1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Từ những thập niên cuối thế kỷ XX đã diễn ra cuộc cách mạng khoa học
- công nghệ hiện đại mà một trong những đặc trưng nổi bật là cách mạng
trong lĩnh vực công nghệ thông tin (CNTT). Có thể nói, CNTT là một trong
những động lực quan trọng nhất của sự phát triển, cùng với một số ngành
công nghệ cao khác, đang làm biến đổi sâu sắc đời sống kinh tế, văn hoá, xã
hội của thế giới. Nền kinh tế công nghiệp đang chuyển sang nền kinh tế tri
thức.
Là một trung tâm lớn về kinh tế, văn hóa, khoa học - công nghệ, đầu
mối giao lưu quốc tế, TP.HCM phải phát triển CNTT, con đường tất yếu để
hình thành xã hội thông tin, góp phần tăng trưởng kinh tế nhanh, mạnh, bền
vững, tạo khả năng đi tắt, đón đầu, rút ngắn quá trình CNH, HĐH và chủ
động hội nhập kinh tế thế giới. Trong đó, phát triển nguồn nhân lực CNTT
chất lượng cao là khâu đột phá, có ý nghĩa quyết định thành công.
TP.HCM hiện chiếm gần 50% tổng số trường đại học và cao đẳng có
chức năng đào tạo về CNTT của cả nước. Tuy nhiên, các doanh nghiệp
CNTT trên địa bàn luôn than phiền là việc tuyển dụng nhân sự CNTT rất khó
và quá tốn thời gian, tỷ lệ tuyển dụng được chỉ đạt dưới 10% số lượng ứng
viên. Việc phát triển ngành công nghiệp non trẻ này đang bị khủng hoảng
thiếu nguồn nhân lực trầm trọng.
Do vậy, việc nghiên cứu các vấn đề về phát triển nguồn nhân lực
CNTT ở TP.HCM là rất cần thiết, có tính cấp bách về ý nghĩa khoa học và
giá trị thực tiễn. Đó là lý do tác giả chọn đề tài "Phát triển nguồn nhân lực
CNTT trong tiến trình CNH, HĐH ở TP.HCM đến năm 2020” làm luận
án Tiến sĩ Kinh tế, chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Do tầm quan trọng và mang tính chiến lược của đề tài, nên đã có một số
công trình nghiên cứu, sách và bài báo, bài tham luận ở nhiều cuộc hội thảo
liên quan đến đề tài luận án từ nhiều góc độ khác nhau.
nhân lực trong ngành công nghiệp phần mềm ở Ấn Độ; Thomas L. Friedman
(2006), The world is flat: CNTT đang bùng nổ với tốc độ mạnh mẽ và đang
mở ra thời đại mới, biến tất cả thế giới thành láng giềng, “thế giới phẳng”.
Tác giả trong nước:
“CNTT và TT TP.HCM, hiện trạng, mục tiêu và giải pháp tới 2010”,
GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân (2005), đánh giá kết quả việc phát triển CNTT
của TP.HCM giai đoạn 2001-2005 và nêu ra các giải pháp thực hiện đến năm
2010; “CNTT - mũi nhọn đột phá đưa loài người vào thời đại kinh tế tri
thức”, GS Đặng Hữu (2005), phân tích về sự bùng nổ của CNTT và sự tác
động của nó đến mọi mặt của đời sống xã hội loài người, đánh giá việc thực
hiện chỉ thị 58 của Đảng qua 4 năm (2000 - 2004) về ứng dụng CNTT của
Việt Nam để rút ngắn quá trình CNH, HĐH đất nước; PGS.TS. Vũ Anh Tuấn
(2006), “Phát triển thị trường khoa học công nghệ ở TP.HCM”, phân tích
thực trạng 4 ngành công nghệ mũi nhọn của TP.HCM, trong đó có ngành
CNTT và dự báo, đề xuất hệ thống giải pháp phát triển thị trường khoa học
công nghệ của TP.HCM; “Kỷ yếu Hội thảo quốc gia về đào tạo nguồn nhân
lực CNTT và TT theo nhu cầu xã hội”, Bộ TT và TT (2008), tập hợp các bài
tham luận bàn về việc cải tiến chất lượng đào tạo nguồn nhân lực CNTT Việt
Nam theo nhu cầu của xã hội Việt Nam và thế giới; Những bài tham luận
trong Hội thảo “Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT”, Sở TT và TT
TP.HCM (25/9/2008), tập trung vào thực trạng và một số giải pháp phát triển
nhân lực CNTT ở TP.HCM; Đề tài nghiên cứu khoa học “Chính sách phát
3
triển nhân lực và thu hút nhân tài CNTT thành phố Đà Nẵng”, KS. Phạm
Kim Sơn chủ nhiệm (2005), nghiên cứu cơ sở lý luận, thực trạng và phương
hướng về chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực và thu hút nhân tài
CNTT ở thành phố Đà Nẵng; Luận văn thạc sĩ ngành Kinh tế phát triển “
Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực CNTT của TP.HCM đến năm 2020”,
Nguyễn Hoàng Nhiên (2008), đánh giá việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT ở
TP.HCM năm 2007 và trình bày một số giải pháp nhằm đảm bảo cung cấp
công trình trong và ngoài nước, đồng thời xây dựng, hệ thống hóa những vấn
đề cơ bản về phát triển nguồn nhân lực CNTT trong tiến trình CNH, HĐH
đất nước. Từ đó, đánh giá thực trạng và làm rõ định hướng, phân tích sâu
4
những giải pháp cơ bản để phát triển nguồn nhân lực CNTT của TP.HCM
trong tiến trình CNH, HĐH đến năm 2020.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ lý luận và thực tiễn về nguồn
nhân lực CNTT, phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực CNTT ở
TP.HCM hiện nay, từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển nguồn
nhân lực CNTT trong tiến trình CNH, HĐH ở TP.HCM đến năm 2020 .
Với mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án như sau:
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về phát triển nguồn nhân lực nói
chung, nguồn nhân lực CNTT nói riêng trong sự nghiệp CNH, HĐH.
- Tìm hiểu kinh nghiệm của một số nước và một số thành phố khác về phát
triển nguồn nhân lực CNTT để rút ra những bài học cần thiết cho TP.HCM.
- Phân tích thực trạng nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM, đánh giá mặt đạt
được, hạn chế và làm rõ nguyên nhân .
- Đề xuất và phân tích một số giải pháp cơ bản để phát triển nguồn nhân lực
CNTT ở TP.HCM đến năm 2020.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu của luận án là nguồn nhân lực CNTT và phát triển
nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM, dưới góc độ kinh tế chính trị.
Đối tượng nghiên cứu được đặt trong mối quan hệ với sự phát triển kinh
tế - xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH ở TP.HCM và xu thế toàn cầu hóa kinh tế,
hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển kinh tế tri thức.
Phạm vi nghiên cứu của luận án: Đề tài được nghiên cứu ở địa bàn TP.HCM,
cụ thể là các đơn vị, các trường đại học, các trường dạy nghề, các doanh
nghiệp, các tổ chức nghiên cứu, ứng dụng CNTT và phát triển nhân lực
CNTT…
- Luận án phân tích ưu thế và làm rõ mặt hạn chế cùng nguyên nhân của sự
phát triển nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM.
- Đề xuất và luận giải hệ thống giải pháp chủ yếu mang tính khả thi để phát
triển nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM đến năm 2020.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục và mục
lục, luận án gồm 3 chương :
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển nguồn nhân lực CNTT
trong tiến trình CNH, HĐH
Chương 2: Thực trạng phát triển nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM hiện nay
Chương 3: Quan điểm, mục tiêu và những giải pháp chủ yếu để phát triển
nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM đến năm 2020.
6
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰC CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG
TIẾN TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.1. Nguồn nhân lực, nguồn nhân lực công nghệ thông tin
1.1.1. Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là toàn bộ tiềm năng lao động của con người ( thể lực, trí lực
và tâm lực) có trong một thời điểm xác định; là khái niệm chỉ số dân, cơ cấu
dân số và chất lượng con người với tất cả đặc điểm, tiềm năng và sức mạnh
trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội.
1.1.2. Khái niệm nguồn nhân lực công nghệ thông tin
- Khái niệm CNTT ( Information Technology – IT)
CNTT là hệ thống các tri thức và phương pháp khoa học, các kỹ thuật,
công cụ và phương tiện hiện đại, các giải pháp công nghệ, được sử dụng để
thu thập, lưu trữ, xử lý, sản xuất, xuất bản, phát hành và truyền thông tin
nhằm giúp con người nhận thức, tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả
nhất nguồn tài nguyên thông tin vào mọi lĩnh vực hoạt động của con người.
1.2.2.1. Khái niệm phát triển nguồn nhân lực CNTT
Phát triển nguồn nhân lực CNTT là một quá trình nâng cao cả về số
lượng lẫn chất lượng, cơ cấu, đồng thời phân bổ, sử dụng và phát huy có hiệu
quả nguồn nhân lực CNTT không chỉ để đáp ứng nhu cầu hiện tại mà còn
chuẩn bị đáp ứng cho nhu cầu phát triển của ngành CNTT trong tương lai.
TP.HCM đang đi đầu, cùng cả nước thực hiện phát triển mạnh nguồn
nhân lực CNTT nhằm đảm bảo đủ nhân lực CNTT phục vụ nhu cầu phát triển
và ứng dụng CNTT, điện tử, viễn thông, phục vụ công cuộc xây dựng kinh tế
tri thức và xã hội thông tin, sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc
tế.
1.2.2.2. Vai trò của phát triển nguồn nhân lực CNTT trong sự
nghiệp CNH, HĐH cả nƣớc nói chung, TP.HCM nói riêng
Vai trò của phát triển nguồn nhân lực nói chung trong sự nghiệp CNH,
HĐH:
Xuất phát từ quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí
Minh về vai trò của con người trong sự nghiệp phát triển đất nước, Đảng và
Nhà nước Việt Nam luôn luôn đặt con người vào vị trí trung tâm, lấy mục
tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người và do con người.
Đề cao vai trò của nhân tố con người là nét nổi bật trong tư tưởng kinh tế
của Chủ nghĩa Mác; V.I. Lê Nin : "Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể
nhân loại là công nhân, là người lao động" .
Chủ tịch Hồ Chí Minh: " Phải biết quý trọng sức người là vốn quý nhất
của ta. Chúng ta phải hết lòng chăm sóc sức khỏe và sử dụng thật hợp lý sức
lao động của nhân dân ta".
Quan điểm của Đảng ta: Nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát
triển đất nước trong thời kỳ CNH, HĐH
Có thể kết luận rằng nguồn lực chủ yếu nhất trong các nguồn lực để tiến
hành CNH, HĐH là nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là
con đường ngắn nhất để tạo ra sức cạnh tranh trong môi trường kinh doanh
quốc tế, đặc biệt là trong kinh tế tri thức.
hiện đại, phát huy được nội lực đồng thời tranh thủ được tối đa các nguồn lực
bên ngoài, nhất là sau khi là thành viên của WTO, sự đầu tư của thế giới
đang hướng về Việt Nam như một điểm đến hấp dẫn, đặc biệt, trong lĩnh vực
CNTT và TT diễn ra rất sôi động. Như vậy, nguồn nhân lực CNTT phải thích
ứng với sự toàn cầu hoá thị trường lao động CNTT.
Trong các yếu tố trên, yếu tố hàng đầu ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn
nhân lực CNTT là giáo dục đào tạo.
1.3. Quan điểm, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam
về phát triển nguồn nhân lực nói chung và phát triển CNTT, nguồn nhân
lực CNTT :
1.3.1. Quan điểm, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc Việt
Nam về phát triển nguồn nhân lực nói chung: Đảng và Nhà nước nhấn
mạnh việc phải phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đẩy nhanh quá
trình CNH, HĐH, phấn đấu đến năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại gắn với phát triển kinh tế tri thức.
9
Trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, lần đầu tiên thuật ngữ
“nguồn nhân lực chất lượng cao” được sử dụng trong Văn kiện của Đảng:
“Đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng
cao”
Ðại hội XI của Ðảng, năm 2011 xác định vấn đề phát triển nhanh
nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong ba khâu
đột phá của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội từ nay đến năm 2020, có ý
nghĩa sâu sắc, quyết định cho sự phát triển của đất nước, là nhân tố nền tảng
để đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập sâu hơn
vào nền kinh tế thế giới.
Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ TP.HCM lần thứ IX, nhiệm kỳ
2010-2015 xác định: Phát huy đội ngũ trí thức để khoa học - công nghệ thực
sự là động lực nâng cao chất lượng tăng trưởng…
1.3.2. Quan điểm, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và Nhà nƣớc Việt
việc phát triển nguồn nhân lực CNTT ở Việt Nam nói chung, TP.HCM nói
riêng :
Một là, CNTT mang lại cả cơ hội và thách thức lớn cho các nền kinh tế đang
phát triển. Nhiều nước, thành phố đang phát triển biết tận dụng cơ hội, phát
triển nguồn nhân lực CNTT nên đã tạo được những bước phát triển mạnh
mẽ.
Hai là, CNTT là một ngành kinh tế tri thức, công nghệ cao đặc thù, trong đó,
chất xám đóng vai trò chủ đạo trong việc tạo ra các sản phẩm. Để phát triển
ngành công nghiệp quan trọng này cần có sự kết hợp đầu tư thích đáng của
cả Nhà nước và DN trong việc đào tạo nguồn nhân lực CNTT.
Ba là, phải đưa ra được chiến lược quốc gia chặt chẽ, xây dựng môi trường
pháp lý và chính sách khuyến khích cạnh tranh, khả năng thích ứng nhanh
với sự phát triển công nghệ số theo xu thế của thế giới và xã hội hóa trong sự
phát triển nguồn nhân lực CNTT.
Bốn là, phát huy thế mạnh về tiểm năng con người để phát triển nguồn nhân
lực CNTT, nhất là đội ngũ cán bộ sáng tạo phần mềm.
Năm là, trong khi phát triển nguồn nhân lực CNTT, cần thận trọng để không
ảnh hưởng đến sự an ninh thông tin và an ninh quốc gia, bản sắc văn hoá dân
tộc
TÓM TẮT CHƢƠNG 1
Chương 1 của luận án đã phân tích rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của
phát triển nguồn nhân lực CNTT trong tiến trình CNH, HĐH ở Việt Nam nói
chung và ở TP.HCM nói riêng. Đây là cơ sở để đi vào phân tích thực trạng
của sự phát triển nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM hiện nay.
11
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY
2.1. Tiềm năng phát triển nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM
29.000 người. Mỗi năm hệ thống đào tạo nhân lực CNTT ở TP.HCM có thể
cung cấp khoảng 20.000 lao động CNTT từ trình độ kỹ thuật viên trở lên.
Số lượng nguồn nhân lực CNTT tại TP.HCM chiếm tỷ trọng lớn so với
các địa phương khác ở Việt Nam, có nhu cầu không ngừng tăng lên vì đây là
thị trường CNTT lớn nhất nước và cũng là địa phương ứng dụng CNTT
mạnh nhất nước. Là trung tâm lớn nhất về sản xuất và kinh doanh CNTT-
12
chiếm khoảng 40% tổng doanh thu CNTT của cả nước, hiện có khoảng 9091
DN đang sản xuất, kinh doanh các sản phẩm CNTT; Đây là địa phương đang
đứng đầu cả nước về tỷ lệ thâm nhập máy tính cá nhân và Internet trong các
hộ gia đình, khoảng 96% gia đình có máy tính cá nhân, mật độ điện thoại đạt
195 máy/100 dân; Ứng dụng CNTT trong các cơ quan quản lý nhà nước của
TP. HCM liên tục phát triển, trang thông tin điện tử TP.HCM (HCM
Cityweb) 2 năm qua được Bộ TT và TT đánh giá là trang web đứng đầu cả
nước về mức độ truy cập và cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến;
TP.HCM đang có những khu công viên phần mềm là Khu công viên phần
mềm Quang Trung, Khu Công viên phần mềm Sài Gòn, Khu E-Town 1 và 2,
Khu công nghệ cao TP.HCM và đang đầu tư khu công viên phần mềm lớn
nhất nước là Công viên Tri Thức Việt Nhật (610 triệu USD).
2.2.2. Chất lƣợng của nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM
Nguồn nhân lực CNTT dồi dào, giai đoạn 2001-2006, thành phố đã
đào tạo trên 200.000 lao động có trình độ CNTT từ bậc trung cấp trở lên.
Năm 2010 thành phố cung cấp khoảng trên 300.000 lao động CNTT. Nguồn
nhân lực CNTT có tinh thần học tập và làm việc tốt.
Theo khảo sát mới nhất của Hội tin học TP.HCM tại 73 DN hoạt động
trong ngành CNTT, đánh giá của các DN đối với lao động CNTT trong các
DN như sau:
- Về công nghệ và kỹ năng chuyên môn: 59% đạt loại khá, 25% đạt yêu
cầu, 16% được đánh giá là chưa đạt.
- Kỹ năng làm việc nhóm: 57% đạt khá trở lên, 25 % đạt yêu cầu và
STT
NGÀNH
10
Toán – Tin
1
Khoa học máy tính
11
Tin học
2
Kỹ thuật máy tính
12
Tin Sư phạm
3
Công nghệ phần mềm
13
Tin học Công nghiệp
4
Mạng máy tính
14
Tin học xây dựng
5
Hệ thống thông tin
15
Tin học DN
5.1
Hệ thống thông tin kinh tế
16
Tin học Kế toán
5.2
quản lý cao cấp về CNTT và một số chuyên ngành khác.
Hiện nay, trong nguồn nhân lực hoạt động trong lĩnh vực CNTT ở
TP.HCM, thiếu nhất là nhân lực phục vụ công nghiệp phần mềm và công
nghiệp nội dung số. Bên cạnh đó, hầu như chưa có cơ sở nào thực hiện đào
tạo chuyên gia quản lý về CNTT; Các ngành đào tạo hiện nay trong lĩnh vực
CNTT vẫn chủ yếu thiên về kỹ thuật cơ bản, chưa có nhiều ngành phục vụ
trực tiếp những lĩnh vực mới như thiết kế đồ họa, truyền thông đa phương
tiện
Về sự phân bổ nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM
14
Ở ba góc độ: bộ phận quản lý nhà nước, công nghiệp CNTT và trong
cộng đồng, cơ cấu trình độ nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM như sau:
Thứ nhất, trong bộ máy quản lý nhà nước
Sơ cấp
88%
Chưa qua đào
tạo
6%
khác
6%
Hình 2.6. Trình độ CNTT trong quản lý nhà nƣớc [Nguồn: Sở TT và TT
TP.HCM, 2010]
Thứ hai, Trong công nghiệp CNTT
Sau đại học
3%
Cử nhân
85%
Cao đẳng
10.000
Cao đẳng
22
6.000
Trung học nghề và các
Trung tâm tin học
200
200.000 LĐ ứng dụng CNTT trong
công việc
2.2.5. Vấn đề sử dụng nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM
Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động CNTT trong giai đoạn 2001-2007,
Sở TT và TT TP.HCM đưa ra tỉ lệ đáng buồn: đào tạo ra 10 chỉ sử dụng được
1, đã đào tạo được 213.000 người, nhưng chỉ có 20.100 người (tỷ lệ 9,4%)
được tuyển dụng,. Như vậy, 90% lao động đã chuyển sang hoạt động trong
các lĩnh vực khác.
Bảng 2.11. Cung và cầu của nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM
Trình độ
Số lƣợng đƣợc tuyển
dụng (ngƣời) – cầu
Số lƣợng đƣợc đào
tạo (ngƣời) – cung
Tỷ lệ (%)
Đại học
13.000
15.000
87%
Cao đẳng
3.300
18.000
Ngành CNTT ở TP.HCM phát triển rất nhanh và đạt được nhiều thành
tựu, không ngừng HĐH, rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước
trong khu vực và trên thế giới, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.
Thành ủy và Uỷ ban nhân dân TP.HCM đã quan tâm tạo điều kiện để
ngành CNTT phát triển, xứng đáng là ngành mũi nhọn, tiên phong của đất
nước. Cụ thể, TP.HCM là địa phương đầu tiên của Việt Nam đã thành lập
được Quỹ hỗ trợ phát triển nhân lực CNTT của thành phố từ 27/09/2007
TP.HCM là nơi tập trung các trường đại học và cao đẳng với số lượng
sinh viên đào tạo về CNTT có trình độ cao. Lượng sinh viên CNTT tốt
nghiệp hằng năm đều tăng. Hầu hết các cơ quan nhà nước và trên 50% DN
đã ứng dụng CNTT. Tỷ lệ cán bộ công chức biết sử dụng CNTT, khai thác
Internet khá cao.
Nhiều tập đoàn CNTT và TT hàng đầu thế giới đã tham gia vào thị trường
CNTT ở TP.HCM. Đây là nơi đi đầu cả nước trong việc phát triển các khu
Phần mềm tập trung (4/5 số khu công viên phần mềm của cả nước), có mật
độ DN ngành CNTT tương đối lớn, tập trung. Một số trường đại học đã linh
hoạt, chủ động liên kết với các DN để thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và
nhu cầu.
Một số sản phẩm CNTT mang thương hiệu Việt Nam đã được tôn vinh
trên thị trường trong nước và quốc tế, nhất là sau khi Việt Nam chính thức
gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới WTO. Hiện nay, công nghiệp CNTT
đóng góp hơn 10% GDP của TP.HCM và doanh thu về CNTT chiếm 40%
cả nước. Trong hoàn cảnh kinh tế thế giới suy thoái, ngành CNTT vẫn phát
triển.
Nguồn nhân lực CNTT của TP.HCM được đánh giá là nguồn nhân lực trẻ
và dồi dào, mạnh và nhiệt huyết, đứng thứ 4 trong top 10 thành phố hấp dẫn
nhất về gia công phần mềm trên thế giới [ Công ty tư vấn gia công Tholons,
Mỹ, 2009].
Là địa phương đi đầu xây dựng "Một cửa điện tử", Website TP.HCM
được xếp loại đứng đầu cả nước liên tiếp 2 năm qua về hiệu quả .
Ở khâu tuyển sinh ngành CNTT, các sinh viên hiện vẫn phải thi tuyển 3 môn
Toán, Lý, Hóa nhưng môn Hóa xem ra không mấy liên quan tới ngành
CNTT.
- Vẫn chưa có chuẩn để đánh giá chất lượng sinh viên CNTT ra trường,
chưa đáp ứng được yêu cầu của một số doanh nghiệp nước ngoài.
- Mặt khác, sự phối hợp giữa các cơ sở đào tạo với các doanh nghiệp về
CNTT trong đào tạo nguồn nhân lực CNTT chưa tốt.
- Đầu vào của các ngành về CNTT ở một số trường chưa cao: hiện đang
có xu hướng nhiều thí sinh giỏi chuyển hướng sang nhóm ngành tài chính -
ngân hàng, quản trị kinh doanh…
- Khả năng tự học, tự đào tạo, tiếp cận thực tế của một số lớn sinh viên
chưa tốt đối với một ngành học có sự thay đổi nhanh chóng theo thời gian.
18
- Còn nhiều hạn chế tại cơ sở đào tạo về đội ngũ giảng viên CNTT, nội
dung đào tạo, hệ thống cơ sở vật chất phục vụ CNTT
Những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển nguồn nhân lực CNTT ở
TP.HCM:
Một là, Tập trung giải quyết việc cung ứng đủ nhân lực cho thị trường
CNTT ở TP.HCM, nhất là đối với các tập đoàn CNTT đang đầu tư ở
TP.HCM .
Hai là, Cần phải giải 3 bài toán khó về nguồn nhân lực CNTT: chất
lượng, trách nhiệm quản lý Nhà nước và xã hội hoá việc đào tạo nguồn nhân
lực CNTT trình độ cao. Như vậy, cần phải liên kết “3 nhà”: nhà nước- nhà
trường- nhà đầu tư và phải tạo được sự quan tâm của toàn xã hội.
Ba là, Cần phân chia làm 3 bộ phận về nguồn nhân lực CNTT : các
chuyên gia, các cán bộ khai thác, ứng dụng và người sử dụng- theo hình tháp,
ước tính tỷ lệ là 1/3/6 để đáp ứng yêu cầu của xã hội.
Bốn là, Nâng cao quyền tự chủ cho các đơn vị đào tạo để có thể đưa ra
những quyết định kịp thời, hữu hiệu. Đảm bảo chất lượng đầu vào cho nhân
lực ngành CNTT với 2 yêu cầu đặc biệt là Toán học và Ngoại ngữ. Cần phải
thức trên thế giới, ngành CNTT thế giới tăng trưởng với tốc độ rất cao
Hai là, xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.
* Bối cảnh trong nƣớc
Một là, Sự gia nhập của Việt Nam vào tổ chức WTO, tích cực và chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế
Hai là, Việt Nam đang đẩy mạnh tiến trình CNH, HĐH
Ba là,Triển khai định hướng phát triển khoa học công nghệ, nhất là CNTT,
thực hiện đề án đưa Việt Nam sớm trở thành nước mạnh về CNTT.
3.1.2. Quan điểm và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực CNTT ở
thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2015 và định hƣớng đến năm 2020
3.1.2.1. Quan điểm phát triển nguồn nhân lực CNTT ở thành phố
Hồ Chí Minh đến năm 2015 và định hƣớng đến năm 2020
Một là, Phát triển nguồn nhân lực CNTT là yếu tố then chốt có ý nghĩa
quyết định đối với việc phát triển và ứng dụng CNTT của TP.HCM, phải
đảm bảo đủ số lượng, chất lượng và cơ cấu hợp lý với tốc độ nhanh.
Hai là, Phát triển nguồn nhân lực CNTT phải gắn kết chặt chẽ với quá
trình đổi mới giáo dục và đào tạo, đặc biệt là đổi mới giáo dục đại học, đáp
ứng nhu cầu của xã hội và của thị trường, yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH
TP. HCM.
Ba là, Phải huy động các nguồn lực trong nước và nước ngoài trong việc
phát triển nguồn nhân lực CNTT.
Bốn là, Phát triển nguồn nhân lực CNTT phải gắn kết chặt chẽ với sự
tăng cường hợp tác quốc tế.
3.1.2.2. Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực CNTT ở thành phố Hồ
Chí Minh đến năm 2015 và định hƣớng đến năm 2020
Mục tiêu chung
Thứ nhất, Phát triển mạnh nguồn nhân lực CNTT đạt tiêu chuẩn
quốc tế, đủ về chất lẫn về lượng, với cơ cấu hợp lý, đáp ứng kịp thời và
thường xuyên nhu cầu xây dựng và phát triển xã hội thông tin và kinh tế
tri thức trong sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế của
Sáu là, Tăng cường năng lực nghiên cứu về CNTT
Bảy là, Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cơ sở vật chất trong đào
tạo nhân lực CNTT
Tám là, Mở rộng các chương trình liên kết đào tạo nguồn nhân lực CNTT
với một số nước trên thế giới. Thu hút đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các
công ty đa quốc gia kinh doanh lâu dài tại TP.HCM
Chín là, Hình thành cơ chế liên kết “ 3 nhà”: Doanh nghiệp - nhà trường -
nhà nước để phát triển nguồn nhân lực CNTT.
3.2.2. Nhóm giải pháp nâng cao vai trò hạt nhân và tính năng động
sáng tạo của nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM. Huy động nguồn lực
kiều bào.
Một là, Nâng cao vai trò hạt nhân và tính năng động sáng tạo của nguồn
nhân lực CNTT ở TP.HCM: Tính năng động sáng tạo là truyền thống, sức
21
mạnh của TP.HCM, thích ứng với đòi hỏi của kinh tế thị trường, của sự
đẩy mạnh CNH, HĐH. TP.HCM cần phát huy cao độ thế mạnh này, tìm
ra phương thức “đi tắt đón đầu”, hoàn thành sớm nhất nhiệm vụ CNH,
HĐH so với cả nước.
Hai là, Huy động nguồn lực kiều bào: cần có cơ chế khuyến khích
nguồn lực của hơn 1 triệu người có quan hệ với hơn 250.000 hộ thân
nhân trên địa bàn TP.HCM.
3.2.3. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực
CNTT ở TP.HCM trong điều kiện phát triển thị trƣờng lao động CNTT
TP.HCM cần phấn đấu sớm trở thành địa phương mạnh về CNTT và
phải tạo lập thị trường lao động CNTT, tạo ra động lực mạnh cho CNTT
phát triển. Phát huy thế mạnh của 1 trong 10 thành phố hấp dẫn nhất về
gia công phần mềm trên thế giới.
3.2.4. Nhóm giải pháp tăng cƣờng khả năng thông tin và định hƣớng
phát triển nguồn nhân lực CNTT ở TP.HCM theo nhu cầu thị trƣờng và
xây dựng các tập đoàn CNTT, đi đầu trong sự xây dựng thƣơng hiệu
nâng cao năng lực cạnh tranh, hiện đại hóa với chi phí thấp nhất, góp phần
quan trọng để rút ngắn quá trình CNH, HĐH ở TP.HCM.
Để thực hiện thành công sự nghiệp ấy, phát triển nguồn nhân lực CNTT là
yếu tố quyết định nhất và là một đòi hỏi cấp bách hiện nay.
Phát triển nguồn nhân lực CNTT là phát triển nguồn nhân lực làm công
tác đào tạo về CNTT, điện tử, viễn thông; nhân lực chuyên nghiệp về CNTT,
điện tử, viễn thông làm trong các doanh nghiệp và công nghiệp; nhân lực cho
ứng dụng CNTT của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp; cán bộ, viên chức
và mọi người dân sử dụng, ứng dụng CNTT nhằm đảm bảo đủ nhân lực
CNTT phục vụ nhu cầu phát triển và ứng dụng CNTT, điện tử, viễn thông,
phục vụ công cuộc xây dựng kinh tế tri thức và xã hội thông tin, sự nghiệp
công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế .
Do những đặc điểm của ngành CNTT, đòi hỏi nhân lực CNTT có những
phẩm chất và năng lực cơ bản đặc biệt như kiến thức sâu về chuyên ngành,
kỹ năng thực hành, khả năng thích ứng ngay với công nghệ, liên tục cập nhật
công nghệ, kỹ năng về ngoại ngữ cao, kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm tốt.
Nhân lực CNTT có đặc thù nghề nghiệp rất rõ nên việc phát triển nguồn
nhân lực CNTT chịu sự tác động của tổng hợp các nhân tố chủ quan lẫn
khách quan. Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực CNTT là
giáo dục đào tạo, trình độ phát triển kinh tế xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế,
cơ chế chính sách của nhà nước mà yếu tố hàng đầu là giáo dục- đào tạo.
Đây là cơ sở để lý giải yêu cầu phát triển nguồn nhân lực CNTT phải gắn kết
chặt chẽ với quá trình đổi mới cơ bản và toàn diện việc đào tạo nhân lực
CNTT theo hướng hội nhập và đạt trình độ quốc tế, tạo được chuyển biến cơ
bản về chất lượng đào tạo… CNTT hiện là 1 trong 4 lĩnh vực công nghệ cao,
trọng yếu của TP.HCM, ở vị trí thứ 4 trong top 10 thành phố hấp dẫn về gia
công phần mềm của thế giới. TP.HCM hiện là đầu tàu CNTT và nhân lực
CNTT của cả nước.Trong hai năm 2009 và 2010, ngành CNTT của TP.HCM
tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Đây là trung tâm lớn nhất về sản xuất và kinh
doanh CNTT, chiếm khoảng 40% tổng doanh thu về CNTT của cả nước và
môn thi là toán, lý và ngoại ngữ để lựa chọn được sinh viên phù hợp, có
những biện pháp đột phá trong hợp tác và nhập khẩu chương trình đào tạo
của các đại học tiên tiến hàng đầu thế giới. Mở rộng các chương trình liên kết
đào tạo nguồn nhân lực CNTT với một số nước trên thế giới. Khẩn trương
xây dựng chương trình chuẩn quốc gia chung về đào tạo CNTT đối với các
trình độ đào tạo, cũng là giúp TP.HCM liên thông với quốc tế khi đưa nhân
lực CNTT ra thị trường thế giới. Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên,
đồng thời tăng cường cơ sở vật chất trong đào tạo nhân lực CNTT. Hình
thành cơ chế liên kết chặt chẽ giữa “ 3 nhà” Doanh nghiệp - nhà trường - nhà
nước trong quá trình đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực CNTT; Ngoài ra,
TP.HCM cần phải nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực CNTT trong
điều kiện phát triển thị trường lao động CNTT, cũng như từng bước xây
dựng các tập đoàn CNTT đủ sức vươn ra thị trường thế giới, đi đầu trong sự
xây dựng thương hiệu CNTT Việt Nam, chú ý ưu tiên đầu tư cho việc phát
triển các sản phẩm phần mềm và nội dung số có thương hiệu của Việt Nam
để tiếp tục khẳng định vị trí trong nước, tạo lập được thị trường xuất khẩu
quốc tế với doanh thu ngày càng tăng; TP.HCM cần khai thác được thế mạnh
nguồn nhân lực CNTT qua nguồn lực từ kiều bào, đặc biệt là các chuyên gia
và các doanh nhân về CNTT tại các quốc gia có nền CNTT tiên tiến- Đây sẽ
24
là cầu nối nhằm phát triển ngành công nghiệp CNTT của TP.HCM hội nhập
với thế giới. Như vậy, ở tầm vĩ mô, TP.HCM cần phải tăng cường sự quản lý
của nhà nước, đổi mới toàn diện để phát triển nguồn nhân lực CNTT như
nâng cao nhận thức của các ngành, các cấp, các cơ sở giáo dục đào tạo và
hoàn thiện cơ chế, chính sách, môi trường pháp lý, thành lập cơ quan kiểm
định chất lượng đào tạo mang tính nghề nghiệp về CNTT và đẩy mạnh xã hội
hóa, tăng cường đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao,
nâng cao nhận thức của toàn thành phố về xã hội thông tin .
Thế giới đang thiếu nghiêm trọng nhân lực CNTT, còn TP.HCM đang có
tiềm năng nguồn lực con người dồi dào. Khâu then chốt là làm thế nào để