TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TỀ HUẾ
KHOA KỂ TOÁN – TÀI CHÍNH
THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
ẢNH HƯỞNG CỦA THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG
ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: Mai Lê Thanh Trúc
Thực hiện: - Bùi Thị Anh
- Nguyễn Công Duật
- Nguyễn Thị Khánh Huyền
- Phan Thị Quỳnh Nhi
- Trần Thị Thanh Thủy
- Nguyễn Sơn Trà
Huế, 2011
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
1
Tài chính tiền tệ
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
I. Mở đầu
Thông tin bất cân xứng là một trong những nguyên nhân gây nên thất bại thị trường, trạng
thái mà ở đó thị trường không đạt được sự phân phối các nguồn lực tối ưu.
Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào những
năm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiện
năm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence và
Joseph Stiglitz cùng vinh dự nhận giải Nobel kinh tế.
George Akerlof đã lần đầu tiên nêu lên khái niệm “thông tin bất cân xứng” trong nghiên cứu
của mình về thị trường mua bán ô tô cũ tại Mỹ, nơi mà ông gọi là “Lemon Market”. Từ việc
phát triển lý thuyết mà Akerlof nêu ra, các nhà kinh tế học Michael Spence và Joseph Stiglitz
đã phân tích biểu hiện cũng như biện pháp khắc phục vấn đề thông tin bất cân xứng trong thị
hơn có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều
thông tin hơn cũng sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao
dịch.
Hai hành vi phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi (adverse
selection) và tâm lý ỷ lại (moral hazard). Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi ký
kết hợp đồng của bên có nhiều thông tin có thể gây tổ hại cho bên ít thông tin hơn. Tâm lý ỷ
lại là hành động của bên có nhiều thông tin hơn thực hiện sau khi ký kết hợp đồng có thể gây
tổn hại cho bên có ít thông tin hơn.
2. Hai hệ quả của thông tin bất cân xứng
3
Tài chính tiền tệ
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
2.1Lựa chọn bất lợi
2.1.1 Khái niệm lựa chọn bất lợi
Lựa chọn bất lợi (hay còn gọi là lựa chọn ngược, lựa chọn trái ý, lựa chọn đối nghịch) là kết
quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện giao dịch hay nói cách khác trước
khi ký hợp đồng
Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi thực hiện giao dịch mà bên có nhiều thông tin
có thể gây ra tổn hại cho bên có ít thông tin hơn.
Lựa chọn bất lợi là trục trặc của yếu tố cơ hội chủ nghĩa trước hợp đồng; nó nảy sinh vì thông
tin riêng mà người thực hiện "giao dịch" có trước khi họ ký hợp đồng, trong lúc đang tính
toán xem việc thực hiện "giao dịch" thì có lợi hay không.
Lựa chọn bất lợi là kết quả của thông tin bị che đậy, nó xảy ra trước khi thực hiện giao dịch
hay nói cách khác trước khi ký hợp đồng.
4
Tài chính tiền tệ
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
Lựa chọn bất lợi là một tình trạng kinh tế có thể nảy sinh do tồn tại tình trạng thông tin bất
cân xứng, người lựa chọn thứ tốt lại chọn phải thứ không tốt.
Trong điều kiện thông tin đối xứng, các bên trong giao dịch nắm thông tin ngang nhau và đầy
cố gắng để khỏi bị hớ bằng cách chọn mua các
hàng hóa cũ giá trung bình với lập luận rằng
trong trường hợp bị mắc lừa thì cũng không đến
nỗi thiệt hại lắm. Hậu quả là, cả hàng hóa cũ chất
lượng tốt và giá cao với hàng hóa mất chất lượng
được bán với giá cao như của hàng còn tốt đều
khó bán được. Xét trên bình diện toàn xã hội, cả
người bán lẫn người mua đều không được lợi;
phúc lợi xã hội bị giảm. Đây là một minh chứng của việc cơ chế thị trường không phải lúc
nào cũng tối đa hóa phúc lợi. Nói cách khác, đây là một thất bại thị trường.
b) Lựa chọn bất lợi trong thị trường lao động
Trong thị trường lao động, việc thuê lao động là một quyết định đầu tư không chắc chắn. Tính
không chắc chắn ở đây là việc thuê lao động mà người tuyển dụng không biết được khả năng
đóng góp, khả năng tạo ra năng suất của người lao động là bao nhiêu. Vì thế việc thuê lao
động có thể thuê được lao động có chất lượng hoặc không. Kết quả là cả người lao động có
trình độ thấp và trình độ cao đều được thuê với mức lương trung bình. Với mức lương đó,
người lao động có trình độ cao trở nên khó tìm việc hơn do tính cạnh tranh cũng như mức
6
Tài chính tiền tệ
Trong quá trình nghiên cứu tình huống
mua bán xe Ô tô trên thị trường, Akerlof
giả định rằng: xác suất để mua xe tốt là q
thì xác suất mua xe xấu là (1-q) (thị
trường được phân loại xe tốt và xấu). Khi
đó mức giá trung bình(P) được giả định
mua xe là:
P = P
1
q + P
2
c) Lựa chọn bất lợi trong thị trường bảo hiểm
Trong thị trường bảo hiểm, bên cung cấp dịch vụ bảo hiểm chấp nhận mức trả bảo hiểm cao
cho khách hàng ít nguy cơ. Song họ lại có ít thông tin về thứ họ được đề nghị bảo hiểm hơn
so với người mua bảo hiểm. Nếu người mua bảo hiểm cung cấp những thông tin không trung
thực, thì công ty bảo hiểm có thể sẽ ký hợp đồng trả tiền cao cho đối tượng bảo hiểm nhiều
nguy cơ. Ví dụ, người mua bảo hiểm nhân thọ có thể dấu thông tin về tình trạng sức khỏe tồi
(ung thư) của mình, cam đoan với công ty bảo hiểm rằng mình có sức khỏe tốt, dẫn tới công
ty bảo hiểm có thể đi ký hợp đồng bảo hiểm nhân thọ cho một người sắp chết.
Một kết quả tương tự cũng có thể xảy ra theo chiều hướng ngược lại. Nhà bảo hiểm vì một lẽ
gì đó không cung cấp đầy đủ thông tin cho người được bảo hiểm (có thể do ý nghĩ người
được bảo hiểm đã hiểu rõ về loại sản phẩm bảo hiểm đó rồi hay cũng có thể do cố tình che
dấu những hạn chế của hợp đồng bảo hiểm đó) trong khi người được bảo hiểm lại hiểu theo
một nghĩa khác về ngôn từ, điều khoản bảo hiểm do tính khó hiểu của bảo hiểm, vì thế xuất
hiện mâu thuẫn về thông tin. Kết quả là người mua bảo hiểm có thể lựa chọn những nhà cung
cấp bảo hiểm không thực sự uy tín do những công ty này cung cấp thông tin không đầy đủ
(vô ý hoặc cố ý) cho người mua.
Dù xảy ra theo chiều hướng nào thì bên có ít thông tin đều vấp phải sự lựa chọn đối nghịch do
vấn đề thông tin bất cân xứng gây ra.
d) Lựa chọn bất lợi trong thị trường chứng khoán
Điều mà bất kỳ nhà đầu tư nào cũng mong muốn là lợi nhuận, đối với thị trường chứng khoán
lợi nhuận được thể hiện thông qua việc mua cổ phiếu giá thấp bán với giá cao (lợi vốn) hoặc
đạt được giá trị cổ tức (lợi tức) kỳ vọng mà nhà đầu tư dự kiến. Nếu kết quả đầu tư của nhà
đầu tư không hiệu quả tức nhà đầu tư vi phạm những điều đã nói trên, thì ít nhiều đã tồn tại
thông tin bất cân xứng trong hoạt động đó và hệ quả của nó là chi phí lựa chọn bất lợi mà nhà
đầu tư phải gánh chịu.
7
Tài chính tiền tệ
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
Thông thường trong hoạt động mua bán,
người bán là người nắm rõ thông tin về sản
8
Tài chính tiền tệ
Định giá cổ phiếu bằng giá trị tài sản: Giá cổ
phiếu bằng giá trị tài sản ròng chia cho
tổng số cổ phiếu phát hành
Định giá cổ phiếu theo cổ tức: Giá cổ phiếu
bằng D
1
/r hoặc D
1
/(r-g). Trong đó D
1
là
cổ tức năm 1, r là suất chiết khấu, g tốc
độ tăng trưởng đều của cổ tức.
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
- Thứ hai, phải có một cơ sở nào đó để tạo ra trao đổi có lợi hay một hình thức hợp tác
khác nhau giữa các cá nhân (tức là có lý do để đồng ý giao dịch) từ đó làm lộ ra mâu
thuẫn về quyền lợi;
- Thứ ba là phải tồn tại những khó khăn trong việc xác định xem các điều kiện thỏa thuận
có đúng là được tuân thủ và thực hiện hay không.
2.2.2 Biểu hiện của tâm lý ỷ lại
Với ba điều kiện cho sự tồn tại của tâm lý ỷ lại, biểu hiện của nó có thể được nhận thấy trong
các thị trường mà tại đó các điều kiện thỏa thuận trong giao dịch cần có thời gian để thực
hiện, tức là những thị trường có độ trễ về thời gian giữa việc ký kết hợp đồng và việc thực
hiện hợp đồng.
a) Tâm lý ỷ lại trong thị trường lao động
Ở thị trường lao động, khi tuyển dụng lao động, ta nhận được những bản đăng kí rất hấp dẫn
từ phía những người đi xin việc. Xét duyệt những bản đăng kí đó ta chọn ra những người có
kinh nghiệm, trình độ chuyên môn cao và hứng thú với công việc của công ty rồi thực hiện kí
chung để hạn chế mức độ thông tin bất cân xứng là cơ chế phát tín hiệu, cơ chế sàng lọc và cơ
chế giám sát.
III.1 Cơ chế phát tín hiệu
Michael Spence là người đầu tiên nêu lên cơ chế phát tín hiệu trong việc xử lý tác động của
thông tin bất cân xứng.
Cơ chế phát tín hiệu là việc bên có nhiều thông tin có thể phát tín hiệu đến những bên ít thông
tin một cách trung thực và tin cậy. Với việc phát tín hiệu này, người bán những sản phẩm chất
lượng cao phải sử dụng những biện pháp được coi là quá tốn kém với người bán hàng hóa
chất lượng thấp.
Spence lấy ví dụ bằng thị trường lao động. Người bán là những ứng cử viên đi xin việc và
người mua là nhà tuyển dụng. Nhà tuyển dụng không thể trực tiếp quan sát các khả năng của
ứng cử viên mà chỉ có thể đánh giá gián tiếp thông qua bằng cấp của họ. Nếu những người
kém năng lực phải mất nhiều thời gian và nỗ lực hơn những người có năng lực để đạt được
cùng trình độ học vấn thì những người có năng lực có thể phát tín hiệu bằng cách đạt được
những bằng cấp mà người kém năng lực không thể đạt được.
Đối với thị trường tài chính, để giao dịch được hiệu quả thì người đi vay có thể vay được vốn
với chi phí thấp, người cho vay chắc chắn khả năng thu hồi được nợ hay người cho vay và đi
vay phải nắm rõ quyền lợi và trách nhiệm của riêng mình. Thông thường người đi vay là
người nắm rõ thông tin về mình nhất thế nên họ sẽ được lợi nhiều hơn trong giao dịch. Tuy
nhiên, ngân hàng sẽ không dễ dàng cho vay nếu như họ không biết rõ về khách hàng của
mình. Thế nên, người đi vay phải phát tín hiệu rằng mình là người có khả năng trả được nợ
tốt. Vấn đề phát tín hiệu trong trường hợp này là: Uy tín của công ty, qui mô và danh tiếng
10
Tài chính tiền tệ
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
công ty, năng lực tài chính, tài sản đảm bảo vv, ngược lại ngân hàng cũng phải phát tín hiệu
để người đi vay thực hiện trách nhiệm của mình trong hợp đồng vay như cơ chế xử lý tài sản,
lãi suất cho vay…
Cũng giống như thị trường tài chính, nhà đầu tư khi mua cổ phiếu của một công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán, ít nhiều họ cũng cần biết công ty đó hoạt động ra sao, sản xuất
Tài chính tiền tệ
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
Cơ chế giám sát được áp dụng nhằm mục đích kiểm soát tâm lý ỷ lại.
Trong thị trường tài chính, người cho vay thường thực hiện việc kiểm tra sử dụng vốn vay sau
khi giải ngân, kiểm tra hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng vay theo định kỳ.
Trong các hợp đồng tín dụng, luôn có điều khoản yêu cầu khách hàng vay cung cấp đầy đủ và
kịp thời các thông tín liên quan đến tình hình hoạt động, những thay đổi tác động nhiều đến
bên vay…
Ngoài ra, bên cho vay còn sử dụng các hệ thống giám sát khác như hệ thống thông tin tín
dụng, thông tin trên thị trường chứng khoán, thông tin từ các đối thủ cạnh tranh, các cơ quan
quản lý
Trong hệ thống giám sát nêu trên, đối với các tổ chức tín dụng, quan trọng nhất là hệ thống
thông tin tín dụng (hệ thống này thường do ngân hàng trung ương hoặc cơ quan giám sát hoạt
động ngân hàng làm thiết lập và tổ chức hoạt động). Hệ thống thông tin tín dụng làm nhiệm
vụ thu thập tất cả các thông tín liên quan đến hoạt động của tất cả cá đối tượng được cấp tín
dụng và sẽ cung cấp cho các thành viên trong hệ thống thông tin này hoặc cung cấp (bán) cho
những đối khác có nhu cầu. Ngoài ra, ở các thị trường tài chính phát triển, còn có một hệ
thống giám sát khác rất hiệu quả đó là các tổ chức đánh giá, xếp loại độc lập như S&P,
Moody Vì kết quả xếp loại của các tổ chức độc lập này có ảnh hưởng rất lớn đến ví trị của
một doanh nghiệp trên thị trường.
Trong thị trường chứng khoán, cơ chế giám sát bao gồm: giám sát trực tiếp và giám sát gián
tiếp:
- Giám sát trực tiếp: nhà đầu tư sẽ bỏ ra nguồn lực để đạt được kiểm soát thông tin, cơ chế
giám sát này tốn nhiều chi phí và sức lực, khả năng giám sát của nhà đầu tư muốn giám
sát công ty niêm yết sẽ bị hạn chế.
- Giám sát gián tiếp: thông qua các qui định của các nhà tổ chức thị trường (UBCK, Sở
GDCK), mặc nhiên các công ty niêm yết phải có trách nhiệm thông báo trực tiếp hoặc
gián tiếp đến nhà đầu tư và nhà đầu tư cũng thông qua các quyền lợi đã được qui định
mà có thể tiếp cận giám sát gián tiếp công ty niêm yết. Ngoài ra còn có giám sát thị
trường: căn cứ đánh giá của thị trường để biết nhiều thông tin hơn về các công ty niêm
- Người sở hữu một số tiền hoặc hàng hóa chuyển giao cho người khác trong một thời
gian nhất định.
- Đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, người sử dụng hoàn lại cho người sở hữu một giá trị
lớn hơn. Phần tăng thêm được gọi là phần lời hay nói theo ngôn ngữ kinh tế là lãi suất
Tín dụng Ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng, các tổ chức tín dụng
với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã
hội, cơ quan nhà nước.
1.2 Bản chất
Từ khái niệm trên, bản chất của tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở hoàn trả và có
các đặc trưng sau:
- Tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay
(bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản).
14
Tài chính tiền tệ
Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các
hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình
ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng
chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác. Hoạt động ngân hàng là hoạt
động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Định chế tài chính hay Tổ chức tài chính là các tổ chức thương mại và công cộng hoạt động
trong lĩnh vực tài chính, tham gia vào việc trao đổi, cho vay, đi mượn và đầu tư tiền tệ. Thuật
ngữ này thường được sử dụng để thay thế cho thuật ngữ các trung gian tài chính. Theo quy
ước, các định chế tài chính gồm có các Tổ chức tín dụng, Công ty bảo hiểm, Công ty Quản lý
quỹ, Quỹ đầu tư và những người môi giới đầu tư
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
- Xuất phát từ nguyên tắc hoàn trả, vì vậy người cho vay khi chuyển giao tài sản cho
người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả đúng hạn. Đây là yếu
tố hết sức cơ bản trong quản trị tín dụng.
- Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay, hay nói cách khác là
thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của một bên thứ ba nào khác.
- Dựa vào phương thức cho vay, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
+ Cho vay theo món vay: là loại cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và tổchức
tín dụng thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
+ Cho vay theo hạn mức tín dụng: là loại cho vay mà tổ chức tín dụng và khách hàng
xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian
nhất định.
+ Cho vay theo hạn mức thấu chi: là việc cho vay mà tổ chức tín dụng thỏa thuận
bằng văn bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh
toán của khách hàng.
- Dựa vào xuất xứ tín dụng, hoạt động tín dụng có thể phân chia thành các loại sau:
+ Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời
người đi vay trực tiếp trả nợ vay cho ngân hàng.
+ Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế
ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán như là: Chiết
khấu thương mại; bao thanh toán.
1.4 Rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện
trên thực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân
hàng.
“Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất
trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không
có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết” (Khoản 01 Điều 02 của Quy định về
phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân
hàng của tổ chức tín dụng)
Như vậy, có thể nói rằng rủi ro tín dụng có thể xuất hiện trong các mối quan hệ mà trong đó
ngân hàng là chủ nợ, mà khách hàng nợ lại không thực hiện hoặc không đủ khả năng thực
hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn. Nó diễn ra trong quá trình cho vay, chiết khấu công cụ
chuyển nhượng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán của ngân hàng.
Đây còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả và rủi ro sai hẹn, là loại rủi ro liên quan đến
+ Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch
+ Chưa thực sự thay đổi quan điểm, còn xem vốn ngân hàng là vốn nhà nước nếu
doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả thì ngân hàng chịu, ngân hàng thua lỗ thì nhà
nước chịu
17
Tài chính tiền tệ
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
+ Doanh nghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng
- Nguyên nhân khách quan.
+ Sự thay đổi của môi trường tự nhiên như: thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây tổn thất
cho khách hàng vay vốn kinh doanh
+ Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế giới
+ Sự tấn công của hàng nhập lậu
+ Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ quan pháp
luật cấp địa phương trong việc triển khai
+ Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước
+ Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập
+ Sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng, nguyên vật liệu
đầu vào tăng làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng, khó khăn tài
chính dẫn đến không có khả năng trả nợ
Một trong các thông số dùng để đánh giá mức độ an toàn của hoạt động tín dụng là tỷ lệ nợ
xấu. Theo kinh nghiệm của nhiều nước và từ nhiều nghiên cứu, trừ những cú sốc bất ngờ như
khủng hoảng kinh tế, thiên tai…nguyên nhân gây ra tình trạng nợ xấu nhiều nhất là do các
ngân hàng không có đầy đủ thông tin từ phía khách hàng của mình mặc dù đã có rất nhiều nỗ
lực trong công tác thẩm định . Nói một cách đơn giản, là do cơ chế sàng lọc chưa đủ hiệu lực
nên các ngân hàng đã để "lọt" những khách hàng có khả năng che đậy hành vi và thông tin
của họ trong giao dịch vay vốn để thực hiện những dự án có rủi ro cao.
Như vậy, thông tin bất cân xứng là một trong những nguyên nhân cơ bản ảnh hưởng đến rủi
ro trong các hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. Việc nghiên cứu tác động của
thông tin bất cân xứng sẽ được làm rõ thông qua nghiên cứu về hai biểu hiện của nó là lựa
tắc loại trừ, khi nguồn cung tín dụng dồi dào, mức lãi suất cho vay thấp thì các dự án có suất
sinh lợi thấp - rủi ro thấp, đảm bảo khả năng trả nợ một cách chắc chắn và các dự án có suất
sinh lợi cao - rủi ro cao với khả năng trả nợ ít chắc chắn hơn đều được cấp tín dụng để thực
hiện. Tuy nhiên, vấn đề nảy sinh khi nguồn vốn khan hiếm, lãi suất cho vay bị đẩy lên cao.
Khi đó các dự án an toàn không được cấp tín dụng mà chỉ có những dự án có mức độ rủi ro
cao, với suất sinh lợi cao được vay vốn để thực hiện. Đây chính là vấn đề lựa chọn bất lợi
trong hoạt động tài chính ngân hàng đã xảy ra. Khi mà chỉ các dự án có độ rủi ro cao được
thực hiện thì nguy cơ vỡ nợ của các tổ chức tài chính là rất cao.
Hình vẽ dưới đây được dùng để mô tả vấn đề:
Giả sử lúc ban đầu cung cầu vốn cắt
nhau ở điểm E0 với lãi suất cho vay là
r
0
và lượng vốn cho vay là Q
0
. Các dự
án có rủi ro thấp (Q
1
Q
0
) và các dự án
có rủi ro cao (OQ
1
) đều được thực
hiện (để đơn giản cho việc mô tả mô
hình, giả sử rằng đối với các dự án rủi
ro thấp coi như tổn thất bằng 0). Lúc
19
Tài chính tiền tệ
Q
: Đường cung vốn
Trục hoành OQ: Lượng vốn
Trục tung Or: Lãi suất
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
này, một trong hai trường hợp sẽ xảy
ra:
Thứ nhất, nếu thu nhập từ việc cấp tín
dụng cho các dự án đủ để bù đắp các
chi phí hoạt động, các rủi ro xảy ra do
các dự án không thành công mang lại
và đảm bảo lợi nhuận biên theo yêu
cầu, thì các tổ chức tín dụng vẫn duy
trì ở mức lãi suất cho vay r0. Giả sử
lúc này "tương quan" giữa các dự án
rủi ro thấp và rủi ro cao là cân bằng
nhau. Ở điểm cần bằng này, dù lợi
nhuận các dự án mang lại có cao bao
nhiêu thì thu nhập tối đa của bên cho
vay chỉ là OQ
0
E
0
r
0
Thứ hai, nếu thu nhập từ việc cấp tín dụng cho các dự án không đủ để bù đắp các chi phí hoạt
động, các rủi ro xảy ra do các dự án không thành công mang lại và không đảm bảo lợi nhuận
biên thì các tổ chức tín dụng sẽ tăng lãi suất cho vay. Lúc này các dự án rủi ro thấp bị giảm đi
và các dự án rủi ro cao vẫn không thay đổi, "tương quan" sẽ nghiêng về phía các dự án rủi ro
cao. Nếu cứ tiếp tục như vậy, đường cung bị đẩy dần lên đi đến điểm E
1
Ngoài ra, còn có tâm lý ỷ lại của các tổ chức tín dụng sau khi cho vay. Thiếu sót trong quá
trình kiểm tra sử dụng vốn vay có đúng mục đích.
Để hiểu rõ hơn về tâm lý ỷ lại trong hoạt động tín dụng, chúng ta sẽ nghiên cứu ví dụ sau:
Giả sử bạn có một người bà con, ông bác Melvin, vay một món 1000 đôla, ông này cần số
tiền này để mua một máy chuyên dùng cho doanh nghiệp. Khi bạn đã cho vay, ông Melvin có
thể tới thẳng trường đua để chơi cá ngựa. Nếu thắng, ông ta đủ khả năng trả lại bạn món 1000
đôla và nhận thêm 19000 đôla nữa. Nhưng nếu ông ta thua, như thường xảy ra, thì bạn không
đòi được tiền và tất cả những gì ông ta mất chỉ là danh tiếng một ông bác thẳng thắn và đáng
tin cậy. Do đó, ông bác Melvin có ý muốn tới trường đua bởi vì cái được của ông ta nếu ông
ta thắng cược có thể lớn hơn nhiều so với giá mà ông ta phải trả nếu ông ta thua cược. Nếu
lúc ấy bạn biết ý định của ông bác Melvin thì bạn sẽ ngăn ông ta tới trường đua và ông ta sẽ
không thể làm chuyện rủi ro. Tuy nhiên, bạn khó có được thông tin về ông ta – tức là xảy ra
thông tin không cân xứng – nên có một cơ hội tốt để ông bác Melvin có thể tới trường đua và
bạn có thể không đòi được tiền.
Tâm lý ỷ lại trong các hoạt động giao dịch vay nợ là khá phổ biến. Nó đặt ra câu hỏi “kiểm
soát” đối với các Tổ chức tài chính trong việc giám sát việc sử dụng “đồng vốn” của khách
hàng
4. Xử lý thông tin bất cân xứng trong hoạt động tín dụng
21
Tài chính tiền tệ
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
Giải pháp lý thuyết về xử lý vấn đề thông tin bất cân xứng được trình bày ở mục II đã cung
cấp ba cơ chế cơ bản là cơ chế phát tín hiệu, cơ chế sàng lọc và cơ chế giám sát. Sang phần
này, chúng ta sẽ cùng nghiên cứu việc vận dụng cụ thể ba cơ chế này cũng như cơ chế khuyến
khích – một cơ chế được xem là đặc thù trong việc hạn chế thông tin bất cân xứng đối với
hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại.
4.1 Sử dụng hệ thống thông tin tín dụng
Hầu như không một ngân hàng nào có đủ khả năng tự mình xử lý được vấn đề thông tin bất
cân xứng mà cần phải có hệ thống thông tin phục vụ đánh giá xếp loại khách hàng và hệ
thống thông tin phục vụ cho việc thẩm định dự án.
hành, công nhận và sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới. Mặc dù chỉ số Z được phát
minh tại Mỹ, nhưng hầu hết các nuớc vẫn có thể sử dụng với độ tin cậy khá cao như
Mexico, Indian Chỉ số này dựa trên phương pháp thống kê với công cụ phân tích
biệt số đa yếu tố (MDA).
Chỉ số Zeta: Zeta là một chỉ số được Altman cải tiến từ chỉ số Z, Zeta làm việc tốt với
dữ liệu tài chính của các công ty sản xuất và cả bán lẻ với độ chính xác hơn 90%
trước khi phá sản 1 năm và chính xác trên 70% từ năm thứ 5 trở đi trước khi phá sản.
Phương pháp chuyên gia:
Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Fitch: Fitch xếp hạng doanh nghiệp
dựa trên phân tích định tính và phân tích định lượng. Phân tích định tính gồm có
phân tích rủi ro ngành, môi trường kinh doanh, vị thế của doanh nghiệp trong ngành,
năng lực của ban quản trị, phân tích kế toán. Trong phân tích định lượng, Fitch nhấn
mạnh đến thước đo dòng tiền của thu nhập, các khoản đảm bảo (coverage) và đòn
bẩy.
Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của S&P: Cũng như Fitch, phương pháp
xếp hạng của S&P bao gồm cả phân tích định tính và định lượng. S&P cũng tập
trung nhiều vào phân tích dòng tiền và khả năng thanh toán trong quá khứ. Trong
quy trình xếp hạng, S&P không phân loại theo tính chất của dữ liệu mà phân loại
theo rủi ro là rủi ro kinh doanh và rủi ro tài chính.
Phương pháp xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp của Moody's: Moody's thiết lập 11 tỷ số
chung nhất để sử dụng trong phân tích so sánh, các tỷ số này được Moody's ứng
dụng rộng rãi ở những quốc gia khác nhau, những ngành khác nhau và cả ở các báo
cáo xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp. Tuy nhiên, trong quy trình cụ thể, Moody's có
thể xem xét bớt hoặc thêm vào các chỉ tiêu cho phù hợp với từng ngành riêng biệt.
Thông tin bất cân xứng & hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại
Ngoài hệ thống thông tin dùng để đánh giá khách hàng, khi thẩm định dự án, phương án kinh
doanh, các tổ chức tín dụng cần phải có hệ thống thông tin nhằm xác định, kiểm tra các thông
số đầu vào và đầu ra của dự án, nhất là các thông số về thị trường các nguyên liệu đầu vào và
thị trường đàu ra của sản phẩm…
Khi thẩm định dự án, phương án kinh doanh, các ngân hàng thường xử dụng các tiêu chuẩn
cảng mang lại trong cả vòng
đời của nó.
đ
Trong đó:
n: Số năm hoạt động của dự án
t: Năm bắt đầu thực hiện dự án được coi là
năm gốc
CI
t
: Giá trị luồng tiền mặt thu tại năm t
CO
t
: Giá trị luồng tiền mặt chi tại năm t (gồm
chi phí đầu tư và chi phí vận hành hàng
năm của dự án)
Tỷ suất hoàn vốn nội bộ (IRR) là mức lãi suất
mà dự án có thể đạt được đảm bảo cho tổng
các khoản thu của dự án cân bằng với các
khoản chi ở thời gian mặt bằng hiện tại.
k
Trong đó:
IRR: Hệ số hoàn vốn nội bộ cần nội suy (%)
r
1
: Tỷ suất chiết khấu thấp hơn tại đó NPV
1
lớn hơn 0 và gần sát 0 nhất
r
2