Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế việt nam đến năm 2030 - Pdf 13


BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CHƯƠNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
TRỌNG ĐIỂM CẤP NHÀ NƯỚC KX 01/06-10
______________________________
BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI

TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030Mã số: KX. 01.10/06-10

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS. NGUYỄN BÁ ÂN
11
1.1. Xu hướng tổng quát của bối cảnh qu
ốc tế 11
1.2. Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển mạnh với những nét mới
cả về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích
cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp
14
1.3. Sự phát triển mạnh mẽ của KHCN và cuộc cách mạng CNTT sẽ
thúc đẩy kinh tế thế giới chyển sang phát triển kinh tế tri thức; phân
công lao động qu
ốc tế theo “chuỗi giá trị” toàn cầu, tạo lợi thế phát
triển mới và thời cơ "nhảy vọt" cho các nền kinh tế đi sau
18
1.4. Hệ thống phân công lao động quốc tế và khả năng đột phá phát
triển trong “mạng sản xuất toàn cầu”, phương thức phân bổ nguồn
lực theo “chuỗi giá trị” toàn cầu phù hợp với trình độ phát triển của
kinh tế thế giới hiện nay cũ
ng như trong nhiều năm tới.
20
1.5. Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển
kinh tế toàn cầu thay đổi với sự xuất hiện những liên kết mới, kinh tế
thế giới chuyển dần sang một hệ thống kinh tế đa cực hơn.
21
1.6. Các nền kinh tế đang nổi đầu tư mạnh ra bên ngoài là xu hướng
mới của đầu t
ư quốc tế
24
1.7. Một số thách thức kinh tế lớn 25
II. TÌNH HÌNH VÀ TRIỂN VỌNG KINH TẾ THẾ GIỚI THỜI 30
2.1. Những xu thế chung của kinh tế thế giới trong 10 năm qua 30

biến tích cực
71
1.6- Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm hơn và có mặt được
cải thiện
75
1.7- Hiệu lực hiệu quả quản lý của Nhà nước được nâng lên; cải cách
hành chính đượ
c đẩy mạnh; phòng chống tham nhũng, lãng phí có
kết quả bước đầu
76
1.8- Quốc phòng, an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại được
mở rộng, vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng cao, tạo môi
trường thuận lợi để phát triển đất nước
81
II. NHỮNG HẠN CHẾ, YẾU KÉM 82
2.1. Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và sức c
ạnh tranh
của nền kinh tế còn thấp; kinh tế phát triển chưa bền vững, chậm
chuyển sang phát triển theo chiều sâu; các cân đối vĩ mô chưa thật
vững chắc
82
2.2. Kết cấu hạ tầng tuy có bước phát triển nhưng còn chậm, thiếu
đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu và đang cản trở sự phát triển
101
2.3. Thể chế kinh tế thị trường định h
ướng xã hội chủ nghĩa còn thiếu
đồng bộ, các loại thị trường chậm hoàn thiện, quản lý và điều hành
kinh tế vĩ mô có mặt còn yếu kém, chưa theo kịp yêu cầu phát triển;
sức sản xuất chưa được giải phóng mạnh mẽ
106

nước đang phát triển
130
1.3. Đối sách c
ủa Việt Nám 133
1.4. Tiềm năng, lợi thế và cơ hội phát triển của Việt Nam 134
1.5. Những cản trở và thách thức chủ yếu trên con đường CNH, HĐH
của Việt Nam
142
1.6. Các nhiệm vụ chiến lược đặt ra cho thời kỳ đến năm 2020 và tầm
nhìn đến năm 2030
146
II. ĐỀ XUẤT QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH TẾ-
XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN N
ĂM
2030
149
2.1. Tầm nhìn Việt Nam đến năm 2030 149
2.2. Các quan điểm phát triển 153
2.3. Các kịch bản phát triển đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 176
III. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
KINH TẾ
196
3.1. Về định hướng giải pháp phát triển để nâng cao chất lượng tăng
trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
196
3.2. Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao
ch
ất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại.
199
3.3. Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn theo hướng

xã hội chủ nghĩa
225
3. Nâng cao hiệu quả và đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng hiện đại có sức cạnh tranh cao trên cơ sở xây dựng nền kinh t
ế
tri thức
229
4. Phát triển doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh quốc tế 233
5. Tập trung xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với
việc phát triển công nghệ hiện đại
236
6. Tập trung cao các nguồn lực để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng
đồng bộ và hiện đại
242
7. Phát triển hài hòa các lãnh thổ 244
8. Đảm bảo nguồn lực chủ yế
u 246
9. Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế 247
10. Tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh 248
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH
250
PHỤ LỤC
255

B¸o c¸o tæng hîp §Ò tµi cÊp Nhµ n−íc: "Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam
đến năm 2030”. Mã số: KX. 01.10/06-10

1

DANH SÁCH CƠ QUAN VÀ CÁ NHÂN

9. TS. Lê Anh Sơn, Hội Khoa học kinh tế Việt Nam;
10. TS. Nguyễn Công Mỹ, Trưởng ban, Viện Chiến lược phát triển
B¸o c¸o tæng hîp §Ò tµi cÊp Nhµ n−íc: "Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam
đến năm 2030”. Mã số: KX. 01.10/06-10

2
11. TS. Đào Trọng Thanh, Cục trưởng, Cục Kế hoạch và Đầu tư Bộ Công
An;
12. TS. Lê Văn Nắp, Phó Chánh Văn phòng Điều phối các Vùng Kinh tế
trọng điểm, Viện Chiến lược phát triển;
13. TS. Cao Ngọc Lân, Phó Trưởng ban, Viện Chiến lược phát triển
14. KS. Nguyễn Bá Khoáng, Phó Vụ trưởng, Vụ Tổng hợp TCTK;
15. ThS. Nguyễn Việt Hồng, Chuyên viên Vụ ngành, Văn phòng Chính
phủ

16. CN. Trần Thị Nội, Nghiên cứu viên chính Viện CLPT;
17. TS. Lê Thị Kim Dung, Phó Vụ trưởng, Vụ Quản lý Quy hoạch, Bộ Kế
hoạch và Đầu tư;
18. TS. Lê Thanh Bình, Vụ Quản lý Quy hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư;
19. CN. Trần Đình Hàn; TCTK
20. TS. Trần Hồng Quang, Trưởng ban,Viện CLPT;
21. ThS. Nguyễn Văn Vịnh, Trưởng ban,Viện CLPT;
22. ThS. Nguyễn Quỳnh Trang, Nghiên cứu viên,Viện CLPT;
23. KTS. Lê Anh Đức, Nghiên cứu viên,Viện CLPT;
24. CN. Hoàng Hải Yến, Nghiên cứu viên, Viện CLPT
B¸o c¸o tæng hîp §Ò tµi cÊp Nhµ n−íc: "Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam
đến năm 2030”. Mã số: KX. 01.10/06-10

3
LỜI MỞ ĐẦU

ánh
giá về thành công hay thất bại của hiện trạng phát triển và những nguyên nhân
của nó đã giúp cho các nhà hoạch định chính sách có được tầm nhìn xa có căn
cứ khoa học hơn mà ngay cả những giải pháp mang tính sách lược cũng không
thể thiếu.
Qua 2 kỳ chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đất nước, qua 20 năm đổi
mới Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, vị thế Việt Nam trên bản
đồ
kinh tế, chính trị thế giới đã có nhứng bước phát triển khá. Song thành tựu đó
B¸o c¸o tæng hîp §Ò tµi cÊp Nhµ n−íc: "Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam
đến năm 2030”. Mã số: KX. 01.10/06-10

4
vẫn còn thấp so với khả năng Việt Nam có thể đạt tới và thấp xa so với yêu cầu
đặt ra của Dân tộc Viện Nam với dân số gần 100 triệu người. Do đó, vấn đề đặt
ra là làm thế nào để phải phát huy hết được lợi thế so sánh và sức mạnh của dân
tộc trong triển vọng để thu hẹp đáng kể khoảng cách về trình độ phát triển với
các nước ASEAN và Đ
ông Nam Á, để Việt Nam thật sự cất cánh trên con
đường hội nhập kinh tế quốc tế.
Để lựa chọn định hướng phát triển đất nước thời kỳ 2011 - 2020 và tầm
nhìn đến năm 2030, trước hết ta phải trả lời câu hỏi:
- Một là, thế giới hiện tại và xu thế đến năm 2030 sẽ diễn ra như thế nào?
- Hai là, Việt Nam đang đứng ở đâu trong bản đồ
kinh tế, xã hội của thế
giới? Và chúng ta sẽ thế nào đến năm 2030 so với thế giới?
- Ba là, muốn vượt lên chúng ta phải làm gì? Mô hình phát triển của Việt
Nam ra sao?
1. Tư duy phát triển của thế giới như thế nào? Thế giới hiện tại và xu
thế đến năm 2020 sẽ diễn biến ra sao?

độ để hội nhập quốc tế như: trình độ đào tạo đại học; trình độ quả
n lý vĩ mô;
trình độ khoa học kỹ thuật; …
b- Sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam thấp, nền kinh tế hiệu quả
chưa cao, biểu hiện: suất tiêu thụ điện còn rất lớn, năng suất lao động thấp, lao
động nông nghiệp còn rất lớn, chưa có nhiều sản phẩm có thương hiệu toàn
cầu…
c- Sau 20 năm đổi mới Việt Nam đã gặt hái
được nhiều thành công, từng
bước xây dựng nền kinh tế thị trường… song nền kinh tế cũng mới chỉ đạt tăng
trưởng ở mức 7 - 7,5% chưa phát huy hết tiềm năng và sức mạnh của cả Dân tộc
Việt Nam. Chất lượng tăng trưởng chưa cao, chưa bền vững, sức cạnh tranh của
nền kinh tế còn thấp, nhiều vấn đề xã hội nả
y sinh chưa được giải quyết
d- Nền hành chính nhà nước kém hiệu quả; hiệu lực quản lý Nhà nước; hệ
thống cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, cơ chế thị trường
chưa hình thành đầy đủ,…
3. Sự lựa chọn chiến lược phát triển của Việt Nam
a- Để lựa chọn chiến lược phát triển đất nước vừa mang tính kế
thừa,
nhưng phải có bước đột phá về tư duy phát triển, chúng ta phải nhìn nhận một
cách khách quan, toàn diện mọi góc độ để lựa chọn được một chiến lược phát
triển hợp lý, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc trong một vận hội mới,
đưa đất nước tiến lên.
- Trước hết phải đổi mới tư duy phát triển của chúng ta trong xu thế hội
nhập kinh tế
thế giới.
- Nhìn lại những bài học thành công của 20 năm đổi mới xây dựng đất
nước, những thành tựu về mặt chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường và ngoại
giao.

ầm nhìn dài hạn. Khó có thể kể hết những ấn phẩm,
từ các bài tạp chí đến các cuốn sách dày, đề cập đến những vấn đề ít nhiều liên
quan đến các nội dung mà đề tài đặt ra. Vì vậy, phần tổng quan này chỉ nêu một
số ấn phẩm tiêu biểu, quan trọng liên quan trực tiếp đến những nội dung chủ yếu
của đề tài mới xuất bản gần đây như nhữ
ng ví dụ.
- Đối với nội dung bối cảnh và các xu hướng phát triển chủ yếu của
kinh tế thế giới và khu vực và những tác động của chúng đối với sự phát triển
kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có:
1. Thomas l. Friedman: Thế giới phẳng - Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ
XXI. NXB Trẻ 2006. Nếu bỏ qua cách nói mang đậm chất ngôn ngữ báo chí mà
tác giả gọi là thế giới phẳng, cu
ốn sách tuyên ngôn về việc tóm lược lịch sử thế
kỷ 21 dưới hình thức dạng toàn cầu hóa 3.0, trong đó nêu ra nhiều dự báo táo
bạo về một mô hình kinh tế, xã hội, chính trị, kinh doanh hoàn toàn mới, nơi thế
giới trở thành một vật thể nhỏ bé, mọi vật kết nối chặt chẽ với nhau. Cuốn sách
tuy còn nhiều điều cần tranh luận, nhiều vấn đề còn để ngỏ, như
ng nhìn chung
cũng gợi mở nhiều vấn đề về một cách nhìn mới về các xu hướng phát triển chủ
yếu của kinh tế thế giới trong nhiều thập niên tới và những tác động của chúng
đối với sự phát triển kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam.
2. Kornai János: Hệ thống xã hội chủ nghĩa. NXB Văn hoá - Thông tin –
Hội khoa học kinh tế Việt Nam, Hà nội 2002. Cuốn sách phân tích sâu sắc cấu
trúc, sự
vận hành của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa (kiểu kế hoạch hóa tập
B¸o c¸o tæng hîp §Ò tµi cÊp Nhµ n−íc: "Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam
đến năm 2030”. Mã số: KX. 01.10/06-10

7
trung trước đây) và vạch ra nguyên nhân nội tại của yêu cầu phải thay thế nó

đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam sau 20
đổi mới, trong đó các vấn đề kinh tế như chế độ sở hữu, công nghiệp hóa, tăng
trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo,
v.v được đề cập khá đầy đủ với những nhận xét, đánh giá sâu sắc. Đề tài có thể
kế thừa những nhận xét, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế Việt Nam trong
thời kỳ đổi mới qua công trình này cũng như rất nhiều công trình đánh giá hiện
trạng về từng lĩnh vực cụ thể khác.
6. GS TS Lê Hữu Tầng – GS Lưu Hàm Nhạc (Đồng chủ biên): Nghiên
cứu so sánh đổi mới kinh tế ở Việt Nam và cải cách kinh tế ở Trung Quốc. NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002. Ở góc độ có sự so sánh giữa hai nền kinh tế
chuyển đổi nhiều điểm tươ
ng đồng cũng như không ít khác biệt Việt Nam –
B¸o c¸o tæng hîp §Ò tµi cÊp Nhµ n−íc: "Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam
đến năm 2030”. Mã số: KX. 01.10/06-10

8
Trung Quốc, cuốn sách vừa gợi nhiều suy nghĩ trong nhận xét, đánh giá cả quá
trình chuyển đổi, vừa cung cấp nhiều thông tin mang tính so sánh cặp đôi, có giá
trị tham khảo không chỉ ở nội dung phân tích, đánh giá hiện trạng; mà còn cả ở
phương pháp nghiên cứu.
- Đối với nội dung đề xuất ý tưởng và quan điểm phát triển kinh tế Việt
Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, có:
7. “Về ý tưởng chiến lược phát triển
đất nước thời kỳ đến 2020” (sắp xuất
bản) là một trong số ít công trình được xuất bản thành sách về nội dung này hiện
đang được Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia (Bộ Kế
hoạch và Đầu tư) đang chuẩn bị cho ra mắt bạn đọc. Cuốn sách tập hợp nhiều
bài nghiên cứu và đề xuất ý tưởng về chiến lược phát triển của Việt Nam thời kỳ
đến 2020 của một số học giả trong và ngoài nước. Với nội dung đề xuất ý tưởng
và quan điểm phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 mà đề

dự báo bối cảnh, điều kiện và các xu hướng vận động của kinh tế, chính trị thế
giới và khu vực tác động tới phát triển kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đến 2030;
- Xác đị
nh xuất phát điểm của Việt Nam sau 20 năm đổi mới, tổng kết
được những thành công, những hạn chế, những vấn đề bức xúc chưa được giải
quyết; tìm ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm cho triển vọng phát triển kinh
tế Việt Nam thời kỳ đến 2030.
- Đề xuất quan điểm và ý tưởng và phát triển của Việt Nam đến năm
2020, tầm nhìn 2030; định lượng những đặc
điểm cơ bản của một nước công
nghiệp vào năm 2020.
- Định hướng những nhiệm vụ và giải pháp cơ bản phát triển kinh tế Việt
Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
2. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu về các vấn đề kinh tế, xã hội của Việt Nam và xu thế của kinh
tế thế giới có liên quan đến nền kinh tế Việt Nam
3. Phạm vi nghiên cứu của đề
tài
a)- Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: Toàn bộ nền kinh tế quốc dân,
các ngành kinh tế chủ yếu của Việt Nam và xu thế chung của thế giới
b)- Phạm vi về mặt thời gian: tư liệu số liệu hiện trạng chủ yếu cho thời
kỳ 2000-2010 và định hướng phát triển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm
2030.
V. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Cách tiếp cận:
Đề tài tiếp cậ
n vấn đề cả từ phương diện lôgic (nghiên cứu lý thuyết) lẫn
lịch sử (kinh nghiệm thực tiễn), đặt kinh tế Việt Nam trong mối quan hệ với
kinh tế thế giới, coi kinh tế Việt Nam như một bộ phận hợp thành hữu cơ của
kinh tế toàn cầu; giả định thời kỳ dự báo chiến lược không có những nhân tố đột

kém và các nguyên nhân, bài học được rút ra qua quá trình tổng kết thực tiễn
phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam.
VI. KẾT CẤU BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI
Nội dung báo cáo tổng hợp được chia thành 4 phần:
Phần thứ nh
ất: Xu hướng vận động của kinh tế thế giới và tác động của
nó đến triển vọng kinh tế của Việt Nam
Phần thứ hai: Hiện trạng phát triển và xuất phát điểm của kinh tế Việt
Nam qua hơn 20 năm đổi mới – Những thành công, chưa thành công và bài học
kinh nghiệm
Phần thứ ba: Quan điểm, định hướng phát triển của Việt Nam đến năm
2020 và t
ầm nhìn đến năm 2030
Phần thứ tư: Giải pháp thực hiện định hướng kinh tế Việt Nam trong giai
đoan 2011 – 2020 và tầm nhìn 2030.
Sau đây là nội dung báo cáo kết quả nghiên cứu của đề tài.
B¸o c¸o tæng hîp §Ò tµi cÊp Nhµ n−íc: "Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam
đến năm 2030”. Mã số: KX. 01.10/06-10

11
PHẦN THỨ NHẤT
XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ
TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN TRIỂN VỌNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

I. BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA BỐI CẢNH
QUỐC TẾ
1.1. Xu hướng tổng quát của bối cảnh quốc tế
Trong những năm gần đâu xu hướng phát triển của kinh tế thế giớ
i và khu
vực có nhiều chuyển biến tác động nhiều chiều đến phát triển kinh tế-xã hội và

càng mở rộng, tiếp tục chi phối đời sống kinh tế của các nước. Châu Á- Thái
Bình Dương vẫn là một khu vực phát triển năng động, trong đó Trung Quốc và
Ấn Độ có vai trò ngày càng lớn. Sự phát triển của Trung quốc về khách quan,
vừa tạo cơ hội, vừa đặt ra những thách thức to lớn cho tiến trình phát triển của
B¸o c¸o tæng hîp §Ò tµi cÊp Nhµ n−íc: "Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam
đến năm 2030”. Mã số: KX. 01.10/06-10

12
các quốc gia, nhất là những nước có nhiều mối liên hệ trực tiếp với Trung Quốc.
Tuy nhiên, trên bình diện chung, hình thái "cân bằng và hội nhập" giữa các trung
tâm quyền lực, trong đó tam giác Trung-Nhật-Mỹ vẫn đóng vai trò chủ chốt ở
khu vực này. Các nhà phân tích chính trị nhận xét rằng, sức mạnh quân sự của
Trung Quốc đã tăng lên, nhưng cách cư xử của Trung Quốc lại tỏ ra ôn hòa hơn
trước đây. Liên minh truyề
n thống Mỹ-Nhật vẫn hết sức quan trọng đối với sự
ổn định mang tính chiến lược ở khu vực Đông Á, nhưng giờ đây, phải có đủ ba
cạnh mới tạo nên một tam giác.
Kinh tế thế giới và khu vực có khả năng từng bước phục hồi phát triển
song vẫn ẩn chứa các yếu tố bất ổn của khủng hoảng năng lượ
ng do các nước
sản xuất dầu mỏ chủ lực có thể vẫn tiếp tục ở trạng thái không ổn định, có nguy
cơ khủng bố cao, trong khi đó một số nền kinh tế có xu hướng phát triển quá
“nóng”, nhu cầu tiêu dùng về nhiên liệu quá cao. Trong thời gian nước ta chưa
đưa các cơ sở lọc - hoá dầu vào hoạt động, giá dầu lửa vẫn tiếp tục ảnh hưởng
đến sản xuất, tiêu dùng trong nướ
c.
Trong giai đoạn 2011-2020, nguồn vốn FDI vào châu Á có thể tăng lên,
tuy nhiên, dòng vốn chủ yếu vẫn tập trung vào Trung Quốc - đối thủ cạnh tranh
của các nước Đông Nam Á. Luồng vốn FDI vào nước ta có khả năng tăng do
điều kiện thu hút các tập đoàn lớn vào đầu tư từng bước được cải thiện và cạnh

tranh được trên thị trường thế giới (xuất khẩu) trước hết phải cạnh tranh được
trên thị trường trong nước (thay thế nhập khẩu). Vì vậy tiến trình công nghiệp
hoá phả
i tạo ra các sản phẩm cạnh tranh dựa trên lợi thế so sánh dài hạn và quy
mô kinh tế trên tầm nhìn liên vùng, nhằm tham gia vào các công đoạn có giá trị
gia tăng cao, có lợi nhuận lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu chưa từng có kể
từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay vừa xảy ra từ năm 2008. Cuộc suy
thoái này tác động mạnh đến mọi nền kinh tế, trong đ
ó có nước ta. Tốc độ tăng
trưởng vào những năm cuối thực hiện chiến lược 2001-2010 chậm lại, có thể
làm chiến lược mới bị mất đà. Kinh tế thế giới có thể khôi phục trong năm 2010
do quyết tâm của từng quốc gia cũng như cộng đồng thế giới. Sau khủng hoảng
tài chính - kinh tế toàn cầu, thế giới sẽ bước vào một giai đoạn phát tri
ển mới.
Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển toàn cầu thay
đổi với sự xuất hiện những liên kết mới. Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và
điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những
bước tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài
nguyên. Mặt khác, kh
ủng hoảng làm giảm mạnh thương mại, đầu tư toàn cầu và
trỗi dậy chủ nghĩa bảo hộ.
Ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đang đe doạ cuộc sống nhân loại.
Vì vậy, kế hoach phát triển kinh tế xã hội của bất cứ quốc gia nào cũng phải tính
tới yếu tố này. Trong tương lai xuất hiện khả năng mực nước biển dâng cao nế
u
quá trình hiệu ứng nhà kính vẫn sẽ tiếp tục và không được ngăn chặn thành
công, khiến trái đất tiếp tục ấm lên làm tan băng ở hai cực của trái đất. Cũng khó
dự báo mực nước biển sẽ tăng lên bao nhiêu và vào những thời điểm cụ thể nào,
nhưng nếu mức nước biển dâng cao hơn hiện tại từ 1 mét trở lên, phần đất nổi sẽ

cầu hóa. Như vậy, cũng có thể nói xu thế toàn cầu hóa kinh tế bắt nguồn từ sự
phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất
đã diễn ra quy mô toàn cầu. Toàn cầu hóa ngày nay là sản phẩm của sự phát
triển và văn minh nhân loại và do đ
ó, nó là cơ hội để mọi quốc gia đón nhận, tự
nguyện hội nhập và góp sức mình thúc đẩy sự phát triển toàn cầu. Hiện nay hầu
như không có quốc gia nào đứng ngoài làn sóng toàn cầu hóa mới. Nhu cầu tăng
cường phối hợp giữa các quốc gia để đối phó với các thách thức kinh tế toàn cầu
(nguy cơ khủng hoảng, an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu và nước biển dâng.
V.v ) cũng là độ
ng lực quan trọng thúc đẩy toàn cầu hóa kinh tế.
Toàn cầu hóa kinh tế trong thập kỷ tới có thể có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, toàn cầu hóa kinh tế được biểu hiện nổi bật ở sự gia tăng nhanh
chóng các luồng giao lưu quốc tế về thương mại, đầu tư, tài chính, công nghệ,
dịch vụ, lao động trong đó, toàn cầu hóa về tài chính là đặc trưng nổi bật chi
phối các tiến trình tự do hóa về thương mại, dịch vụ và đầu tư, tạo thành một
mạng lưới rộng khắp trên quy mô toàn cầu. Sự phát triển mạnh mẽ khoa học,
công nghệ và mức độ gắn kết, tùy thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế ngày càng
chặt chẽ làm cho thế giới ngày càng “phẳng” hơn. Kinh tế tri thức phát triển
mạnh và do đó, con người và tri thức trở thành nhân tố quyết
định sự phát triển
của mỗi quốc gia. Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể
chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa
học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên. Sự liên kết ngày
càng chặt chẽ giữa các nền kinh tế một mặt tạo ra nhiều cơ hội hợp tác phát triể
n
thương mại, đầu tư v.v Mặt khác tùy thuộc lẫn nhau khiến các biến động tiêu
cực và khủng hoảng kinh tế dễ lan tỏa và tác động sâu rộng hơn. Các thể chế tài
chính quốc gia, khu vực và thế giới gắn kết với nhau trong một thể vừa thống
nhất, vừa mâu thuẫn và chi phối lẫn nhau. Cũng chưa bao giờ, yêu cầu về cấu

chế định chính sách kinh tế mà là sự hiện diện đồng thời và ngày càng nổi bật
của 5 chủ thể cùng đảm nhận vai trò này. Đó là: quốc gia dân tộc có chủ quyền,
các khối kinh tế khu vực (ví dụ ASEAN, EU ); các thể chế kinh tế quốc tế
(IMF, WB, WTO ), các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và các tổ chức phi
chính phủ (NGOs).
+ Các công ty xuyên quốc gia với cấu trúc hoạt động theo mô hình mạng
lưới, cắm nhánh, cắm văn phòng đại diện ở tất cả các quốc gia và khu vực, tự nó
đã là những tế bào kết nối nền kinh tế thế giới thành một hệ thống toàn cầu.
Ngày nay, với tính cách là các tập đoàn kinh tế - tài chính hùng mạnh, nhiều
TNC đã có giá trị tài sản lớn hơn GDP của nhiều nước lớn.
+ Nhà nướ
c là chủ thể quan trọng nhất nắm quyền quyết định về quản lý
kinh tế vĩ mô nhằm đảm bảo lợi ích và tính tự cường quốc gia trong toàn cầu
hóa kinh tế. Nhà nước với chức năng của mình thể hiện cách thức và bước đi
của một quốc gia trong hội nhập vào làn sóng toàn cầu hóa kinh tế. Chính toàn
cầu hóa kinh tế thúc đẩy quá trình dân chủ hóa và pháp quyền hóa nhà nước bởi
chỉ có như vậ
y, nhà nước mới thể hiện được vai trò, chức năng quản lý các lĩnh
B¸o c¸o tæng hîp §Ò tµi cÊp Nhµ n−íc: "Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam
đến năm 2030”. Mã số: KX. 01.10/06-10

16
vực của đời sống xã hội, phối hợp được với các chủ thể khác nhau và tạo ra
được các điều kiện thực tế để thích ứng hiệu quả hơn với toàn cầu hóa kinh tế.
+ Các thể chế kinh tế khu vực và quốc tế đang trở thành những chủ thể
quan trọng trong các quan hệ kinh tế quốc tế và xử lý các vấn đề toàn cầu. Hầu
hết các tổ
chức, thể chế liên kết khu vực và toàn cầu đều hướng tới mục tiêu
thực hiện tự do hóa thương mại, đầu tư, dịch vụ ở những mức độ khác nhau
và đưa ra các chương trình cắt giảm, tiến tới xóa bỏ các rào cản thuế quan và

nền kinh tế và cục diện phát triển toàn cầu thay đổi với sự xuất hiện những liên
kế
t mới. Sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế đang nổi như
Nga, Braxin, Mexico, Nam Phi, v.v làm cho toàn cầu hóa kinh tế thay đổi và
giảm sự chi phối của các nước phương Tây hơn, vai trò của các nước đang phát
triển tăng lên rõ rệt. Vị thế của Châu Á trong nền kinh tế thế giới đang tăng lên.
Tương quan lực lượng kinh tế mới tạo sức ép các thể chế kinh tế
toàn cầu (LHQ,
B¸o c¸o tæng hîp §Ò tµi cÊp Nhµ n−íc: "Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam
đến năm 2030”. Mã số: KX. 01.10/06-10

17
WTO, IMF, WB, G8.v.v ) phải cải cách, điều chỉnh “luật chơi” theo hướng cân
bằng hơn quan hệ Bắc - Nam, thể hiện nhiều hơn tiếng nói của các nước đang
phát triển mà đi đầu là nhóm BRIC (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc) và nhóm
G-20. Nhiều tổ chức liên kết kinh tế khu vực (EU, MECOSUR, ASEAN, v.v )
cũng phải điều chỉnh mạnh để thích ứng với xu thế vận động của kinh tế thế giới
và khu vực. Xuất hiện ngày càng nhiều công ty đa xuyên quốc gia (MNC/TNC),
đặc biệt là các MNC/ TNC có xuất xứ từ các nền kinh tế đang nổi, thách thức và
cạnh tranh quyết liệt với các MNC/ TNC của các nước phát triển. Mặt khác,
khủng hoảng còn để lại hậu quả nặng nề, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy trở thành rào
cản lớn cho thương mại quốc tế. Kinh tế thế giới tuy đ
ã bắt đầu phục hồi nhưng
đà tăng trưởng trong những năm đầu còn yếu, độ rủi ro và tính bất định còn rất
lớn.
Thứ năm, các nền kinh tế mới nổi đang nỗ lực tranh thủ mọi cơ hội và
nhiều lợi ích của toàn cầu hóa kinh tế về khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả
nguồn vốn và công ngh
ệ mới để thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển.
Những nước không có chiến lược phát triển công nghệ phù hợp sẽ đối phó nguy

một thời đại phát triển kinh tế mới của loài người, trên phạm vi toàn thế giới -
thời đại kinh tế tri thức - toàn cầu hóa.
Đối với bước chuyển từ thời đại công nghiệp cơ khí lên thời đại kinh tế tri
thức, với lợi thế tri thức - trí tuệ con người (công nghệ cao là một dạng kết tinh
vật chất của sức mạnh này) là sự hiện diện của mộ
t lực lượng sản xuất mới về
chất, đóng vai trò quyết định quá trình phát triển của thế giới hiện đại. Trong
nền kinh tế tri thức, lợi thế phát triển cơ bản của bất cứ chủ thể kinh tế nào - nền
kinh tế quốc gia, doanh nghiệp hay cá nhân - cũng đều là trí tuệ con người,
người nào có lợi thế về tri thức và công nghệ cao, người đó sẽ thắng trong cu
ộc
đua tranh phát triển. Nói cách khác, nước nào chuyển nhanh và mạnh sang các
ngành công nghệ cao, sang việc sản xuất tri thức - công nghệ cao, nước đó sẽ tạo
ra bước tiến thần kỳ.
Cách mạng KHCN tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực
công nghệ mới: công nghệ nano, công nghệ vi sinh, công nghệ thông tin và
truyền thông, tự động hóa, năng lượng mới và vật liệu mới v.v… Sự bùng nổ
phát triển các ngành công nghệ cao, đặ
c biệt là các ngành công nghệ thông tin
và truyền thông. Sự “lên ngôi” của nền kinh tế thông tin là dấu hiệu chỉ báo rõ
nhất cho quá trình chuyển đổi thời đại công nghệ. Công nghệ cao chẳng những
đóng vai trò trụ cột và xương sống cho tiến bộ KHCN mà còn đảm bảo sức cạnh
tranh và tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế. Nó tạo thành động lực mạnh cho
sự tăng trưởng kinh tế chung, đồng thời, kết nối t
ăng trưởng toàn cầu và tạo sự
lan tỏa phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới. Sự phát triển của KHCN hướng
vào giải quyết các vấn đề năng lượng, nguyên liệu và môi trường, trong đó tập
trung giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh với sự khan hiếm và
cạn kiệt các nguồn tài nguyên, năng lượng; mâu thuẫn giữa phát triển và bảo vệ
môi trường sinh thái, ứng phó với biến

đổi căn bản nền tảng cơ sở vật chất - kỹ thuậ
t của sản xuất, mà còn làm cho nền
kinh tế thế giới với cơ cấu kỹ thuật - công nghệ mới đang có sự tiến bộ vượt bậc
trên rất nhiều lĩnh vực như: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, phát
triển các nguồn năng lượng mới và cuối cùng CNTT. Ngành CNTT tuy ra đời
không lâu chỉ vài ba thập kỷ trở lại đây, nhưng có tốc độ phát triển nhanh chóng
vào bậc nhất, góp phần quyết định cho tăng trưởng và làm chuyển dịch mạnh mẽ
cơ cấu kinh tế - xã hội. CNTT là ngành có vai trò tổng hợp trong sự tác động
giữa con người với quá trình sản xuất và các hoạt động khác; nó hỗ trợ đắc lực
cho công tác quản lý xã hội, điều khiển và ra quyết định kinh doanh; cho phép
tích hợp và phát triển các nghiên cứu khoa học cũng như phổ cập, khuyếch
trương các tri thứ
c; cuối cùng, tạo ra lợi thế cho các quốc gia về tri thức, thông
tin như là nguồn lực chủ yếu của phát triển kinh tế hiện đại.
Cùng với CNTT, các ngành công nghệ cao phát triển làm chuyển biến về
chất nền công nghiệp truyền thống thành “nền công nghiệp không khói”. Tương
ứng, nó còn làm thay đổi mô thức và bước đi của CNH: đó là CNH bắt buộc
phải gắn với hiện đại hóa, nhưng lại không nhất thi
ết phải tuần tự trải qua các
bước của con đường CNH cổ điển nặng nề và tốn kém, mà có thể rút ngắn và đi
thẳng vào phát triển các ngành công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại. Do đó, cho
phép các nước chậm phát triển có thể tăng tốc, bứt phá và thực hiện chiến lược
CNH, HĐH rút ngắn.
Trên cơ sở ứng dụng CNTT và công nghệ cao đã xuất hiện những ngành
mớ
i có nhiều giá trị gia tăng, chứa hàm lượng tri thức và tỷ lệ R&D lớn trong
sản phẩm. Tổng hợp nhiều ngành như vậy sẽ hình thành nền kinh tế tri thức: nền
kinh tế lấy việc sản xuất và lưu thông nguồn lực tri thức làm chủ đạo. Trong nền
kinh tế tri thức, sáng tạo là tối cần thiết và trở nên sôi động như: sáng tạo công
nghệ mới, sản phẩm mới, th

cho khu vực sản xuất vật chất. Nền kinh tế hiện đại không thể hoạt động, phát
triển nếu thiếu các ngành dịch vụ.
Xu thế này đặt các nước đang tiến hành CNH phải đổi mới tư duy CNH:
(i) nhanh chóng chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ mô hình phát triển truyền
th
ống chủ yếu dựa vào tăng khối lượng đầu tư, khai thác tài nguyên là chủ yếu
sang mô hình phát triển theo chiều sâu dựa chủ yếu vào tri thức, công nghệ,
nguồn nhân lực chất lượng cao và bảo vệ môi trường. (ii) Coi phát triển tri thức,
công nghệ là then chốt để thoát khỏi tình trạng kém phát triển, thu hẹp khoảng
cách phát triển. Muốn thu hẹp khoảng cách phát triển, trước hết phải rút ngắn
khoảng cách về tri th
ức và công nghệ để năng cao chất lượng tăng trưởng; đẩy
nhanh tăng trưởng GDP để rút ngắn nhanh được khoảng cách. (iii) Tích cực và
chủ động mở cửa, hội nhập quốc tế song song với đẩy mạnh cải cách trong
nước, nâng cao sức cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng là phương thức chủ
yếu của chiến lược phát triển.
1.4. Hệ thống phân công lao động quốc t
ế mới và khả năng đột phá
phát triển trong "mạng sản xuất toàn cầu", phương thức phân bổ nguồn
lực theo “chuỗi giá trị” toàn cầu phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế
thế giới hiện nay cũng như trong nhiều năm tới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status