm quan trọng
khu vực. Các quan sát cho thấy, ngời địa phơng thờng khai thác đợc đồi
mồi dứa nhng sản lợng đã sụt giảm qua các năm và hiện nay chỉ bắt đợc
rất ít (Michelle, 2003).
17
2.4. Nguồn lợi thú biển
Vùng biển nghiên cứu có thể là môi trờng cho các loài thú biển sinh
sống nh cá ông s Neophocaena phocaenoids, cá heo Ocrcaella brevirostris
và cá heo lng gù ấn độ Thái Bình Dơng (Sousa Chinensis) và có thể ít nhất
là các loài sống nổi không liên tục. Loài này có số lợng ít và chúng chỉ xuất
hiện định kỳ. Các loài Delphinidae/Phocenidae đã đợc ghi nhận và định loại
tạm thời. Theo báo cáo của Michelle (2003), các nhân viên của Ban quản lý
vịnh Hạ Long đã cho biết đôi khi họ nhìn thấy các nhóm khoảng 10 hoặc
hơn các thú biển phù hợp với các miêu tả của loài cá heo.
Riêng với bò biển, theo Michelle (2003), trong lịch sử, bò biển (
Dugong
dugon) đã từng xuất hiện ở khu vực vịnh Hạ Long. Các cuộc phỏng vấn các
ng dân địa phơng ở khu vực vịnh Bãi Tử Long đã cung cấp các bằng chứng
về việc xuất hiện của bò biển (loài đang bị đe doạ tuyệt chủng) tại khu vực
vịnh này. Chúng thờng đợc ghi nhận là xuất hiện vào thời gian trớc năm
1975.
2.3. Nguồn lợi sinh vật hang động
2.3.1. Động vật hang động trên cạn tại các đảo Vịnh Hạ Long
Theo nghiên cứu của Boris SKET và nnk (2003), khu hệ động vật hang
sp. (Gastropoda: Vertiginidae) thờng xuyên đợc tìm thấy trong các vũng
nớc đọng trong hang, có thể là do chúng bị trôi theo các hệ thống mạch
nớc ngầm ra ngoài.
2.3.2. Nguồn lợi động vật thủy sinh trong hang động tại Vịnh Hạ Long
a. Các HST hang động
Theo nghiên cứu của Boris SKET và nnk (2003), các loài động vật nhỏ
thuỷ sinh có thể đợc tìm thấy trong các vũng nớc đọng, những vũng nớc
này chỉ có thể thấy vào mùa ma. Sự xuất hiện của động vật thủy sinh trong
các vũng nớc đọng chứng tỏ rằng nớc tồn tại lâu dài trong hệ thống các
khe nứt trên nóc hang. Nhng số lợng các loài động vật thủy sinh thu đợc
không nhiều.
Trong các vũng nớc đọng, ấu trùng muỗi (cung quăng) rất phổ biến.
Ngoài ra các nhóm loài oculate ostracods và bọ chét nớc (Ostracoda,
Cladocera) những loài có nguồn gốc từ bên ngoài cũng rất phổ biến nhng
thờng ít loài. Có thể các nhóm loài Copepoda Cyclopoida cũng có tình
trạng tơng tự . Trong sinh cảnh này còn có sự góp mặt của nhóm các loài
động vật sống hoàn toàn trong hang động. Một điều đáng ngạc nhiên là sự
khan hiếm của loài Copepoda Harpacticoida vốn rất phổ biến trong sinh
cảnh tơng tự tại Châu Âu. Rất khó đánh giá đợc tầm quan trọng về mặt
sinh thái của nhóm loài Oligochaeta nhỏ bé. Sự xuất hiện thờng xuyên của
các loài bét (Acari) có thể là từ môi trờng bên ngoài hang động.
Một điều đáng ngạc nhiên là tuy nhóm loài Bathynellacea sống chủ yếu
trong các thủy cảnh bên ngoài nhng cũng đã xuất hiện trong các vũng nớc
đọng với số lợng mẫu tơng đối lớn.
Sinh cảnh nớc tù (phreatic): theo khảo sát của nhóm nghiên cứu chỉ có
một hang duy nhất trong khu vực vịnh Hạ Long có đặc điểm của sinh cảnh
nớc tù (nớc không bị mặn hóa ) là trong động Đúc Tiền thuộc đảo Vạn
Gió. Trong thời gian khảo sát, kích thớc của vũng nớc tù trong hang vào
cách biệt nhau khá xa trong hệ thống các đảo thuộc Vịnh Hạ Long nên
chúng tôi không thể thu đợc nhiều mẫu các loài động vật sống trong khe cát
vùng triều (interstitial fauna), ngoại trừ bãi cát Trờng Chinh trên đảo Ngọc
Vừng có kích thớc khá rộng. Nhng cát tại bãi này rất nhỏ và mịn nên chỉ
thu đợc một lợng nhỏ mẫu. Đó là các loài giáp xác thuộc họ Oedicerotidae
dài khoảng 2mm. Ngoài ra không có loài giáp xác hay giun nhiều tơ hoặc
các loài sinh vật khác đợc tìm thấy (Boris SKET và nnk, 2003).
b. Sinh vật thuỷ sinh trong hang động
Loài cá chạch Hạ Long (Pisces: Balitoridae: Nemacheilinae) đây là
loài cá sống hoàn toàn trong hang và cha từng đợc miêu tả. Họ Balitoridae
có rất nhiều loài sống trong hang, đặc biệt tại khu vực Đông Nam á. Loài cá
này có rất ít màu sắc, hoàn toàn không có dấu vết của mắt. Mẫu vật thu đợc
dài khoảng 30mmm. Đây là loài đặc hữu cho khu vực này. 20
Loài cua hang Hạ Long Tiwaripotamon edostylus Ng & Yeo 2001
(Crustacea: Decapoda: Brachyura: Potamidae), sống trong các vũng nớc tại
một số hang tại đảo Cát Bà (theo phỏng vấn ng dân thì cũng cũng xuất hiện
trong hang Sửng Sốt). Loài này có mắt rất nhỏ và màu sắc suy giảm chỉ còn
các sắc tố nh đỏ và vàng. Đây là loài rất thú vị và xứng đáng đợc bảo vệ.
Mặc dù không có nhiều đặc điểm thích nghi với cuộc sống trong hang động
nhng cũng có dấu hiệu cho thấy đây là loài sống hoàn toàn trong hang, nếu
không ít nhất cũng là loài sống trong cả hai môi trờng (bên trong và bên
ngoài hang).
Tôm Alpheoid (Decapoda: Alpheoidea) đây là loài duy nhất đợc tìm
thấy trong các vũng nớc mặn hoá. Loài này cũng cha từng đợc phân loại
một cách chính xác. Các đặc điểm của loài này cũng rất đặc trng cho động
21
3. Tình trạng các habitat vùng bờ nghiên cứu
Sinh thái vùng bờ nghiên cứu bao gồm các HST vùng triều năng suất cao
và phong phú nguồn lợi nh đất ngập nớc, RNM, bãi triều lầy, thảm cỏ
biển, rạn san hô, Các HST này đợc chia ra 3 nhóm chính nh sau:
- Hệ sinh thái vùng trung triều
- Hệ sinh thái hạ triều
- Hệ sinh thái cao triều (trên đất liền)
3.1. HST trung triều
3.1.1. HST đất ngập nớc
Theo nghiên cứu của Viện HDH Hải Phòng (HIO) (1997), HST đất
ngập nớc (ĐNN) vùng bờ vịnh Hạ Long có diện tích rộng khoảng 40.000 ha
bao gồm 4 nhóm chính:
- Nhóm đất ngập nớc vĩnh cửu
- Nhóm đất ngập nớc thuỷ triều không có thực vật
- Nhóm đất ngập nớc nhân tạo
- Nhóm đất ngập nớc có thực vật
Các loại HST có giá trị sinh thái, cảnh quan và du lịch là loại đất ngập
nớc có RNM dày đặc (khoảng 357 ha), bãi mùn triều thấp (3.109 ha), bãi
biển (24 ha), rạn san hô (120 ha) và các hồ nớc mặn (40 ha).
Nghiên cứu riêng khu vực vịnh Hạ Long, diện tích đất ngập nớc của khu
vực này đợc nghiên cứu rộng khoảng 32.500, chiếm 81,2% tổng diện tích
đất ngập nớc. Trong đó, diện tích các nhóm đất ngập nớc theo từng loại
nh sau:
- Nhóm đất ngập nớc có thực vật rộng 379 ha (1%)
- Nhóm đất ngập nớc thuỷ triều không có thực vật rộng 3.427 ha (11%)
- Nhóm đất ngập nớc vĩnh cửu rộng 27.748 ha (chiếm 87%)
- Nhóm đất ngập nớc nhân tạo rộng 502 ha (2%), chủ yếu là các khu vực
NTTS với các đối tợng nh nhuyễn thể, cá biển và trai ngọc
Các loại HST có giá trị sinh thái, cảnh quan và du lịch là loại đất ngập
6
Bãi vỏ nhuyễn thể 2.7
0.0%
7
Bãi đá mài mòn 24
0.1%
8
Bãi đá cuội 13
0.0%
9
Lạch vùng triều 18
0.1%
III ĐNN vĩnh cửu 27748
86.6%
1 Rạn san hô 120
0.4%
2 Thuỷ vực nớc 0-6 m sâu 21384
66.7%
3 Kênh triều 5414
16.9%
4 Hồ nớc mặn 40
0.1%
5 Thảm cỏ biển 670
2.1%
6 Bãi đá ngập 120
0.4%
IV Đất ngập nớc nhân tạo 502
1.6%
1 Ao NTTS mặn, lợ 417
1.3%
23
II ĐNN thuỷ triều không có
thực vật
2354 31.4%
1 Bãi cát cao triều
265
3.5%
2
Bãi bùn lầy cao triều 14
0.2%
3
Bãi bùn lầy thấp triều 1399
18.7%
4
Đồng bằng vùng triều 13
0.2%
5
Mũi cát vùng triều 14
0.2%
6
Bãi cát sỏi 3
0.0%
7
Lạch vùng triều 646
8.6%
III ĐNN vĩnh cửu 799
10.7%
1 HST đá ngập nớc 1
0.0%
2 Kênh triều 798
2 Tiểu khu I.2: Từ Cửa Ông đến Cửa Lục, núi ăn sát ra biển, ít sông nên
lợng phù sa cũng ít, có các vũng, eo. Rừng ngập mặn toàn các cây
nhỡ, cây bụi.
3 Tiểu khu I.3: từ Cửa Lục đến mũi Đồ Sơn: nằm trong vùng cửa sông
hình phễu Hải phòng - Quảng Yên. Biên độ triều lớn, diện tích bãi lầy
ngập triều rộng, thuận lợi cho RNM phát triển. Cây ngập mặn chủ yếu
là Bần chua (Sonnertia caseonaris), Trang (Kandelia candel (L.)
24
Druce), Sú (Aegiceras corniculatum (L.) Blanco), ô rô (Acanthus
ilicifolius Linné),
Rừng ngập mặn có lợi ích trực tiếp nh là nguồn chất đốt và gỗ cho
xây dựng, tác dụng chắn sóng, chống xói lở đất ven sông ven biển và hạn chế
tác động tiêu cực của ma bão, bảo vệ một cách có hiệu quả tính mạng và tài
sản của dân địa phơng. Ngoài ra cây ngập mặn với bộ rễ đặc thù góp phần
quan trọng trong quá trình lấn biển, ém phèn nhờ khả năng giữ lại các trầm
tích, phù sa. Các bộ phận của cây khi chết đi là nguồn thức ăn hữu cơ quan
trọng cho các giống loài thủy sản. Rừng ngập mặn còn là nơi c trú, sinh
sống và phát triển của nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao nh tôm, cua,
cá và nhiều loài sinh vật ở cạn nh chim, bò sát, ong mật (Phan Hồng
Dũng, 2003).
Rừng ngập mặn bảo vệ môi trờng sống của con ngời và đảm bảo sự
khai thác bền vững các nguồn lợi kinh tế ven ao, đầm, phá. Việc phá rừng
ngập mặn hay chuyển đổi mục đích sử dụng không những làm mất cân bằng
sinh thái, suy thoái môi trờng, nguồn lợi hải sản giảm sút nghiêm trọng, nạn
xâm thực của nớc biển vào sâu trong nội địa gia tăng mà còn làm cho nhiều
ngời dân nghèo địa phơng mất nơi kiếm sống qua ngày.
Rừng ngập mặn ở Quảng Ninh không đợc đa dạng nh các hệ sinh
thái rừng ngập mặn khác. ở đây diện tích rừng ngập mặn giảm rất nhanh từ
40.000 ha năm 1983 xuống còn 22.020 ha năm 2001 (tỷ lệ giảm khoảng
quan nông lâm công nghiệp tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 1994- 2005,
trong đó có các dự án nhỏ về bảo vệ rừng và trồng rừng ngập mặn.
- Giai đoạn 1997-2000: Trong vòng 3 năm diện tích rừng ngập mặn vẫn
tiếp tục giảm, nhng tốc độ giảm chậm hơn. Nguyên nhân chủ yếu là do
các hoạt động nuôi tôm, đợc tập trung vào các tụ điểm ở Yên Hng,
Tiên Yên, Hoành Bồ.
- Giai đoạn năm 2000 2001: diện tích rừng ngập mặn tăng lên, nhng
rất ít (khoảng 300 ha).
- Đến năm 2002: Diện tích rừng ngập mặn chỉ còn 22.020 ha và tại thời
điểm này toàn bộ diện tích rừng ngập mặn bớc đầu đã đợc quy hoạch
để thống nhất quản lý sử dụng theo quy chế quản lý 3 loại rừng ngập mặn
rừng đặc dụng 57 ha, rừng phòng hộ 15.376 ha và rừng kinh tế là 6.587
ha. Mục đích chính của Rừng ngập mặn tỉnh Quảng Ninh là: chắn gió,
chắn sóng, giữ đất và lấn biển bảo vệ đê; bảo vệ môi trờng sinh thái tạo
môi trờng cho các loài hải sản ven biển và NTTS và Bảo tồn thiên nhiên.
3.1.2.2. RNM tại vùng bờ vịnh Hạ Long
Khảo sát do nhóm nghiên cứu JICA thực hiện tháng 7/1999 ghi nhận
rằng, RNM vùng bờ vịnh Hạ Long có 19 loài cây ngập nớc, trong đó 16 loài
xuất hiện ở đảo Hoàng Tân và 13 loài ở vịnh Bãi Cháy. Độ phủ của thực vật
ở khu vực của sông Bình Hơng là 75 -100% ở các đới triều cao và 70-90% ở
các khu vực triều trung bình. Các loài chủ yếu ở đây là Aegiceras
corniculatum, Avecinnia lanata, Rhizophora stylosa và Kandelia candel.
Chiều cao của Aegiceras corniculatum từ 1 đến 1,6 m, Avecinnia lanata từ
0,6 đến 2,9 m, Rhizophora stylosa từ 0,8 đến 2,3m , và Kandelia candel từ
1,6 đến 2,6 m.
3.1.2.3. RNM tại Khu vực vịnh Bãi Cháy