BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH
TIỂU LUẬN: PHÂN TÍCH KHẢ NĂNG SINH LỢI
GVHD : PGS.TS Lê Thị Lanh
Nhóm Thực Hiện: Nhóm 2 & 11
Khóa : 21
Lớp : TCDN – Ngày 2
Tp.Hồ Chí Minh, tháng 5, 2013
1
Tiểu luận môn học phân tích tài chính GVDH : PGS.TS. Lê Thị Lanh
Danh sách thành viên
MỤC LỤC
1. Tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư 1
1.1 Tầm quan trọng, ý nghĩa, sự cần thiết của phân tích tỷ suất sinh lợi trên vốn
1. Phan Thị Vân Hà
2. Bùi Thị Thu Hoài
3. Nguyễn Quốc Khang
4. Lưu Thủy Thâm
5. Đỗ Thị Hà Trang
6. Phạm Thị Hồng Nhung
7. Nguyễn Ngọc Tiệp
8. Đỗ Thanh Cẩm Nhung
(Nhóm 11)
1. Đỗ Thị Hoàng Linh
2. Nguyễn Vũ Thục Nữ
3. Nguyễn Thị Thương
4. Vũ Thị Hà Thương
5. Mai Thị Quế Tâm
thu, lợi nhuận gộp và thu nhập ròng là các thước đo thành quả được sử dụng phổ biến
nhất. Tuy nhiên, không thước đo riêng rẽ nào trong các thước đo này đánh giá tốt nhất
cho thành quả toàn diện của công ty. Nguyên nhân là do chúng độc lập với nhau và
độc lập với hoạt động kinh doanh. Phân tích thành quả công ty đòi hỏi một phân tích
kết hợp. Mối quan hệ giữa thu nhập và vốn đầu tư được gọi là tỷ suất sinh lợi trên vốn
đầu tư hoặc tỷ suất sinh lợi trên đầu tư (ROI) có lẽ là thước đo đánh giá hiệu quả công
ty một cách phổ biến nhất.
Phân tích tỷ suất sinh lợi cho phép so sánh sự thành công của các công ty trong việc sử
dụng vốn đầu tư và cũng cho phép đánh giá tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư của các dự
án đầu tư khác nhau. Phân tích tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư so sánh thu nhập của
một công ty, hoặc thước đo thành quả khác, đối với quy mô và nguồn tài trợ của công
ty. Thước đo này xác định khả năng thành công của công ty, thu hút nguồn tài trợ, tái
chi trả chủ nợ và mang lại lợi nhuận cho các chủ sở hữu. Tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu
tư được sử dụng trong nhiều lĩnh vực phân tích, bao gồm:
Đo lường tính hiệu quả quản trị – Mức độ tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư chủ yếu tùy
thuộc vào kỹ năng, tài xoay xở, sự khéo léo và động cơ thúc đẩy quản trị. Tỷ suất sinh
lợi trên vốn đầu tư, đặc biệt là khi tính toán trong khoảng thời gian một năm hoặc lâu
hơn, là một thước đo thích hợp đối với tính hiệu quả của quản trị.
Đo lường khả năng sinh lợi - Tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư là một chỉ báo quan trọng
cho sức mạnh tài chính dài hạn của một công ty. Chỉ tiêu này sử dụng kết hợp cả báo
cáo thu nhập (lợi nhuận) và bảng cân đối kế toán (tài trợ) để đánh giá khả năng sinh
lợi. Thước đo khả năng sinh lợi này có một vài thuận lợi so với các thước đo sức mạnh
tài chính dài hạn khác hoặc thước đo khả nặng trả nợ vốn chỉ dựa trên các khoản mục
trên bảng cân đối kế toán. Nó có thể chuyển tải một cách hiệu quả tỷ suất sinh lợi trên
1
Tiểu luận môn học phân tích tài chính GVDH : PGS.TS. Lê Thị Lanh
vốn đầu tư dưới các góc độ tài trợ khác nhau (nợ và vốn cổ phần). Tỷ số này cũng hữu
ích trong phân tích tính thanh khoản ngắn hạn.
Chỉ tiêu để dự báo thu nhập – Thước đo này liên kết một cách hiệu quả thu nhập quá
khứ, hiện tại và tương lai với tổng vốn đầu tư. Tỷ số này nhận diện được các dự báo
suất sinh lợi trên vốn đầu tư được xem xét như là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản
(ROA).
Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) là một thước đo thích hợp cho tính hiệu quả
của hoạt động kinh doanh. Tỷ số này phản ánh lợi nhuận của công ty được sinh ra từ
tổng tài sản (nợ cộng vốn cổ phần). Do không phân biệt lợi nhuận được tạo ra từ
nguồn tài trợ nào nên thước đo này chỉ tập trung vào đánh giá hoặc dự báo thành quả
hoạt động. Khi lấy tổng tài sản làm cơ sở để tính tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư đôi
khi phải thực hiện một số điều chỉnh:
- Điều chỉnh tài sản không hoạt động: loại bỏ các khoản đầu tư vào các chứng khoán
thị trường và các khoản tiền mặt vượt trội từ vốn đầu tư. Việc điều chỉnh này nhằm tập
trung phân tích vào các tài sản hoạt động và tách biệt phân tích hoạt động kinh doanh
khỏi các hoạt động tài chính của công ty. Ngoài ra, cần loại bỏ những tài sản vì một lý
do nào đó tại thời điểm phân tích không tham gia vào hoạt động của doanh nghiệp
như: tài sản chờ thanh lý, những tài sản không phù hợp với hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp.
- Điều chỉnh tài sản vô hình: có quan điểm cho rằng nên loại trừ các tài sản vô hình ra
khỏi vốn đầu tư vì có các nghi vấn liên quan đến giá trị hoặc giả định là bản chất tài
sản vô hình có các đặc điểm khác hơn tài sản hữu hình. Mặc dù vậy, việc loại trừ các
tài sản vô hình ra khỏi vốn đầu tư một cách hoàn toàn không được lý giải thuyết phục
vì chúng đại diện cho các đầu tư có giá trị bất chấp bản chất vô hình.
- Điều chỉnh khấu hao tích lũy: cộng lùi khấu hao tích lũy vào tài sản đã khấu hao. Vì
tài sản cố định được duy trì trong điều kiện hoạt động cơ bản trong suốt đời sống hữu
ích của chúng nên đánh giá trên tài sản ròng là không hợp lý. Hơn nữa nếu khấu hao
tích lũy không được cộng lùi thì thu nhập cao có thể do vốn đầu tư thấp. Tuy nhiên,
đối với phân tích toàn công ty, tốt hơn là không cộng lùi khấu hao vào vốn đầu tư.
Điều này nhất quán với việc tính toán thu nhập ròng và chi phí khấu hao.
3
Tiểu luận môn học phân tích tài chính GVDH : PGS.TS. Lê Thị Lanh
* Vốn cổ phần
Nếu đứng trên quan điểm của chủ sở hữu của công ty muốn xem xét nguồn vốn mình
khoản lãi vay và cổ tức cổ phần ưu đãi. Nếu cổ tức cổ phần ưu đãi được tích lũy, chúng
được khấu trừ khi tính thu nhập cho dù các cổ tức này có được công bố hay không bởi
lẽ quyền của cổ phần thường thấp hơn cổ đông ưu đãi.
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần phải phản ánh tất cả chi phí hợp lý gồm cả thuế thu
nhập. Thuế thu nhập làm giảm thu nhập của công ty nên chúng ta phải tính đến thuế
khi tính thu nhập, đặc biệt là tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần của cổ đông.
Phân tích tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư sử dụng các báo cáo tài chính như là điểm
khởi đầu. Nhiều con số kế toán đòi hỏi điều chỉnh phân tích. Bất kỳ tác động của các
điều chỉnh là như thế nào, phân tích tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư cũng nên sử dụng
các báo cáo tài chính đã điều chỉnh thích hợp.
1.3. Tính toán tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư.
Xem xét dựa trên 2 quan điểm: Xem xét vốn đầu tư là nguồn hình thành nên tài sản
( ROA) và xem xét trên quan diểm chủ sở hữu của công ty (ROCE).
1.3.1. Tỷ suất sinh lợi trên tài sản (ROA)
Tính toán tỷ suất sinh lợi khi vốn đầu tư được xem là độc lập với các nguồn tài trợ, sử
dụng nợ và vốn cổ phần (tổng tài sản).
TSSL trên TS
(ROA)
=
LN sau thuế + lãi vay (1- thuế suất) + lợi ích của cổ đông thiểu số
(Tài sản đầu kỳ + Tài sản cuối kỳ)/2
Trong phân tích tài chính, ROA được chia thành 2 bộ phận là tỷ suất sinh lợi trên
doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản.
TSSL trên tài sản = TSSL trên doanh thu x Hiệu suất sử dụng tài sản
ROA = ROS x Hiệu suất sự dụng tài sản
Lợi nhuận
=
Lợi nhuận
X
Doanh thu thuần
mặt
Khoản
phải
thu
Hàng
tồn
kho
Khác Tài
sản
cố
định
Tài sản vô
hình và
những tài
sản khác
+
+
+
+
Tiểu luận môn học phân tích tài chính GVDH : PGS.TS. Lê Thị Lanh
Mối quan hệ giữa thu nhập và doanh thu được gọi là tỷ suất sinh lợi trên doanh thu
(ROS) và đo lường khả năng sinh lợi của công ty trên mức doanh số đạt được 1 đồng
doanh thu thì tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận. Doanh số trên tài sản được gọi là hiệu
suất sử dụng tài sản và đo lường tính hiệu quả trong việc tạo ra doanh thu từ tài sản và
việc sử dụng tài sản hiệu quả như thế nào.
1.3.1.1 Mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài
sản:
Bảng 1.1: Phân tích tỷ suất sinh lợi trên tài sản
Chỉ tiêu Công ty X Công ty Y Công ty Z
Doanh thu thuần(tỷ đồng) R 10 20 20
ty Y trong hình thành điểm X và Y. Các điểm còn lại từ điểm A đến điểm P là sự kết
hợp của tỷ suất sinh lợi trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản của các công ty
khác.
7
Tiểu luận môn học phân tích tài chính GVDH : PGS.TS. Lê Thị Lanh
Công ty B và công ty C phải tập trung vào việc khôi phục lại khả năng sinh lợi. Công
ty P nên tập trung vào việc gia tăng hiệu suất sử dụng tài sản trong khi công ty A nên
tập trung vào tăng tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu. Các công ty khác như H và I tốt nhất
là nên tập trung vào cả hai: tỷ suất sinh lợi trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản.
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản lại có tương tác với nhau.
Đặc biệt là khi các chi phí cố định khá lớn, hiệu suất sử dụng tài sản cao hơn sẽ làm
tăng tỷ suất sinh lợi trên doanh thu. Khi so sánh các công ty trong ngành, chúng ta phải
xem xét các công ty có hiệu suất sử dụng tài sản thấp là những công ty có khả năng
tiềm ẩn gia tăng tỷ suất sinh lợi thông qua tăng hiệu suất sử dụng tài sản (mở rộng
doanh thu).
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu: Được xem xét nhầm đánh giá với 1 đồng doanh thu
doanh nghiệp tạo ra thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận. Việc xem xét yếu tố này xem xét
doanh nghiệp đang quản trị chi phí của mình hiệu quả hay không hiệu quả.
Phân tích hiệu suất sử dụng tài sản: Doanh thu/Tài sản
Tài sản: tiền mặt, khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản cố định.
8
Tiểu luận môn học phân tích tài chính GVDH : PGS.TS. Lê Thị Lanh
Doanh thu trên tiền mặt: Số vòng quay tiền mặt quá cao có thể do thiếu hụt tiền
mặt, dấu hiệu của hiện tượng khủng hoảng tính thanh khoản. Số vòng quay tiền mặt
thấp có thể là dấu hiệu của thặng dư tiền mặt. Tuy nhiên điều này còn tùy thuộc vào
đặc thù của công ty. Do đó khi phân tích chỉ số này chúng ta cần phải nắm rõ đặc thù
ngành nghề kinh doanh của công ty.
Doanh thu trên khoản phải thu: Độ lớn của khoản phải thu biến động theo doanh
thu. Vòng quay các khoản phải thu thấp có khả năng do chính sách nới lỏng quá mức,
khách hàng không có khả năng chi trả…Vòng quay các khoản phải thu cao ngụ ý về
triển, giảm các bộ phận hỗ trợ và những công việc không cần thiết).
Số vòng quay tổng tài sản
Muốn tăng vòng quay tổng tài sản thì nhà quản lý cần lượng tài sản mà họ kiểm
soát ở mức thấp hơn, trong khi vẫn duy trì hoặc tăng doanh thu. Nhà quản lý có những
quyết định trong phạm vi đơn vị mình để cải thiện số vòng quay tổng tài sản như: có
kế hoạch thúc đẩy việc thu hồi công nợ để giảm các khoản phải thu, giảm mức tồn kho
nguyên liệu, thành phẩm, công cụ, đồng thời sắp xếp lại dây chuyền sản xuất để loại
bỏ bớt máy móc thiết bị không cần thiết… như vậy tăng vòng quay tổng tài sản sẽ góp
phần cải thiện được ROA.
Tăng tỷ suất sinh lợi trên doanh thu và tăng vòng quay tổng vốn
Nhà quản lý quyết định kết hợp cả 2 chương trình cắt giảm chi phí và tăng vòng
quay tổng tài sản thì ROA sẽ tăng lên.
Những phân tích trên cho thấy nhà quản lý đơn vị A có thể cải thiện ROA trong
ngắn hạn bằng cách tăng tỷ suất sinh lợi trên doanh thu, số vòng quay tổng tài sản hoặc
cả hai. Trong kinh doanh, nhà quản lý ra các quyết định để cải thiện các chỉ tiêu dùng
để đánh giá kết quả hoạt động của họ, tuy nhiên chỉ chú tâm đến các kết quả trong
ngắn hạn có thể không có lợi trong dài hạn.
1.3.1.3. Nhược điểm khi dùng ROA để đánh giá khả năng sinh lời
Nếu dùng ROA để đánh giá sẽ khiến nhà quản lý tìm cách gia tăng lợi nhuận cao
nhất và sử dụng ít tài sản nhất, muốn vậy họ có động cơ gia tăng tử số (lợi nhuận) và
giảm bớt mẫu số (tài sản) của ROA. Điều này dẫn đến khích lệ các quyết định trong
ngắn hạn, nhưng có thể dẫn đến hậu quả không tốt về hoạt động của công ty trong dài
hạn.
10
Tiểu luận môn học phân tích tài chính GVDH : PGS.TS. Lê Thị Lanh
Theo phân tích trên, doanh nghiệp cắt giảm chi phí thì có thể hy sinh các hoạt động
đầu tư trong tương lai như chi phí nghiên cứu phát triển, thay đổi phương pháp khấu
hao. Điều này cải thiện được lợi nhuận hoạt động trong kỳ nhưng sẽ làm giảm khả
năng cạnh tranh của sản phẩm, mất thị phần và giảm khả năng sinh lợi trong tương lai.
Nhà quản lý cũng có thể cắt giảm chi phí trong năm bằng cách cắt giảm chi phí bảo
định giá của công ty và khả năng kiểm soát chi phí hoạt động. TSSL trên doanh thu
khác nhau rất lớn giữa các ngành phụ thuộc vào tính chất sản phẩm và chiến lược canh
tranh của công ty.
Hiệu suất sử dụng tài sản phản ánh doanh số tạo ra trên mỗi đồng tài sản được sử dụng
hoặc vòng quay tài sản.
TSSL trên doanh thu và vòng quay tài sản có khuynh hướng thay đổi ngược nhau. Các
công ty có lợi nhuận biên cao thường có vòng quay tài sản thấp và ngược lại. TSSL
trên doanh thu cao hay thấp không nhất thiết là tốt hơn hoặc tệ hơn so với công ty
khác- nó phụ thuộc vào hiệu ứng kết hợp giữa lợi nhuận biên và vòng quay tài sản.
Đòn bẩy thứ ba tác động đến ROCE là đòn bẩy tài chính. Là tỷ số đòn bẩy của cổ
đông thường đo lường phần tài sản được tài trợ bởi cổ đông thường. Tỷ số đòn bẩy
càng lớn thì phần tài sản do cổ đông thường tài trợ càng nhỏ và đòn bẩy tài chính càng
cao. Một công ty tăng mức đòn bẩy khi tăng tỷ lệ nợ so với vốn chủ sở hữu nhằm tài
trợ cho các hoạt động kinh doanh. Không giống như TSSL trên doanh thu và tỷ số
vòng quay tài sản, nói chung là càng cao càng tốt, đòn bẩy tài chính không phải là yếu
tố mà các nhà quản trị muốn đạt mức cao, mặc dù điều này vẫn có thể làm tăng ROCE.
Thay vào đó, thách thức của đòn bẩy tài chính là tạo ra cân bằng giữa lợi nhuận và chi
phí tài trợ nợ. Khi một công ty có được mức ROCE cao bất thường, các đối thủ cạnh
tranh sẽ bị cuốn hút vào thành quả đặc biệt này. Khi đối thủ tham gia vào thị trường,
mức độ cạnh tranh cao sẽ khiến ROCE của công ty thành công trở về mức trung bình.
Ngược lại, nếu ROCE thấp bất thường sẽ loại bỏ các đối thủ cạnh tranh tiềm năng và
giúp công ty khôi phục.
LN sau thuế - Cổ tức
cổ phần ưu đãi
=
LN sau thuế - Cổ
tức cổ phần ưu đãi
x
Doanh thu
thuần
phần ưu đãi
Mục tiêu chia tách TSSL trên doanh thu là tách biệt TSSL trên doanh thu trước
thuế, thước đo tính hiệu quả hoạt động, khỏi tỷ lệ giữ lại thuế, thước đo tính hiệu quả
quản lý thuế.
1.3.2.2. Chia tách chi tiết ROCE
EBIT = Lợi nhuận sau thuế + Lãi vay + Thuế
Trong đó EBIT là thu nhập trước thuế và lãi vay. Sau đó chúng ta sử dụng thành
phần sau thuế và gộp chúng vào ROCE, ta có công thức:
ROCE= ((Tỷ suất sinh lợi EBIT trên doanh thu x Hiệu suất sử dụng tài sản)- Gánh
nặng lãi vay ) x Đòn bẩy x Tỷ lệ giữ lại thuế
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu = EBIT / Doanh thu thuần
Gánh nặng lãi vay (đôi khi được gọi là số vòng quay lãi vay) = Lãi vay / Tài sản
bình quân.
Các thành phần khác đã được định nghĩa trước đó. Gánh nặng lãi vay đôi khi được
gọi là số vòng quay lãi vay. Điều này xuất phát từ quan điểm cho rằng gánh nặng lãi
vay càng cao thì ROCE càng thấp, mức giữ lại thuế càng cao thì ROCE càng cao.
1.3.2.3. Đánh giá tăng trưởng vốn cổ phần thường
Tốc độ tăng trưởng
VCP
=
(Lợi nhuận sau thuế - cổ tức CP ưu đãi – cổ tức CP Thường)
VCP thường bình quân
Tỷ lệ tăng trưởng VCP bền vững = ROCE x (1-Tỷ lệ chi trả cổ tức)
Như vậy tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả
năng sinh lợi của một doanh nghiệp. Việc xem xét tỷ suất sinh lợi trên vốn đầu tư
chúng ta sẽ xem xét dựa trên 2 tiêu chí (tuy theo quan điểm của mội nhà phân tích) là
ROA, ROCE (tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phẩn thường) hay ROE (tỷ suất sinh lợi trên
vốn cổ phần).
13
Tiểu luận môn học phân tích tài chính GVDH : PGS.TS. Lê Thị Lanh
• Củng cố thị trường phía Nam và từng bước phát triển thị trường phía Bắc thông
qua việc thành lập Chi nhánh, nhà xưởng sản xuất tại miền Bắc. Mục tiêu trong
tương lai xây dựng thương hiệu nhựa Bình Minh được tất cả người tiêu dùng
VN biết đến.
• Bổ sung thêm ngành nghề kinh doanh như xây dựng, cho thuê văn phòng
nhằm khai thác tối đa tiềm năng về những bất động sản mà Công ty hiện đang
quản lý và phân tán ngành nghề kinh doanh để chia sẻ rủi ro.
Năng lực công ty:
• Sản phẩm của Công ty được phân phối thông qua hệ thống đại lẻ bán lẻ (chiếm
khoảng 90% tổng doanh thu) bao gồm 4 nhà phân phối và 90 nhà bán lẻ. Hệ
thống bán hàng của Công ty bao phủ gần như toàn bộ khu vực miền Trung trở
vào và đang mở rộng ra miền Bắc với việc xây dựng nhà máy mới tại Khu công
nghiệp Phố Nối - Hưng Yên. Tổng công suất thiết kế của BMP khoảng 70.000
tấn/năm, trong đó công suất của nhà máy miền Nam đặt tại Bình Dương là
45.000 tấn/năm.
• Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh tiền thân là Nhà máy Công tư Hợp doanh
Nhựa Bình Minh thành lập năm 1977. Năm 2003 chuyển sang hoạt động theo
mô hình cổ phần. Nhựa Bình Minh là doanh nghiệp nhựa hàng đầu tại Viêt
nam chuyên sản xuất các sản phẩm ống PVC cứng, PEHD(ống gân và ống
trơn), phụ tùng ống, bình phun thuốc trừ sâu, nón bảo hộ lao động và các sản
15
Tiểu luận môn học phân tích tài chính GVDH : PGS.TS. Lê Thị Lanh
phẩm nhựa kỹ thuật khác trên các dây chuyền thiết bị hiện đại của các hãng nổi
tiếng như KraussMaffei, Cincinnati, Corma.
Vị thế của công ty:
• Sản phẩm chủ lực của Công ty là sản phẩm ống nhựa. Với ưu thế về bề dày
thương hiệu trên 35 năm, tên tuổi đã được khẳng định, chất lượng sản phẩm
cao, máy móc thiết bị hiện đại luôn đáp ứng nhu cầu thị trường về số lượng lẫn
chất lượng, Nhựa Bình Minh hầu như đã chiếm vị thế độc tôn trong thị trường
ống nhựa từ khu vực Miền Trung trở vào.
chưa thể điều chỉnh tương ứng.
• Cạnh tranh không lành mạnh: Công ty có được thị trường tiêu thụ rộng lớn
nhưng vẫn có rất nhiều đối thủ cạnh tranh với quy mô lớn, nhỏ khác nhau.
Ngoài ra Công ty còn phải đối mặt với sự cạnh tranh không lành mạnh, hàng
giả, hàng nhái và hàng từ Trung Quốc.
2.2. Phân tích khả năng sinh lợi của công ty cổ phần nhựa Bình Minh (BMP) giai
đoạn năm 2008-2012:
Hiệu suất sử dụng tài sản
17
Tiểu luận môn học phân tích tài chính GVDH : PGS.TS. Lê Thị Lanh
Tỷ suất sinh lợi trên doanh thu
Dựa vào biểu đồ trên có thể thấy công ty BMP đang hoạt động rất hiệu quả với tỷ suất
sinh lợi trên doanh thu và hiệu suất sử dụng tài sản so với trung bình ngành là cao hơn.
Tuy nhiên nếu so sánh với đối thủ cạnh tranh lớn là NTP thì BMP được đánh giá cao
hơn so với NTP khi BMP có hiệu suất sử dụng tài sản là 1.43 còn NTP là 1.48 nhưng
BMP có tỷ suất sinh lợi trên doanh thu cao hơn nhiều so với NTP, cụ thể tỷ suất sinh
lợi trên doanh thu của BMP là 18%, NTP là 14.7%. Do đó, ROA của BMP cao hơn
NTP, nghĩa là BMP sử dụng tài sản của mình hiệu quả hơn NTP.
MÃ CK ROS HSSDTS ROA
BMP 17.6% 1.43 25.3%
NTP 14.6% 1.49 21.8%
DNP 3.8% 1.28 4.9%
DPC 6.4% 1.72 11.0%
2008-2012
Nguồn: cophieu68.com
Dựa vào những phân tích trên có thể thấy BMP muốn tăng thêm ROA thì phải gia tăng
hiệu suất sử dụng tài sản. Trong phần này chúng tôi muốn phân tích sâu hơn hiệu suất
sử dụng tài sản của công ty BMP hiện nay thế nào và những yếu tố cần để hiệu suất sử
dụng tài sản có thể gia tăng.
Nguồn: cophieu.68
trong tương lai. Tuy nhiên chi phí lưu trữ cũng là yếu tố quan trọng nên BMP không
nên để lượng hàng tồn quá lớn.
NTP hiện tại có hiệu suất sử dụng tài sản cố định thấp hơn BMP, vì NTP đang có nhiều
dự án đầu tư nâng cấp dây chuyền sản xuất như áp dụng công nghệ mới của Úc để sản
xuất ống PEHD và PVC và có 3 nhà máy hoạt động nằm ở Hải Phòng, Bình Dương và
Lào trong đó dự án nhà máy An Đả 2 đang được triển khai với quy mô hoạt động dự
kiến gấp 4 lần so với nhà máy hiện tại với diện tích là 136000 m2 và một nhà máy đặt
tại Nghệ An với diện tích là 45000m2. BMP hiện tại có 2 nhà máy ở phía Nam và 1
nhà máy ở phía Bắc chính thức hoạt động trong năm 2007 với diện tích là 40000m2 và
một nhà máy tại Long An đã hoạt động vào năm 2010, sản xuất thành công trước NTP
ống nhựa HPDE cao cấp. Có thể thấy NTP hiện đang có nhiều dự án lớn đang triển
khai nên công suất hoạt động của công ty này vẫn chưa khai thác hết tối đa, nếu tất cả
các nhà máy này đi vào hoạt động thì năng suất và sản lượng của NTP có thể vượt qua
BMP, doanh thu sẽ tăng nhanh hơn. Do đó, để tăng doanh thu của mình BMP cần đầu
tư vào tài sản cố định, cụ thể là dây chuyền sản xuất sản phẩm nhựa cao cấp mới đủ
sức cạnh tranh với NTP trong tương lai.
Tín dụng thương mại có tầm quan trọng rất lớn với công ty, đây là nguồn không tốn
chi phí lại giảm được khoản tiền bỏ vào nguồn vốn luân chuyển. Doanh thu trên nợ
ngắn hạn phản ánh chỉ tiêu trên, BMP có tỷ lệ này thấp hơn nhiều so với NTP, nghĩa là
công ty chưa tận dụng khoản này nhằm giảm chi phí sử dụng vốn của công ty.
Từ báo cáo tài chính của công ty, chúng tôi tính toán được ROCE của BMP từ giai
đoạn 2008 -2012:
ROCE (36%) của BMP cao hơn so với ROA (25%) và lãi suất cho vay trên thị trường
(12%-18%), cho thấy đồng vốn mà cổ đông bỏ ra thu lại nhuận là cao và hiệu quả, tình
hình kinh doanh khả quan.
Ngoài ra chúng ta cũng có công thức khác tính ROCE
ROCE = ROA x (1+ tổng nợ/VCSH)
2008-2012
MÃ CK ROA Hệ số ROCE
BMP 25.1% 0.32 33.2%
đề đáng nói trong sản xuất kinh doanh. Và điều này làm giảm khả năng sinh lợi trên
vốn chủ sỡ hữu của công ty (28.4%>27.5%)
Như vậy, BMP hiện tại có tỷ suất sinh lợi trên tài sản đang ở mức trên trung bình
ngành cùng với NTP. Tuy BMP hiện đang quản lý chi phí và sử dụng tài sản tốt hơn
NPT. Nhưng hiện tại NTP đang trong giai đoạn đầu tư nhiều nhà máy lớn nên công
suất hoạt động trong tương lai là rất lớn. BMP cần nên có thêm các dự đầu tư phát
triển dây chuyền sản xuất, công nghệ; nâng hệ số đòn bẩy tài chính cao hơn và tăng số
vòng quay các khoản phải thu nhằm tăng thêm nguồn tiền đầu tư vào tài sản cố định và
giảm thiểu rủi ro bị chiếm dụng vốn.
Tóm lại, việc phân tích khả năng sinh lợi của một doanh nghiệp sẽ cho chúng ta một
21
Tiểu luận môn học phân tích tài chính GVDH : PGS.TS. Lê Thị Lanh
cái nhìn khái quát hơn về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của nó. Cho chúng
ta biết yếu tố nào đang tác động đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp và để cải
thiện tỷ suất sinh lợi của mình thì doanh nghiệp nên làm gì và làm như thế nào. Ngoài
ra, trong quá trình phân tích ta thực hiện so sánh với ngành với đối thủ cạnh tranh cho
chúng ta biết chúng ta đang ở đâu, đang mạnh hay yếu hơn đối thủ với ngành ở điểm
nào.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Sách Quản trị tài chính của TS Nguyễn Thanh Liêm, Ths Nguyễn Thị Mỹ
Hương- Nhà xuất bản thống kê.
- Sách phân tích báo cáo tài chính của TS Phan Đức Dũng- Nhà Xuất bản
thống kê.
- Sách phân tích tài chính của TS Nguyễn Thị Ngọc Trang- Nguyễn Thị Liên
Hoa- Nhà Xuất bản lao động.
22