Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l rc
-tnu. e d
u. v
n
MỤC
LỤC
A. MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
2.1. Mục đích nghiên cứu 2
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
3.1. Đối tượng nghiên cứu 3
3.2. Phạm vi nghiên cứu 3
4. Lịch sử vấn đề 4
5. Phương pháp nghiên cứu 9
6. Bố cục của luận văn 9
B. NỘI DUNG CHÍNH 10
Chƣơng
1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỆ THỐNG BÀI TẬP
MỞ RỘNG VỐN TỪ THEO CHỦ ĐIỂM CHO HS LỚP 3 10
1.1. Cơ sở lí luận 10
1.1.1. Lí thuyết về từ tiếng Việt 10
1.1.2. Một số vấn đề lý thuyết về phương pháp dạy - học tiếng Việt ở
tiểu học 15
1.1.3. Mục tiêu của việc dạy từ ngữ cho học sinh 18
Chƣơng
3: H
Ƣ
ỚNG SỬ DỤNG CÁC BÀI TẬP VÀ THỰC NGHIỆM
SƢ PHẠM
78
3.1. Hướng sử dụng các bài tập 78
3.2. Thực nghiệm sư phạm 81
3.2.1. Mục đích thực nghiệm 81
3.2.2. Khu vực và địa bàn thực nghiệm 82
3.2.3. Quy trình thực nghiệm 83
3.2.4. Kiểm tra và đánh giá kết quả thực nghiệm 83
3.2.5. Những điểm tốt và chưa tốt trong tiết dạy thử nghiệm; khả năng
thực thi của hệ thống bài tập mà luận văn đề xuất 88
Một số thiết kế thử nghiệm 89
C. KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO 102
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l rc
-tnu. e d
u. v
n
A. MỞ
ĐẦU
ở cấp tiểu học (năng lực từ ngữ
đƣợc
hiểu bao gồm vốn từ và các kỹ năng vận
dụng vốn từ ấy để tạo lập và lĩnh hội ngôn bản). Bởi vậy, muốn thực hiện
đƣợc
mục tiêu này,
trƣớc
hết phải phát triển, mở rộng vốn từ cho học sinh nói
chung và học sinh lớp 3 nói riêng.
1.3. Môn Tiếng Việt ở phổ thông (trong đó có môn Tiếng Việt lớp 3)
trƣớc
đây là một môn học độc lập nh
ƣ
ng từ năm 2004 - 2005 trở lại đây đ
ƣ
ợc
dạy tích hợp cùng với các phân môn khác. Trong ch
ƣ
ơng trình môn Tiếng
Việt lớp 3 có các phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn, Chính tả,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l rc
-tnu. e d
u. v
n
2
ƣ
ơng trình giảng dạy (ch
ƣ
ơng trình phân
môn Luyện từ và câu trong Tiếng Việt 3
đƣợc
bố trí dạy theo chủ điểm), phù
hợp với đặc
trƣng
về tính hệ thống của từ vựng, phù hợp với qui luật tích luỹ
vốn từ của
ngƣời
bản ngữ.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu của các công trình nghiên cứu liên
quan đến đề tài và thực tế dạy - học phân môn Luyện từ và câu ở lớp 3, tác giả
luận văn thực hiện đề tài này với mục đích xây dựng được một hệ thống bài
tập mở rộng vốn từ theo chủ điểm một cách
tƣơng
đối toàn diện về hình thức
cũng
nhƣ
nội dung để làm tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh khi
dạy - học môn Tiếng Việt trong ch
ƣ
ơng trình lớp 3, góp phần nâng cao hiệu
quả giờ dạy - học.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt
trƣờng. Bƣớc
đầu đánh giá khả năng thực thi và hiệu quả của hệ thống bài
tập do luận văn đề xuất.
3. Đối
tƣợng
và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối
tƣợng
nghiên cứu của luận văn là hệ thống bài tập mở rộng vốn từ
theo chủ điểm
đƣợc
sử dụng trong phân môn Luyện từ và câu ở ch
ƣ
ơng trình
Tiếng Việt 3.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Ch
ƣ
ơng trình phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3 bao
gồm 15 chủ điểm,
đƣợc
sắp xếp theo trình tự
nhƣ
sau:
- Chủ điểm Măng non;
- Chủ điểm Mái ấm;
- Chủ điểm Tới trường;
- Chủ điểm Cộng đồng;
- Chủ điểm Quê hương;
vốn từ theo 8 chủ điểm trên.
4. Lịch sử vấn đề
Ch
ƣ
ơng trình phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3 tuy mới
đƣợc
thực hiện vài năm gần đây nh
ƣ
ng đã có khá nhiều công trình nghiên cứu
liên quan đến phân môn này. Các công trình nghiên cứu đó hoặc là những vấn
đề lí thuyết bàn về các ph
ƣ
ơng pháp dạy học, hoặc là những hệ thống bài tập
đƣợc
tác giả
đƣa
ra để làm tài liệu tham khảo cho các giờ dạy - học. Có thể
dẫn ra một số công trình tiêu biểu.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l rc
-tnu. e d
u. v
n
5
1. Nguyễn Minh Thuyết, Hỏi - Đáp về dạy học Tiếng Việt 3, Nxb GD,
2004. Trong cuốn sách này, tác giả Nguyễn Minh Thuyết đã đề cập đến
năng thực hành các bài tập học kỳ 1, Phần 2 trình bày Hệ thống các bài tập,
phần 3 gợi ý cách giải các bài tập.
Có thể nói, đóng góp chính của cuốn sách này là đã
đƣa
ra
đƣợc
một số
dạng bài tập theo từng tiết học, có gợi ý cách giải các bài tập đó. Tuy nhiên,
các bài tập này cũng không lập thành hệ thống theo chủ điểm,
chƣa
kể có bài
tập còn
đƣa
ra cách giải không đúng (bài tập 1, trang 5).
3. Bùi Minh Toán, Viết Hùng, Luyện từ và câu, Tiếng Việt, Nxb Đại học
Sƣ
phạm, 2005.
Cuốn sách này gồm 2 phần: Phần 1 trình bày: Những điểm cần
lƣu
ý về
luyện từ và câu ở sách Tiếng Việt lớp 3; Phần 2 trình bày: Gợi ý làm bài tập
và các bài tập bổ trợ.
Đây là cuốn sách tham khảo dành cho giáo viên và học sinh khi dạy phân
môn Luyện từ và câu trong Tiếng Việt 3. Cũng
nhƣ
cuốn sách dẫn trên, cuốn
sách này đã gợi ý
đƣợc
cách giải những bài tập trong ch
ƣ
ƣ
ờng, Nguyễn Thị Hạnh, Luyện từ và câu 3, Nxb GD,
2006 (tái bản lần 2).
Cuốn sách này gồm 2 ch
ƣ
ơng: Chương 1 trình bày Một số điểm cần lưu
ý về phần luyện từ và câu ở sách Tiếng Việt 3; Chương 2 trình bày Cách giải
bài tập luyện từ và câu ở sách Tiếng Việt 3 và bài tập bổ sung.
Ở ch
ƣ
ơng 1, ngoài mục đích và yêu cầu chung, các tác giả của cuốn sách
đã chỉ rõ mức độ yêu cầu trong từng nội dung luyện từ và câu, chẳng hạn, về
mức độ yêu cầu của nội dung luyện từ, học sinh lớp 3 phải nắm
đƣợc
khoảng
400 đến 450 từ thuộc 15 chủ điểm trong sách học; biết nghĩa của một số thành
ngữ, tục ngữ; nhận biết một số biện pháp tu từ phổ biến
nhƣ
so sánh, nhân
hoá; nhận biết sâu hơn ý nghĩa chung của từng lớp từ đã học ở lớp 2, v.v Về
mức độ yêu cầu của nội dung luyện câu, học sinh lớp 3 phải biết
đƣợc
câu
trong lời nói và câu trong văn bản phải
tƣơng
đối trọn vẹn về nghĩa, phải nhận
biết
đƣợc
dấu hiệu mở đầu và dấu hiệu kết thúc của câu, v.v
Ở ch
ớng dẫn học sinh thực
hiện trong các giờ ngoại khoá.
5. Lê Hữu Tỉnh, Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực từ ngữ cho học
sinh tiểu học, Luận án Tiến sỹ, 2001.
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung của luận án gồm 3
ch
ƣ
ơng: Chương 1 trình bày Cơ sở lí luận và thực tiễn của hệ thống bài tập ;
Chương 2 trình bày Hệ thống bài tập rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh
tiểu học; Chương 3 là
chƣơng
Thực nghiệm Sư phạm.
Luận văn của chúng tôi sẽ tiếp thu những cơ sở lí luận và hệ thống bài
tập
đƣợc
trình bày trong luận án, trên tinh thần có chọn lọc và chỉnh sửa cho
phù hợp với đối
tƣợng,
nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu của luận văn.
Cũng cần nói thêm, công trình nghiên cứu của Lê Hữu Tỉnh mới chỉ
dừng lại ở mặt lí luận, chứ
chƣa đƣa
ra
đƣợc
một hệ thống bài tập cụ thể.
6. Nguyễn Thị Hạnh, Bài tập trắc nghiệm tiếng Việt 3, Nxb GD, 2005
Trong cuốn sách này, tác giả đã xây dựng
đƣợc
một hệ thống bài tập trắc
nghiệm theo 5 phân môn của ch
-tnu. e d
u. v
n
8
tập
đƣợc
trình bày ở đây chủ yếu mới là kiểu bài tập "Trắc nghiệm" nên còn
đơn điệu. Hơn nữa, hệ thống bài tập này cũng
chƣa đƣợc
sắp xếp theo chủ
điểm nên cũng
chƣa
thật thuận tiện cho
ngƣời
sử dụng.
Ngoài những công trình tiêu biểu vừa dẫn, còn có nhiều công trình đã
công bố khác liên quan đến dạy - học phân môn Luyện từ và câu nói riêng và
môn Tiếng Việt nói chung ở lớp 3,
nhƣ:
"Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy các
môn học lớp 3", Nxb GD, 2004; "Bài tập nâng cao Tiếng Việt 3", Nxb GD,
1995 của các tác giả Trần Mạnh H
ƣ
ởng, Nguyễn Nghiệp, PGS.TS Lê A, PTS
Trần Thị Minh Ph
ƣ
ơng,
đa dạng. Đặc biệt,
chƣa
thấy một công trình nghiên cứu nào xây dựng
đƣợc
hệ
thống bài tập theo chủ điểm
dƣới
nhiều kiểu dạng để làm tài liệu tham khảo
cho giáo viên và học sinh.
Trƣớc
nhu cầu cấp thiết của
ngƣời
dạy và yêu cầu cung cấp kiến thức về
từ cho học sinh lớp 3, chúng tôi mạnh dạn xây dựng hệ thống bài tập về mở
rộng vốn từ theo chủ điểm trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những thành tựu
nghiên cứu của những
ngƣời
đi trƣớc.
Hệ thống bài tập trình bày trong luận văn sẽ
đƣợc
sắp xếp theo trật tự
phù hợp với ch
ƣ
ơng trình học, phù hợp với sự phát triển
tƣ
duy của học sinh
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l rc
trƣớc
và kết quả điều tra thực tế. Ph
ƣ
ơng pháp nghiên cứu này còn
đƣợc
dùng
để phân tích và tổng kết kết quả nghiên cứu mà luận văn đã đạt đ
ƣ
ợc.
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Ph
ƣ
ơng pháp nghiên cứu này đ
ƣ
ợc
sử dụng để nghiên cứu, đối chiếu ch
ƣ
ơng trình phân môn Tiếng Việt trong
sách Tiếng Việt 3 mới và ch
ƣ
ơng trình Tiếng Việt trong sách Tiếng Việt 3 cũ.
Ngoài ra, ph
ƣ
ơng pháp nghiên cứu này còn
đƣợc
dùng để so sánh, đối chiếu
kết quả giảng dạy và học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng.
- Phương pháp thực nghiệm: Ph
ƣ
ơng pháp nghiên cứu này
đƣợc
1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA HỆ THỐNG BÀI TẬP MỞ
RỘNG VỐN TỪ THEO CHỦ ĐIỂM CHO HS LỚP 3
Để đảm bảo khả năng thực thi cũng
nhƣ
tính có hiệu quả, tính thuyết
phục của hệ thống bài tập
đƣợc đƣa
ra trong luận văn, ch
ƣ
ơng này trình bày
những cơ sở lí luận và thực tiễn của hệ thống bài tập này.
Những cơ sở lí luận chính
đƣợc
sử dụng làm căn cứ cho việc xây dựng
hệ thống bài tập là những vấn đề lí thuyết về ngôn ngữ
nhƣ:
nghĩa của từ,
trƣờng nghĩa, một số quan hệ cơ bản trong ngôn ngữ, v.v ; đó là những vấn
đề lí thuyết về phương pháp dạy học tiếng Việt ở bậc tiểu học.
Cơ sở thực tiễn chính
đƣợc
sử dụng làm căn cứ để xây dựng hệ thống bài
tập ở đây là: sự đổi mới về chương trình Tiếng Việt lớp 3, thực trạng dạy -
học phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3, trình độ của giáo viên
và học sinh, v.v
1.1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1.1. Lí thuyết về từ tiếng Việt
1.1.1.1. Khái niệm từ tiếng Việt
Có nhiều định nghĩa về từ tiếng Việt nh
có những thành phần ý nghĩa cơ bản sau đây (những thành phần ý nghĩa này
đƣợc
Đỗ Hữu Châu phân biệt rất kỹ):
- Ý nghĩa biểu vật ứng với chức năng biểu vật;
- Ý nghĩa biểu niệm ứng với chức năng biểu niệm;
- Ý nghĩa biểu thái ứng với chức năng biểu thái.
Ba thành phần ý nghĩa trên
đƣợc
gọi chung là ý nghĩa từ vựng. Ý nghĩa
từ vựng th
ƣ
ờng
đƣợc
đối lập với thành phần ý nghĩa thứ 4, đó là:
- Ý nghĩa ngữ pháp ứng với chức năng ngữ pháp.
Các ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp có tính ổn định, bền vững
tƣơng
đối. Chúng không phải chỉ do quan hệ giữa từ với những yếu tố ngoài
ngôn ngữ mà có. Chúng còn do quan hệ về ý nghĩa giữa từ này với từ khác
trong ngôn ngữ quy định nên.
Sự vật, hiện
tƣợng,
đặc điểm ngoài ngôn ngữ
đƣợc
từ biểu thị tạo nên ý
nghĩa biểu vật của từ. Nói cách khác, "ý nghĩa biểu vật là sự phản ánh sự vật,
hiện tượng trong thực tế vào ngôn ngữ" [4, tr.108]. Ý nghĩa biểu vật không
phải là sự vật, hiện
tƣợng
y
nói.
Sự vật, hiện
tƣợng đƣợc
biểu thị trong ngôn ngữ đều là những sự vật,
hiện
tƣợng
đã
đƣợc
nhận thức,
đƣợc
thể nghiệm bởi con ng
ƣ
ời. Do đó cùng
với tên gọi, con
ngƣời th
ƣ
ờng gửi kèm những cách đánh giá của mình. Ví dụ,
có những từ khi phát âm lên đã gợi cho ta những cảm xúc sợ hãi,
nhƣ:
ma
quái, chém giết, tàn sát ; lại có những từ giúp ta bộc lộ sự khinh bỉ,
nhƣ:
đê
tiện, ton hót, bợ đỡ, hoặc ng
ƣ
ợc lại bộc lộ sự tôn trọng,
nhƣ:
cao quí, ca
ngợi, đàng hoàng, thẳng thắn, v.v
Tóm lại, ý nghĩa biểu vật, ý nghĩa biểu niệm và ý nghĩa biểu thái là các
gọi là một trường nghĩa. Đó là những
tập hợp từ đồng nhất với nhau về ngữ nghĩa.
Dựa vào các
trƣờng
nghĩa, ta có thể phân định một cách tổng quát những
quan hệ ngữ nghĩa trong từ vựng thành những quan hệ ngữ nghĩa giữa các
trƣờng nghĩa và những quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trƣờng. Nói một
cách khác, mỗi trƣờng nghĩa là một tiểu hệ thống nằm trong hệ thống là từ
vựng của một ngôn ngữ.
Ng
ƣ
ời ta có thể chia hệ thống từ vựng thành các trƣờng nghĩa, tuỳ theo
từng tiêu chí. Cụ thể,
ngƣời
ta có thể chia hệ thống từ vựng thành trường
nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm.
-
Trƣờng
biểu vật:
Trường nghĩa biểu vật là tập hợp những từ cùng biểu thị một phạm vi sự
vật, hiện tượng thực tế khách quan [4, tr.172]. Cơ sở để xác lập
trƣờng
nghĩa
biểu vật là sự đồng nhất nào đó trong ý nghĩa biểu vật của các từ. Ví dụ,
trường nghĩa biểu vật về động vật:
+ Tên các loài: gà, lợn, chó, trâu
+
Trƣờng
nghĩa chỉ bộ phận cơ thể: đầu, mỏ, đuôi, mõm
Trƣờng
nghĩa này có liên hệ
với nhau: Nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu
chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các tr
ƣ
ờng biểu vật. Ng
ƣ
ợc lại, nếu cần
phân biệt một trƣờng biểu vật thành các tr
ƣ
ờng nhỏ thì lại phải dựa vào các
nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm:
Cả trƣờng nghĩa biểu vật và trƣờng nghĩa biểu niệm đều thuộc loại
trƣờng
nghĩa dọc.
- Trường nghĩa tuyến tính (còn gọi là
trƣờng
nghĩa ngang):
Để lập nên các trƣờng nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc
rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính
(cụm từ, câu) chấp nhận
đƣợc
trong ngôn ngữ. Ví dụ,
trƣờng
nghĩa tuyến tính
của từ đi là nhanh, chậm, tập tễnh, khập khiễng, ra, vào, lên, xuống, giày,
dép, găng, tất v.v
Nhƣ
vậy, các từ trong cùng một trƣờng tuyến tính là những từ th
ƣ
ờng
w. l rc
-tnu. e d
u. v
n
15
Ý nghĩa biểu vật của những từ trong tr
ƣ
ờng liên
tƣởng
có thể giống
nhau, nh
ƣ
ng cũng có những từ khác nhau về nghĩa. Do tính chất này mà các
trƣờng
liên
tƣởng th
ƣ
ờng không ổn định.
Tóm lại: Nói đến các kiểu quan hệ của ngôn ngữ không thể không nói
đến hai dạng quan hệ, đó là quan hệ ngang và quan hệ dọc. Theo hai dạng
quan hệ đó có thể có hai loại trƣờng nghĩa là trƣờng nghĩa ngang và trƣờng
nghĩa dọc.
Trƣờng nghĩa biểu vật và trƣờng nghĩa biểu niệm thuộc kiểu trƣờng
nghĩa dọc, trƣờng nghĩa tuyến tính thuộc kiểu tr
ƣ
ờng nghĩa ngang.
- Kai - ro VLA lại quan niệm: "Phương pháp dạy học là cách thức làm
việc giữa thày giáo và học sinh, nhờ đó mà học sinh nắm vững được kiến thức,
kỹ năng và kỹ xảo, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực" [3, tr.69].
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l rc
-tnu. e d
u. v
n
16
- Hai tác giả: Ki - rin - Xki D.M và Pôloxin V.X định nghĩa ph
ƣ
ơng pháp
dạy học ngắn gọn hơn, đơn giản hơn các định nghĩa đã dẫn. Hai tác giả này
định nghĩa: "Phương pháp dạy học là những hình thức kết hợp hoạt động của
giáo viên và học sinh hướng vào việc đạt mục đích nào" [3, tr.69].
Nhƣ
vậy, có thể thấy rằng các định nghĩa dẫn trên tuy có những điểm
khác nhau nh
ƣ
ng đều thống nhất ở một điểm: Ph
ƣ
ơng pháp dạy học là cách
thức làm việc giữa thày và trò, với vai trò chủ đạo của thày và hoạt động tích
cực, tự giác của trò nhằm
hƣớng
vào việc đạt mục đích nào đó.
ơng pháp dạy học
đƣợc
phân loại theo ph
ƣ
ơng thức đặc thù
tiếp nhận các nội dung tri thức, gồm: Phương pháp thông báo - giải thích,
Phương pháp tái hiện, Phương pháp rèn luyện theo mẫu, v.v
b) Về các hình thức thể hiện của phương pháp:
Ph
ƣ
ơng pháp phải thể hiện thông qua các hình thức của nó. Một hình
thức có thể
đƣợc
dùng cho nhiều ph
ƣ
ơng pháp khác nhau. Một số hình thức
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên htt p :// w w
w. l rc
-tnu. e d
u. v
n
17
thể hiện của ph
ƣ
ơng pháp th
ƣ
nhằm mục đích
trƣớc
tiên là vui
chơi nh
ƣ
ng qua trò chơi,
ngƣời
chơi có thể
đƣợc
rèn luyện thể lực, rèn luyện
các giác quan, rèn luyện trí tuệ, tạo cơ hội giao
lƣu
với mọi ng
ƣ
ời.
c) Phương pháp thực hành:
Hình thức cốt lõi để thực hiện ph
ƣ
ơng pháp thực hành là ra bài tập và
làm bài tập. Ph
ƣ
ơng pháp luyện tập thực hành giúp cho học sinh nắm vững
khái niệm, hiểu sâu sắc khái niệm hơn.
Ngoài ba ph
ƣ
ơng pháp dạy học vừa trình bày, dạy tiếng Việt ở cấp tiểu
học còn sử dụng các ph
ƣ
ơng pháp khác
nhƣ
ng cũng có những ph
ƣ
ơng pháp đặc thù dành cho
môn Tiếng Việt.
1.1.3. Mục tiêu của việc dạy từ ngữ cho học sinh
1.1.3.1. Hình thành và rèn luyện năng lực từ ngữ cho học sinh - mục tiêu
quan trọng nhất của dạy - học từ ngữ
Có thể nói ngay rằng, mục tiêu quan trọng nhất của việc dạy từ ngữ cho
học sinh nói chung và học sinh cấp tiểu học nói riêng là rèn luyện năng lực từ
ngữ cho các em.
a) Năng lực từ ngữ là gì?
Dƣới
góc nhìn của tâm lí học, năng lực
đƣợc
hiểu là "một tổ hợp các
kỹ năng cho phép nhận biết và giải quyết một tình huống" [35, tr.12].
Năng lực ngôn ngữ là vốn ngôn ngữ và khả năng sử dụng vốn ngôn ngữ
đó trong thực tế giao tiếp. Năng lực từ ngữ là một bộ phận của năng lực ngôn
ngữ, bao gồm vốn từ và kỹ năng sử dụng vốn từ ấy để tạo lập và lĩnh hội ngôn
bản.
Nhƣ
vậy, để có năng lực ngôn ngữ nói chung và năng lực từ ngữ nói
riêng
đƣợc
tốt,
trƣớc
hết mỗi cá nhân phải có một vốn từ nhất định, sau nữa là
phải nắm
đƣợc
nghĩa và có kỹ năng sử dụng chúng trong mọi tình huống.
19
Nói tới vốn từ của cá nhân cần phải
lƣu
ý rằng vốn từ của cá nhân phải
nằm trong vốn từ của một ngôn ngữ, là một bộ phận của vốn từ vựng nói
chung. Mỗi một cá nhân có một vốn từ riêng; kho từ của
ngƣời
này không thể
trùng hợp với
ngƣời
khác một cách tuyệt đối. Cá nhân nắm
đƣợc
một từ là
phải nắm
đƣợc
cả mặt âm và mặt nghĩa của từ đó.
Vốn từ của cá nhân luôn biến động và phát triển theo độ tuổi, môi
tr
ƣ
ờng sống và những hoạt động của cá nhân ấy. Đánh giá vốn từ của cá
nhân, chúng ta "cần phải nhìn cả ở phương diện số lượng và chất lượng "
[35, tr.15].
Ở đây, nói đến số lượng là nói đến nhiều hay ít, bao nhiêu, còn nói đến
chất lượng là nói đến việc "nắm được nghĩa của từ, nắm được chính xác các
mặt âm thanh - chữ viết, đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm phong cách, phạm vi
sử dụng của từ" [35, tr.15].
- Vốn từ của học sinh tiểu học:
Khó có thể thống kê một cách chính xác vốn từ của mỗi cá nhân nói
chung và của học sinh tiểu học nói riêng, bởi vốn từ luôn là một hệ thống mở
nhƣ
w. l rc
-tnu. e d
u. v
n
20
Ngoài môi trƣờng sống, địa bàn cƣ trú cũng ảnh h
ƣ
ởng nhiều tới việc
hình thành vốn từ ngữ cho các em. Thực tế cho thấy, vốn từ của một học sinh
sống ở địa bàn nông thôn sẽ khác vốn từ của một học sinh thành thị; vốn từ
của một học sinh miền xuôi không giống vốn từ của học sinh miền núi v.v
[35, tr.23].
Cũng cần phải nói ngay rằng, môi trƣờng sống, địa bàn cƣ trú có ảnh
h
ƣ
ởng nhiều tới việc tích luỹ vốn từ của các em song ở đây cần phải có cái
nhìn khái quát, toàn diện và khách quan nhất về vốn từ của học sinh tiểu học.
Muốn vậy chúng ta phải xem xét những đặc trƣng tâm lí, lứa tuổi có ảnh
h
ƣ
ởng, tác động
nhƣ
thế nào tới vốn từ của học sinh ở độ tuổi này.
Theo điều tra của tác giả Lê Hữu Tỉnh và một vài công trình nghiên cứu
khác, " bức tranh về tình hình năng lực ngôn ngữ nói chung, năng lực từ
ngữ nói riêng (trong đó có vốn từ) của học sinh phổ thông có màu sắc khá
ảm đạm và nếu đối chiếu với yêu cầu của chương trình môn tiếng Việt trong
tr.25].
Từ ngữ tích luỹ trong đầu óc học sinh không phải là một sự sắp xếp lộn
xộn mà tạo thành những hệ thống liên
tƣởng
nhất định. Chính vì đặc điểm này
mà khi mở rộng vốn từ cho học sinh, giáo viên cần phải chú ý đến qui luật
liên
tƣởng
để cung cấp những từ ngữ cần thiết cho các em.
Theo hệ thống liên t
ƣ
ởng, giáo viên có thể rộng vốn từ cho các em bằng
cách cung cấp từ trái nghĩa, từ cùng nghĩa hoặc gần nghĩa, những từ có quan
hệ ngữ nghĩa với nhau. Chẳng hạn, gặp từ "tổ quốc" có thể mở rộng vốn từ
cho các em bằng cách cung cấp (hoặc h
ƣ
ớng dẫn các em) tìm những từ cùng
nghĩa, từ: non sông, đất nước, quốc gia Hoặc khi mở rộng vốn từ theo chủ
điểm Trường học, gặp từ "giáo viên" ta lại có thể cung cấp cho học sinh một
số từ , ngữ có quan hệ liên
tƣởng
với từ này, nhƣ: (soạn) giáo án, chấm bài,
giảng bài, lên lớp
Ngoài ph
ƣ
ơng pháp cung cấp (hoặc h
ƣ
ớng dẫn các em) tìm những từ
ngữ đồng nghĩa, trái nghĩa, có quan hệ ngữ nghĩa với từ cho
trƣớc,
nhƣ:
giải nghĩa
từ bằng cách chỉ ra nét nghĩa của từ đã
đƣợc
liệt kê trong từ điển, giải nghĩa từ
bằng cách dẫn ra những từ đồng nghĩa/ trái nghĩa với chúng, v.v
Cần chú ý rằng, khi tổ chức dạy học sinh tiểu học nắm nghĩa của từ cần
phải lựa chọn từ để giải nghĩa. Những từ
đƣợc
lựa để giải nghĩa cho các em
phải dựa trên nguyên tắc tính vừa sức, tính cần thiết và đặc biệt phải là những
từ trung tâm của chủ đề.
Khi các em đã nắm chắc
đƣợc
nghĩa của từ,
bƣớc
tiếp theo của việc rèn
luyện năng lực từ ngữ là dạy các em cách sử dụng vốn từ đã có.
Ph
ƣ
ơng pháp rèn luyện kỹ năng sử dụng từ cho học sinh rất đa dạng
nh
ƣ
ng cách thông dụng và phù hợp nhất là yêu cầu và h
ƣ
ớng dẫn các em
làm bài tập. Các dạng bài tập rèn luyện kỹ năng dùng từ cho học sinh
th
ƣ
ờng gặp là: Điền từ vào chỗ trống (dạng bài tập điền khuyết), đặt câu
u. v
n
23
câu trong sách Tiếng Việt 3, thực trạng dạy và học phân môn này ở một số
trƣờng
tiểu học, năng lực từ ngữ của học sinh lớp 3 hiện nay.
1.2.1.
Chƣơng
trình phân môn Luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3
Môn Tiếng Việt 3 gồm 6 phân môn: Tập đọc, Kể chuyện, Chính tả,
Luyện từ và câu, Tập Viết, Tập làm văn. Phân môn Luyện từ và câu đ
ƣ
ợc
dạy mỗi tuần 1 tiết.
Nội dung chính của phân môn Luyện từ và câu ở đây là: Mở rộng vốn từ
(theo chủ điểm), từ loại, rèn luyện kỹ năng dùng từ, đặt câu, một số kiểu câu
được phân loại theo mục đích nói, một số biện pháp tu từ (so sánh, nhân hoá).
Tất cả các tiết học luyện từ và câu trong sách Tiếng Việt 3 không có
những bài học dạy riêng kiến thức lý thuyết về từ và câu mà tất cả các tri thức
về từ và câu đều
đƣợc
hình thành và củng cố thông qua việc dạy học sinh giải
các bài tập.
Tác giả Nguyễn Thị Nhẫn [25, tr.11] đã thống kê
đƣợc
126 bài tập luyện
từ và câu. Hệ thống bài tập này
đƣợc
chia thành 2 nhóm: