Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
VẤN ĐỀ 1
SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA XÃ HỘI HỌC
1.CÁC TIỀN ĐỀ CHO SỰ RA ĐỜI CỦA XÃ HỘI HỌC
1.1. Cuộc cách mạng chính trị - xã hội Pháp
Các sự kiện chính trị quan trọng nhất góp phần làm thay đổi căn bản thể chế chính trị, trật
tự xã hội và các thiết chế xã hội Châu Âu thế kỷ 18 là các cuộc cách mạng, nhất là đại cách
mạng Pháp năm 1789. Cuộc cách mạng này đã mở đầu cho thời kỳ tam rã của chế độ phong
kiến, nhà nước quân chủ và thay thế trật tự xã hội cũ bằng một trật tự xã hội mới với dự thống
trị về kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản. Sự biến chuyển chính trị sâu sắc này làm cho các
mối quan hệ xã hội đã có từ lâu đời trong xã hội phong kiến thay đổi một cách căn cơ, kéo theo
sự thay đổi các chuẩn mực giá trị, niềm tin trong đời sống xã hội.
Các cuộc cách mạng cũng gây ra một sự xáo trộn trên mọi mặt trong đời sống xã hội
Pháp suốt thế kỷ 19, cảnh loạn ly nội chiến kéo dài triền miên, trật tự xã hội trên bình diện ý
thức và tổ chức cũ đã bị xóa bỏ nhưng trật tự mới với các chuẩn mực của nó chưa được thiết
lập một cách ổn định. Trước tình hình này, các nhà triết học, các nhà tư tưởng đương thời đã
tìm cách giải thích, miêu ta các hiện tượng xã hội, tìm cách đưa ra những mô hình xã hội mới
thay thế hoàn toàn xã hội cũ, thiết lập lại trật tự xã hội. Ngán ngẫm với cảnh hỗn độn, mất trật
trự, đa số các triết gia đương thời của Pháp không ủng hộ các cuộc cách mạng. Họ chủ trương
dùng ánh sáng khoa học và lý trí để giải quyết các xung đột và xây dựng một xã hội mới chứ
không nhất thiết phải tiến hành các cuộc cách mạng đẫm máu như đang xảy ra. Trong bối cảnh
đó August Comte đã phát minh ra một kho học mới đặt tên là “vậy lý xã hội” mà sau này ông
đổi tên thành “Xã hội học”. Ông là người đầu tiên sử dụng khái niệm này để chỉ một môn khoa
học xã hội xây dựng dựa trên thực nghiệm với mục đích nghiên cứu và giải quyết các vấn đề
xã hội đương thời và sử dụng môn khoa học này như một công cụ hữu hiệu nhằm thiết lập một
hình thái xã hội mới.
Như vậy xã hội học phát sinh đầu tiên ở Pháp trong một hoàn cảnh xã hội có rất nhiều
xáo trộn, biến đổi do các cuộc cách mạng tư sản tạo ra. Bên cạnh các cuộc cách mạng chính trị
này còn có cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu ở Anh cũng là tiền đề cho sự ra đời của xã
hội, làm chuyển dịch các thiết chế và tổ chức xã hội, làm thay đổi các giá trị chuẩn
mực trong đời sống xã hội. Cuộc cách mạng công nghiệp đã nâng cao mức sống nói
chung, tạo ra cho xã hội khối lượng hàng hóa gấp nhiều lần so với xã hội nông
nghiệp nhưng đồng thời cũng tạo ra nhiều hiện tượng, nhiều vấn đề xã hội mới như
sự phân hóa giàu nghèo ngày càng lớn, vấn đề bóc lột sức lao động của phụ nữ và
trẻ em, vấn đề phân công lao động, ... Có thể nói thế kỷ công nghiệp hóa cũng là thế
kỷ của các quy luật và các hình thái tổ chức quản lý mới.
Nói chung, một nền sản xuất mới nảy sinh từ cuộc cách mạng công nghiệp đã kéo theo vô
số các hiện tượng xã hội mới mẽ, đã lôi kéo sự chú ý của các nhà triết học, các nhà nghiên
cứu, đòi hỏi phải có một bộ môn khoa học giúp giải thích, giải quyết những vấn đề xã hội. Tất
cả những điều này đã góp phần hình thành bộ môn Xã hội học và thúc đẩy môn khoa học này
phát triển một cách nhanh chóng.
1.3. Sự phát triển của khoa học tự nhiên
Thế kỷ 19 cũng là thế kỷ phát triển mạnh mẽ của khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên.
Những biến đổi cơ bản trong các lĩnh vực: vật lý, hóa học, sinh học và những ứng dụng của
các khoa học này, đặc biệt là của hóa học và sinh học đã gây ấn tượng lớn và có ý nghĩa nhiều
nhất vì mô hình của hai khoa học này đã được sử dụng như là những mô hình cho nhiều lý
thuyết xã hội học đầu tiên như: Saint – Simon, August Comte, trường phái E.Durkheim ở Pháp,
trường phái H.Senpcer ở Anh, ...
Cũng trong thời kỳ này thuyết tế bào được hình thành. Tế bào được quan niệm như là
một đơn vị cơ bản của cơ thể với hai cấp độ: mỗi tế bào có cuộc sống riêng và cuộc sống này
gắn liền với cuộc sống của cơ thể. Nhiều nhà xã hội học sau này mượn mô hình này để giải
thích sự vận hành của xã hội. Ngoài ra còn có thuyết Tiến hóa của Darwin là cơ sở cho sự xuất
hiện của lý thuyết tiến hóa xã hội. Theo lý thuyết tiến hóa xã hội, trong xã hội cũng như trong tự
nhiên, sự đấu tranh sinh tồn đã tuyển chọn các cá thể và giải thích sự tiến hóa xã hội.
Nói chung, những biến chuyển của các khoa học tự nhiên là cơ sở cho các khoa học xã
hội mới ra đời, tư tưởng của triết học giảm đi sự chi phối, khoa học lịch sử và kinh tế càng phát
triển. Sự phát triển của các khoa học tự nhiên mang tính thực chứng đã ảnh hưởng đến cách
nhìn nhận và giải thích các sự kiện xã hội. August Comte chính là người đã phát minh ra khái
niệm “Xã hội học” và ông muốn xây dựng nó như là một môn khoa học nghiên cứu các hiện
quyết những khủng hoảng kinh tế, xã hội và khoa học. Có những giải pháp hiện thực
(A.De.Tocqueville) nhưng cũng có những giải pháp không tưởng. Người ta thấy cần thiết phải
giải quyết các vấn đề xã hội một cách khoa học. Những cuộc cách mạng chính trị, những thay
đổi trên lĩnh vực kinh tế và lao động đã tạo ra những điều kiện làm hình thành và phát triển một
thế giới quan mới về các hiện tượng xã hội.
Kết luận:
Các cuộc cách mạng chính trị, kinh tế vào thế kỷ 18, 19 cùng với những tiến bộ vượt bậc
của khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi tận gộc rễ các mối liên hệ truyền thống. Xã hội học đã
chính thức ra đời trong bối cảnh các nhà nghiên cứu tìm cách trả lời các câu hỏi căn bản: làm
thế nào để xã hội giữ được sự ổn định và có thể tồn tại? Trật tự chính trị được áp đặt như thế
nào? Giải thích thế nào đối với các vấn đề như tội phạm, bạo lực, ...? Từ những giải pháp cho
câu hỏi này, các hệ thống tư tưởng xã hội lớn đã hình thành và ngự trong suốt thế kỷ 19 & 20,
xoay xung quanh những trường phái chính như: lý thuyết xung đột, lý thuyết cơ cấu chức năng,
lý thuyết tương tác biểu tượng cùng rất nhiều trường phái xã hội học hiện đại khác./.
2. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA XÃ HỘI HỌC
2.1. Định nghĩa: (sociology)
Xã hội học là một bộ môn khoa học nghiên cứu về xã hội con người, về cách ứng xử và
quan hệ của con người trong các nhóm, trong các tổ chức hình thành nên xã hội.
Định nghĩa ngắn gọn này còn khá mơ hồ, chưa cho phép ta phân biệt Xã hội học với các
môn khoa học khác như tâm lý học, dân tộc học, lịch sự, .. Các nhà Xã hội học đã khắc phục
những khó khăn này bằng cách nêu lên những lĩnh vực cụ thể của hành vi xã hội, của ứng xử
xã hội mà họ quan tâm tìm hiểu như:
3
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
• Con người cư xử như thế nào trong gia đình, những vấn đề của gia đình trong quá
khứ, hiện tại và xu hướng thay đổi trong tương lai, …
• Tại sao lại có người giàu – người nghèo, …
• Tại sao lại có những người phạm tội, đặc điểm của những người phạm tội, …
chỉ báo, những biến số cụ thể, có thể đo lường được. Lúc này, nghiên cứu Xã hội học là nhằm
đi tìm những mối quan hệ giữa các biến số, tính quy luật của những biến số đó.
• Các đặc trưng cơ bản của sự kiện xã hội
- Tính khách quan: Sự kiện xã hội phải là những gì bên ngoài cá nhân, độc lập với ý
muốn chủ quan của cá nhân.
4
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
- Tính phổ biến: Các sự kiện xã hội bao giờ cũng là sự kiện chung, phổ biến đối với nhiều
cá nhân. Nghĩa là sự kiện xã hội là cái được cộng đồng xã hội cùng chia sẻ, chấp nhận,
coi chúng là của mình; sự kiện xã hội là phổ biến đối với mọi thành viên trong xã hội.
- Tính cưỡng chế: Sự kiện xã hội bao giờ cũng có sức mạnh kiểm soát, thậm chí là hạn
chế, gây áp lực đối với hành động và hành vi của cá nhân. Các điều khoản luật là ví dụ
rất rõ về đặc trưng này của sự kiện xã hội. Qua đó thấy rằng E.D coi XH có vai trò nhất
định đối với đời sống con người.
3. MỘT SỐ NHÀ XÃ HỘI HỌC TIÊN PHONG
3.1. Auguste Comte (1798 – 1857)
3.1.1. Vài nét về tiểu sử
August Comte sinh năm 1798 tại Montpellier miền Nam nước Pháp trong một gia đình
công giáo theo xu hướng quân chủ. Ông sớm có tư tưởng tự do và cách mạng.
Năm 16 tuổi ông đậu vào trường đại học Bách khoa nhưng vì là một trong những trung
tâm cách mạng nên trường Bách khoa phải đóng cửa và ông bị trả về nhà như những sinh viên
khác.
Năm 19 tuổi, ông đã gặp gỡ và làm thư ký cho Saint – Simon, trong thời gian này ông
chịu ảnh hưởng trực tiếp của Saint – Simon – khi nhà triết học này đang hình thành một trường
phái triết học – xã hội – công nghiệp mới. Comte đã cộng tác với Saint – Simon trong việc xây
dựng khái niệm cho công trình này, đặc biệt ông đã cùng Saint – Simon viết chung một số tác
phẩm mà Simon là người đứng tên. Điều này đã dẫn đến sự cãi vã tranh giành bản quyền giữa
hai người và kết cục là August Comte đã cắt đứt quan hệ với Saint - Simon vào năm 1824 và
- Tĩnh học xã hội: Theo ông tĩnh học xã hội là một bộ phận của xã hội học, nó nghiên cứu
những hệ thống, những thiết chế xã hội đã tồn tại sẵn, thường trực và ổn định. Ngoài ra
nó còn nghiên cứu các hình thức tổ chức, các liên kết xã hội, các thỏa thuận đã tồn tại ở
trạng thái “tĩnh” trong các hình thái xã hội, những gì làm cho xã hội luôn nằm trong một
trạng thái cân bằng ổn định. Nguyên tắc căn bản trong tĩnh học xã hội là nguyên tắc
đồng nhất xã hội, tức là các hiện tượng xã hội đều gắn bó hữu cơ mật thiết với nhau,
tác động lẫn nhau. Một cấu trúc xã hội bất kỳ nào đó sẽ nằm trong tổng thể hệ thống
cấu trúc khác. Do đó khi nghiên cứu một hiện tượng xã hội không thể tách rời riêng biệt
mà phải tìm hiểu nó trong sự liên hệ với các hiện tượng xã hội khác.
- Động học xã hội: Động học xã hội nghiên cứu những biến chuyển, những động thái của
xã hội, của nhân loại trong quá trình lịch sử. Hay nói cách khác, động học xã hội là lĩnh
vực nghiên cứu các quy luật biến đổi xã hội trong quá trình lịch sử của nó.
- Quan hệ giữa tĩnh học xã hội và động học xã hội là quan hệ giữa mặt động và mặt tĩnh,
giữa cái trật tự và cái tiến bộ. Hai mặt này luôn luôn tồn tại trong một xã hội và trở thành
đề tài tranh luận từ thời của August Comte cho đến nay.
• Quy luật 3 giai đoạn
August Comte đưa ra quy luật 3 giai đoạn để giải thích sự phát triển của lịch sử xã hội.
Theo quy luật này, lịch sử xã hội và lịch sử trí tuệ của loài người phát triển qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn thần học: Đây là giai đoạn con người giải thích các hiện tượng tự nhiên hay
xã hội bằng những lối giải thích mang tính siêu nhiên. Đây được xem là giai đoạn “trẻ
con” trong quá trình tiến hóa tư tưởng của loài người tương ứng với xã hội đẳng cấp và
quân sự thời trung cổ.
- Giai đoạn siêu hình: Giai đọan siêu hình là giai đoạn của các tư tưởng triết học Ánh
sáng. Đây là giai đoạn mà A.Comte cho rằng các tác nhân siêu tự nhiên đã được thay
thế bởi các lực lượng trừu tượng. Giai đoạn này tiến bộ hơn so với giai đoạn trước
nhưng tư tưởng vẫn còn lệ thuộc vào các khái niệm triết học trừu tượng và phổ quát.
Đây được coi là gạch nối giữa giai đoạn thần học và thực nghiệm. A.Comte gọi giai
đoạn này là “vị thành niên” trong lộ trình phát triển tư tưởng của con người.
- Giai đoạn thực chứng: Đây là giai đoạn con người từ bỏ việc đi tìm những nguyên nhân
của sự vật để quan sát những sự kiện với sự hỗ trợ của toán học, đã đưa ra các quy
hội. Với phương pháp này ông đã tìm ra quy luật 3 giai đoạn như chúng ta đã thấy ở
trên.
Kết luận:
August Comte là người có rất nhiều đóng góp to lớn cho sự khởi đầu của ngành xã hội
học. Ông là người đầu tiên vạch ra nhu cầu nảy sinh một khoa học mới và là người đầu tiên
đưa ra thuật ngữ xã hội học, ông cũng chỉ ra bản chất của khoa học xã hội nói chung và bản
chất của xã hội học nói riêng. Theo ông xã hội học có nhiệm vụ nghiên cứu sự vận động phát
triển của xã hội loài người, đưa ra lời giải thích đối với những diễn biến của xã hội để góp phần
vào việc xác lập trật tự, ổn định xã hội.
Ông có công đầu trong việc tách xã hội học ra khỏi triết học tư biện, giáo điều. Các
phương pháp nghiên cứu xã hội học mà August Comte đưa ra là một bước nhảy lớn, cho đến
nay những phương pháp này vẫn còn nguyên giá trị của nó, nó là nền móng vững chắc cho sự
phát triển của bộ môn khoa học này.
Từ quan niệm cơ cấu của xã hội học gồm tĩnh học xã hội và động học xã hội, ông đã
vạch ra hai lĩnh vực nội dung nghiên cứu cơ bản là nghiên cứu cấu trúc xã hội và nghiên cứu
quá trình xã hội. Các nội dung này luôn là mối quan tâm nghiên cứu hàng đầu của các lý thuyết
xã hội học trước đây và hiện nay.
Tuy nhiên A.Comte cũng có một số khuyết điểm như là: Ông rơi vào chủ nghĩa giáo điều
khi xếp loại thức bậc của các khoa học tự nhiên. Tính giáo điều thể hiện rõ hơn nữa khi ông
khẳng định rằng con người vốn có bản chất giống nhau và tất cả các xã hội đều có quy luật
phát triển giống nhau trong khi cáa đề tài nghiên cứu của ông chỉ giới hạn trong phạm vi các xã
hội Tây Âu.
3.2. Karl Marx (1818 – 1883):
3.2.1. Vài nét về tiểu sử
Karl Marx sinh năm 1818 tại Treves, Đức, trong một gia đình trường giả gốc Do Thái theo
đạo Tin lành nhưng không mấy sùng đạo. Marx học phổ thông tại Treves sau đó theo học đại
học tại Bonn và Berlia. Ông là tiến sĩ của cả hai ngành Luật và Triết học.
Năm 1841, ông bắt đầu làm nghề báo và làm chủ bút tờ RheinesheZeitung nhưng vì
những tư tưởng cách mạng của ông mà tờ báo này phải đóng cửa vào năm 1843, sau đó ông tị
nạn sang Pháp.
mình là một nhà XHH nhưng các nhà nghiên cứu trên khắp thế giới đều coi Marx là một nhà
XHH vĩ đại của mọi thời đại, là người đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển XHH hiện đại.
Luận điểm gốc của CNDVLS cho rằng: “sản xuất và trao đổi sản phẩm của sản xuất là cở sở
của mọi chế độ xã hội, trong mỗi xã hội có sự phân phối sản phẩm và cùng với sự phân phối đó
là sự phân chhia xã hội thành giai cấp dựa trên tình hình: sản xuất ra cái gì, sả xuất bằng cách
nào, sản phẩm của sản xuất đó được trao đổi như thế nào? Do đó cần tìm ra những nguyên
nhân cuối cùng (chứ không phải những nguyên nhân trung gian) của tất cả những biến đổi xã
hội và nhữung đảo lộn chính trị không phải trong đầu óc com người mà là trong kinh tế của thời
đại tương ứng.
Tóm lại, xuất phát điểm của CNDVLS là việc phân tích các quá trình lịch sử xã hội từ góc độ
hoạt động vật chất của con người, từ góc độ cơ sở kinh tế của xã hội.
CNDVLS xem xét xã hội với tư cách là cấu trúc xã hội, hệ thống xã hội. Xã hội được hiểu là một
chình thể gồm các bộ phận tác động qua lại với nhau như: các giai cấp, các thiết chế, các
chuẩn mực giá trị, ... Khi nghiên cứu cơ cấu xã hội của xã hội TBCN, ông đặc biệt chú trọng tới
cơ cấu giai cấp và chỉ ra rằng xã hội TBCN gồm hai giai cấp đối kháng nhau: giai cấp tư sản và
giai cấp vô sản
8
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Việc vận dụng CNDVLS với tư cách là cơ sở lý luận và phương pháp luận trong XHH đòi hỏi
XHH phải tập trung vào phân tích mối quan hệ giữa con người với xã hội. Đồng thời phải chỉ ra
được nguồn gốc biến đổi xã hội diễn ra trong lòng xã hội chứ không phải tìm kiếm các yếu tố
bên ngoài xã hội.
Khi phân tích, nghiên cứu các hiện tượng xã hội ta không thể dùng các công cụ của khoa học
tự nhiên mà phải phát huy sức mạnh của trí tuệ, của tư duy trừu tượng, phải sử dụng thuật
ngữ, khái niệm, phạm trù khoa học.
2. Quan niệm về bản chất con người:
Lý luận của Marx chỉ ra rằng bản chất của xã hội và con người bắt nguồn từ quá trình hoạt
động sản xuất, từ trong hoạt động làm ra của cải vật chất, tức là từ trong lao động. Bản chất đó
chức xã hội và cơ cấu xã hội hiện có. Hay nói một cách khác, những chủ đề nghiên cứu cơ bản
của xã hội học hiện đại là cấu trúc xã hội, phân tầng xã hội, bất bình đẳng xã hội.
4. Lý thuyết hình thái kinh tế – xã hội:
CNDVLS cho rằng sự phát triển trên toàn thế giới là sự tha thế kế tiếp các hình thái kinh tế – xã
hội mà thực chất là các phương pháp sản xuất.
Hình thái KT – XH là một phạm trù của CNDVLS được sử dụng để chỉ XH ở từng giai đoạn
nhất định với quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, với kiến trúc thượng tầng gồn
9
Môn học Xã hội học đại cương GV. Nguyễn Nữ Nguyệt Anh
ĐH. Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP.HCM
-------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
tư tưởng, chính trị, pháp quyền, tôn giáo, và các yếu tố khác dựng trên cơ sở hạ tầng giồm các
quan hệ sản xuất tạo thành cơ cấu kinh tế xã hội.
Tư liệu sản xuất bao gồm tất cả những gì của thế giới bên ngoài được đưa vào sử dụng để sản
xuất ra của cải vật chất nhằm duy trì cuộc sống của con người. Tuy nhiên trong lịch sử xã hội
chỉ có một nhóm người hay một giai cấp nắm giữ trong tay TLSX. Chính chế độ sở hữu tư nhân
về tư liệu sản xuất là cơ sở phân chia giai cấp, điều này quy định tính chất của quan hệ sản
xuất (quan hệ giữa con người với con người trong quá trình sản xuất). Quan hệ sản xuất có thể
trở thành mối quan hệ cơ bản trong xã hội được hợp pháp hóa và thiết chế hóa thông qua hệ
thống chính trị, luật pháp, tư tưởng, văn hóa.
Phương thức sản xuất là sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, nó quy
định và chi phối hệ thống các quan hệ xã hội. Trong xã hội có giai cấp, quan hệ sản xuất luôn
luôn là quan hệ bất bình đẳng, luôn có mâu thuẫn, đối kháng. Các quan hệ đó là nguồn nguồn
gốc và là động lực thúc đẩy sự biến đổi xã hội.
Kết luận:
Khác với August Comte và Herbert Spencer, Karl Marx tập trung nghiên cứu vai trò của mâu
thuẫn trong biến chuyển xã hội. Ông cho rằng các hình thái kinh tế – xã hội mới được hình
thành từ mâu thuẫn và xung đột trong các hình thái kinh tế – xã hội cũ. Marx đã phê bình gắt
gao chủ nghĩa tư bản và tiên đoán nó sẽ bị thay thế bởi CNXH. Không có một nhà XHH tiền
phong nào có ảnh hưởng sâu rộng đối với bộ môn khoa học mới này như là Marx. Ông chưa