Bộ khoa học và công nghệ
Báo cáo tổng kết nhiệm vụ
Hợp tác quốc tế theo nghị định th
việt nam-italia
(2006-2008)
Nghiên cứu hoá học và hoạt tính sinh học của
một số cây thuốc dân tộc Việt Nam nhằm tạo
sản phẩm thuốc có giá trị cao phục vụ
cuộc sống Cơ quan chủ trì: Viện Hoá học các Hợp chất thiên nhiên
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Chủ nhiệm: TS Phan Văn Kiệm
51
3.3. Phân lập các hoạt chất
57
3.3.1. Các hoạt chất từ cây chổi xuể (Baeckea frutescens).
57
3.3.2. Các hoạt chất từ cây mỡ Phú Thọ (Manglietia phuthoensis)
62
3.3.3. Các hoạt chất từ cây cúc gai Silybum marianum (L.) Gaertn.
69
3.3.4. Các hoạt chất từ cây bạch thợc Paeonia lactiflora Pall.
(Paeoniaceae)
75
3.3.5. Các hoạt chất từ cây bách bệnh (Eurycoma longifolia Jack)
78
3.3.6. Các hoạt chất từ cây Ôrô nớc (Acanthus ilicifolius L.)
83
3.3.7. Các hoạt chất từ cây Hoàng liên ô rô Mahonia nepalensis DC. (M.
Annamica Gagnep.)
86
3.3.8. Các hoạt chất từ cây mâm xôi (Rubus alceaefolius Poir.,)
88
3.3.9. Các hoạt chất từ quả cây bồ kết (Gleditschia australis Hemsl)
93
Phần IV. thảo luận và kết quả
96
4.1. Thu mẫu và đánh giá sàng lọc hoạt tính sinh học
96
4.2. Xác định cấu trúc hóa học và đánh giá htsh của các
hợp chất
97
411
4.8. Danh mục các sản phẩm của đề tài
415
PHần V. Kết luận
416
Tài liệu tham khảo
420
1
Thông tin tóm tắt về nhiệm vụ
1. Tên nhiệm vụ: Nghiên cứu hoá học và hoạt tính sinh học của một số cây thuốc
dân tộc Việt Nam nhằm tạo sản phẩm thuốc có giá trị cao phục vụ cuộc sống
Phytochemical and Biological studies of Vietnamese plants for the development of high-
value healthcare products.
2. Mã số: 18MH2.
3. Thời gian thực hiện: Từ tháng 4/2006 đến tháng 11/2008)
4. Cơ quan thực hiện:
Phía Việt Nam:
Viện Hoá học các Hợp chất thiên nhiên
Địa chỉ: 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 84-4-8363375
Fax: 84-4-7564390
Email:
Phía Italia:
Trờng Đại học tổng hợp Pisa, Italia
Cơ quan
1 Châu Văn Minh GS TS Viện HCTN
2 Lê Mai Hơng TS Viện HCTN
3 Phan Văn Kiệm TS Viện HCTN
4 Vũ Mạnh Hùng TS Học viện Quân Y
5 Nguyễn Hoài Nam NCS Viện HCTN
6 Nguyễn Xuân Cờng CN Viện HCTN
7 Nguyễn Thị Hồng Vân NCS Viện HCTN
8 Nguyễn Hải Đăng Th.S Viện HCTN
9 Vơng Văn Trờng ThS ĐH KHTN
10 Trần Hồng Hà CN Viện HCTN
11 Mai Ngọc Toàn Th.S Viện HCTN
14 Trần Hồng Quang ThS Viện HCTN
15 Trần Anh Tuấn ThS Viện HCTN
17 Nguyễn Tiến Đạt TS Viện HCTN
18 Mai Đình Trị NCS Viện HCTN
19 Trịnh Thị Điệp TS Viện Dợc Liệu
20 Trần Huy Thái TS Viện STTNSV
21 Phạm Hải Yến ThS Viện HCTN
22 Nguyễn Hữu Tùng ThS Viện HCTN
23 Nguyễn Xuân Nhiệm ThS Viện HCTN
24 Phạm Minh Diệp CN Viện HCTN
3
Phần I. Tổng quan tài liệu
Trải suốt lịch sử nhân loại, thực vật, động vật và vi sinh vật trên đất liền cũng nh
vật phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe và kéo dài tuổi thọ con ngời. Theo các tài liệu
thống kê hiện nay, có tới trên 50% các loại thuốc đã và đang đ
ợc sử dụng trên thế giới có
nguồn gốc từ thực vật. Rất nhiều biệt dợc ở các nớc công nghiệp đều phải nhập nguyên
liệu thực vật từ các nớc nhiệt đới [5].
Thảo dợc ngày nay đợc sử dụng chủ yếu ở 2 dạng: Một là trong hỗn hợp các
thành phần khác nhau (hỗn hợp tinh dầu, dịch chiết, dịch cô, chng cất) và hai là các
hoạt chất đơn lẻ. Các hoạt chất đơn lẻ đợc cho là các thành phần có hoạt tính chính trong
thảo dợc, chúng thể hiện hoạt tính rất cao, đặc hiệu, yêu cầu liều dùng và cách sử dụng
chính xác. Ngợc lại, việc sử dụng các dịch chiết, hỗn hợp thờng đợc áp dụng cho các
thảo dợc thể hiện dợc tính thấp hoặc hoạt chất chủ yếu của chúng cha đợc phát hiện.
Nhiều hoạt chất từ cây cỏ đã và đang đợc ứng dụng là mặt hàng làm thuốc và đợc quan
tâm sản xuất ở nhiều nớc nh reserpin từ cây ba gạc (Rawolfia serpantina (L.) Benth. ex
Kurz.), vinblastin từ cây dừa cạn (Catharathus roseus (L.) D.Don.), quinidin, quinin từ cây
canh ki na (Cinchona spp.), diosgenin từ cây củ mài (Dioscorea deltoidea Wall. ex
Kunth) Gần đây, nhiều hoạt chất sinh học có tác dụng chữa trị các bệnh hiểm nghèo
(chống ung th, chống HIV, tăng cờng hệ miễn dịch của cơ thể ) đã đợc phát hiện từ
cây cỏ nh taxol, 10-deacetyl baccatin từ loài thông đỏ (Taxus spp.), cepharanthin từ bình
vôi hoa đầu (Stephania cepharantha Hayata), (+)-calanoid A và (-)-calanoid B từ các loài
mù u (Calophyllum lanigerum Miq., C. teysmanii Miq.), baicalin từ cây thuẫn baican
4
(Scutellaria baicalensis Georgi), các nhóm ent-labdan, diterpene glucoside,
dehydroandrographolid succinic acid monoester và các dẫn xuất từ loài xuyên tâm liên
(Andrographis paniculata (Burm.f.) Wallich ex Nees), alternanthin, -spinasterol, -
spinasterol từ một loài trong chi rau rệu (Alternanthera spp.), các nhóm chất curcumin từ
chi nghệ (Curcuma L.), hợp chất trichosanthin từ loài qua lâu (Trichosanthes kirilowii
Maxim) và rất nhiều hợp chất thiên nhiên khác có trong nhiều loài thực vật [5].
Lãnh thổ Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Có tới 3/4 diện tích
của cả nớc là rừng núi trùng điệp, địa hình chia cắt nên điều kiện khí hậu cũng rất đa
thuốc dân tộc trong điều trị bệnh và khoảng hơn 30.000 thầy thuốc hành nghề y học cổ
truyền ở khắp nơi. Những nghiên cứu gần đây cho thấy hầu hết các công ty dợc phẩm đều
sử dụng nguồn nguyên liệu tự nhiên để sản xuất thuốc và có khoảng 60% ngời dân đợc
hỏi cho biết họ lựa chọn thuốc dân tộc nh là lựa chọn hàng đầu trong phòng chữa bệnh [3-
6].
Việt Nam, với lợi thế nguồn tài nguyên thực vật phong phú, với hơn 4000 loài thực
vật đợc sử dụng trong y học cổ truyền đang thu hút đợc sự quan tâm của các nhà khoa
học trong nớc và trên thế giới. Do đó, việc điều tra nghiên cứu về hoá học và hoạt tính
sinh học của các loài cây thuốc có giá trị cao nhằm đặt cơ sở khoa học cho việc phát triển
các dợc phẩm và sử dụng chúng một cách hợp lý, có hiệu quả có một tầm quan trọng đặc
biệt.
Thông qua chơng trình Dự án này, chúng tôi đã sàng lọc hoạt tính sinh học theo
các hớng kháng sinh, chống ôxi hóa và độc tế bào của 102 loài thực vật Việt Nam. Kết
quả là đã lựa chọn đợc 9 loài có triển vọng cả về hoạt tính sinh học và nguồn dợc liệu để
5
tiến hành nghiên cứu hóa học theo hoạt tính sinh học, đó là các cây chổi xuể (Baeckea
frutescens), mỡ Phú Thọ (Manglietia phuthoensis), cúc gai (Silybum marianum), ô rô
nớc Acanthus ilicifolius, bạch thợc (Paeonia lactiflora), mẫu đơn (Paeonia
suffruticosa), mâm xôi (Rubus alceaefolius) và hoàng liên ô rô (Mahonia nepalensis). Dới
đây là một số nghiên cứu tổng quan các nghiên cứu đã đợc tiến hành trên thế giới về các
cây thuốc đã đợc lựa chọn.
1. Cây chổi xuể (Baeckea frutescens).
Chổi xuể (Baeckea frutescens L.) là một loài cây nhỏ thuộc họ Sim (Myrtaceae).
Cây thờng mọc thành bụi, cao khoảng 0,5-2m, thân mềm, phân cành nhiều, phân nhánh từ
gốc, có vỏ màu nâu, mùi thơm. Lá mọc đối, hình sợi hẹp, không có cuống, nhẵn bóng,
phiến có tuyến mờ nâu, chỉ có một gân giữa. Hoa nhỏ, màu trắng, mọc riêng lẻ ở kẽ lá, lá
bắc rất nhỏ, rụng sớm; nụ hoa hình chóp ngợc; ống đài chia 4-5 thuỳ hình tam giác hơi
nhọn đầu; cánh hoa tròn, rời nhau; nhị 8 - 10 có chỉ nhị ngắn; bầu dới, 3 ô, rất nhiều noãn.
Quả nang, mở theo đờng nứt ngang, hạt có cạnh. Mùa hoa quả vào tháng 4-6 [3],[6].
nerol, thymol, calamenene và -cardinol [3].
Một số công trình nghiên cứu nớc ngoài đã thông báo về thành phần hoá học của
cây chổi xuể, trong đó chủ yếu là các hợp chất thuộc lớp flavonoid.
O
OO
OH
O
O
BF 4, C
30
H
32
O
6
[7]
O
OO
OH
O
O
BF 5, C
30
H
32
O
6
[7]
O
O
HO
OH
2,3-Dihydro-5,7-dihydroxy-8-[1-(2-hydroxy-4-
methoxy-3,3,5-trimethyl-6-oxo-1,4-
cyclohexadien-1-yl)-2-methylpropyl]-6-
methyl-2-phenyl-4H-1-benzopyran-4-one [9]
O
O
O
H
3
CO
OH
(+)-8,8a-Dihydro-8a-hydroxy-7-
methoxy-3,3,6,8,8-pentamethyl-1,2-
benzodioxin-5(3H)-one [9]
OO
OH O
OH
2,5-Dihydroxy-7-methoxy-2,8-dimethyl-
4-chromanone [10]
O
OH
O
OOH
O
5-Hydroxy-2-isopropyl-7-methoxy-6-
methylchromone [10]
O
OH
O
O
5-Hydroxy-2-isopropyl-7-methoxy-8-
methylchromone [10]
O
6,7-Epoxy-2,9-humuladiene [8]
O
OOH
OH
O
OH
OH
HO
OH
6-C--D-Glucopyranosyl-5,7-dihydroxy-2-
O
O
OOH
HO
O
HO
OH
OH
HO
6--D-Glucopyranosyl-5,7-
dihydroxy-2-methylchromone [12]
Công thức phân tử: C
16
H
18
O
9
O
O
OH
5-(2-Hydroxy-2-
methylpropylidene)-3-
methoxy-2,4,4-trimethyl-2-
cyclopenten-1-one [9]
O
OH
O
Cây mỡ Phú Thọ (manglietia phuthoensis Dandy ex Gagnep) thuộc họ Mộc Lan
(Ngọc Lan, Dạ hợp) Magnoliaceae cũng nh một số loài khác thuộc chi Magnolia
(Manglietia), là một trong những loài cây có hoa lâu đời nhất trên thế giới, từng sống suốt
thời đại khủng long. Phân bố ở nhiều nơi nh châu á, châu Âu, Bắc Mỹ. Tại Việt Nam gồm
khoảng 9 loài, chủ yếu là cây gỗ mọc dải dác trong các rừng nguyên sinh và thứ sinh, tâp
trung ở Lào Cai, Yên Bái, Tuyên Quang, Phú Thọ, Hà Tây, Vĩnh Phúc Với nhiều tên gọi:
Giổi, Vàng Tâm, Mỡ
Theo Phạm Hoàng Hộ thì họ Mộc Lan có khoảng 13 chi, 218 loài, đa số là các cây
có lá xanh quanh năm chủ yếu trồng ở ôn đới bán cầu Bắc, rất phổ biến tại Hoa Kỳ.
Manglietia cho hoa rất đẹp, thơm và có màu sắc thay đổi tùy loài từ màu trắng đến hồng,
đỏ, đỏ đậm và từ vàng nhạt, vàng chanh đến vàng tơi. Nhiều cây đợc trồng làm hoa cảnh
rất nổi tiếng nh M. grandiflora hoa lớn, màu trắng rất thơm. M. coco là loại cây bụi, cánh
hoa lúc non hơi xanh sau thành trắng, hoa rất thơm, nở quanh năm. M. sieboloii nguồn gốc
từ Nhật, hoa màu trắng, mùi hơng ngọt ngào, rất đợc a chuộng tại các tiểu bang Tây
Bắc-Hoa Kỳ. M. denudata trồng tại các sân chùa Trung Hoa, cánh hoa màu vàng xanh khi
8
mới nở, sau đó nhạt dần chuyển sang màu trắng, biểu tợng cho sự tinh khiết. M.
acuminata, M. stellata đều rất đẹp, hoa thơm ngọt ngào, rất đợc a chuộng tại mỹ. Mộc
Lan đợc trồng để lấy bóng mát, gỗ của nó đợc dùng để đóng những canô lớn và đồ đạc
nội thất. Hoa đợc cất lấy để chế tạo nớc hoa. Nụ hoa đợc sắc lên, pha uống nh một loại
thuốc bổ. Ngời Trung Quốc sử dụng hoa mộc Lan để trị viêm xoang và làm thông mũi.
Dợc lý học và ứng dụng trong y học cổ truyền của Manglietia
Các hoạt chất chính trong vỏ cây M. officinalis là những tinh dầu và alkaloid. Thành
phần tinh dầu (1%) chính (thuộc loại những hợp chất phonoloc): Magnolol (0.03%),
allylmagnolol, Machiolol, Tetrahydro-magnolol, isomagnolol và Honokiol. Còn Alkaloids:
Magnocurarine (0.07%), Maghoflorine và Tubocurarine.
Các hoạt chất chính trong nụ hoa M. liliflora và M. biondii là tinh dầu trong đó có
Eugenol, Safrole.cineol, alpha-pinene, chavicol methyl- pinoresnol dimethylether, citrol và
Anethol Riêng trong M. Biondii còn có fargesin và trong M. liliflora có các flavonoids
việc ức chế lipid peroxidation nơi ty thể của chuột. Nghiên cứu tại khoa gây mê, bệnh viện
taipei vetarans general hospital, taiwan trên chuột đã gây mê bằng urethane, cho thấy
honokiol ở nhiều liều thử nghiệm khác nhau có những khả năng bảo vệ bắp thịt tim chống
lại các tổn thơng do nghẽn mạch và cũng loại trừ đợc sự rối loạn nhịp nơi tâm thất khi có
sự nghẽn tim.
Hoạt tính chống nấm của Magnolol và Honokiol:
Magnolol và Honokiol là hai hợp chất loại neolignan có hoạt tính chống một số
nấm gây bệnh nơi ngời nh Trichophiton mentagrophtes, Microsporiun gypseun,
Epidermophiton phloccosum, Aspergillus niger, Criptococcus neoformans và Candida
alpicans ở nồng độ ức chế tối thiểu MIC trong khoảng 25-100
à
g/ml.
Tác dụng tạo apoptosis nơi cơ trơn hệ tim mạch:
Magnol đợc nghiên cứu về tác dụng trên tiến trình tạo chơng trình cho tế bào tự huỷ
nơi các tế bào cơ trơn hệ tim mạch (vascular smooth muscle cells = VSMCs) ở chuột:
Magnonol làm gia tăng hoạt tính caspase-3 và caspase-9 đồng thời giảm tiềm lực ti thể.
Nồng độ các tế bào B-cell leukemia/lymphoma-2 (Bcl-2) sụt giảm tơng ứng với nồng độ
Magnonol sử dụng. Kết luận ghi nhận Magnonol tạo ra tiến trình apotosis nơi VSMs qua
9
đờng tự huỷ của mitochondria, hiệu ứng này đợc trung chuyển bằng sự gây giảm điều
hoà nồng độ protein Bcl-2, xảy ra cả invitro lẫn invivo do đó Magnonol đợc xem là có
tiềm năng dùng làm thuốc mới chữa atherosclerosis và restenosis.
Hoạt tính chống sng viêm của Honokiol trên tế bào neutrophils
Nghiên cứu tại ĐH y khoa National Yang-Ming, Đài Bắc ghi nhận Honokiol có
khả năng bảo vệ chống lại các tổn thơng do nghẽn máu nơi não, cùng với tác dụng ức chế
sự tạo thành các loại-phản ứng oxi hóa nơi các neutrophils bằng cách điều hoà các hệ thống
men sinh học liên hệ đến các tiến trình phản ứng với oxygen nh các men NADPH oxidase,
myeloperoxidase, Cyclooxigennase và GSH peroxidase
Magnolol có hoạt tính chống sng, có thể làm giảm mức prosaglandin E2 (PGE-2)
Hậu phác: ( Hou po)
Hậu phác là vỏ Manglietia officinalis hay M. bilola, thu hoạch nơi các cây từ 15-20 năm
tuổi, trong các tháng 4-6, phơi khô. (Tại Trung hoa: Manglietia mọc nhiều ở Tứ Xuyên, Hồ
Bắc, Triết Giang, Giang Tây )
Hậu phác có những tác dụng:
Khởi động sự di chuyển của Khí, biến đổi Thấp, phá ứ: đợc dùng khi Thấp gây
rối loạn nơi Tỳ và Vị hay Trung, trờng hợp thực phẩm bị ứ gây ra các triệu chứng nh đau
tức ngực, bụng dới , có cảm giác đầy bụng, ăn không ngon, ói mửa và tiêu chảy. Hậu phác
đợc phối hợp với khơng truật (cang-zhu = Rhizoma Atratylodis) và trần bì (chen-pi =
Pericarpium Citri Recticulatae) để trị các chứng đầy, cứng bao tử, ợ chua acid, buồn nôn, ói
mửa. Nếu đau bụng do ăn không tiêu, Hậu phác đợc dùng với Chỉ kế (Zhi-ke = Fructus
Citri Aurantii) .
Làm ấm và biến đổi đờm, dẫn các nghịch khí xuống: dùng để trị khó thở do đờm ứ
tắc, ho và tức ngực. Hậu phác dùng chung với táo nhân và ma hoàng.
Hoa M. offcinalis hay Hậu phác hoa (hou po hua) đợc xem là có vị cay, tính ấm và
thơm. Có những tác dụng trị liệu nh vỏ nhng yếu hơn và tác động chủ yếu vào thợng
tiêu và trung tiêu và điều hoà can khí, thờng dùng để trị các chứng đau tức ngực, đau bao
10
tử do mất quân bình giữa can và vị. Liều dùng từ 3-6g. Mới đây tại Trung Quốc ngời ta
phát hiện tác dụng kháng sinh của nớc sắc hậu phác với vi trùng thơng hàn, thổ tả,
Staphylococ và lỵ Shiga.
Tân di hoa (xin yi hua) (BarbarrianBud).
Vị thuốc là nụ hoa của các cây M. liliflora, M. biondii hay M. denudata, thu hái vào
đầu mùa xuân khi hoa cha nở hoàn toàn. Nhật dợc gọi vị thuốc là Shini và Triều Tiên là
Sinihwa.
Vị thuốc, ghi chép trong Thần Nông bản thảo, đợc xem là có vị cay, tính ấm có tác
động vào các kinh mạch thuộc phế và vị, có những tác dụng: trị đợc phong hàn và làm
thông thoáng đờng thở qua mũi, thờng đợc dùng để trị các trờng hợp nghẹt mũi, chảy
nớc mũi, không ngửi thấy mùi, và các chứng nhức đầu liên hệ. Tác dụng trị liệu tuỳ thuộc
Ra hoa vào tháng 5 đến tháng 8 của năm thứ
hai.
Cây có nguồn gốc ở Địa Trung Hải và mọc
hoang dại ở nhiều nơi trên thế giới nh miền Nam và
Trung Âu, Bắc Phi, Trung Đông, ấn Độ, Trung
Quốc, Bắc và Nam Mỹ [6], [14], [17]. Cây cúc gai Silybum marianum
(L.) Gaertn.
Về thành phần hóa học
Quả cúc gai Silybum marianum (L.) Gaertn. là bộ phận đợc dùng làm thuốc theo
kinh nghiệm cổ truyền của Châu Âu từ xa xa nên đã đợc chú ý quan tâm nghiên cứu. Các
11
nhà nghiên cứu ngời Đức là những ngời đầu tiên đặt vấn đề nghiên cứu thành phần hoá
học của quả cúc gai. Năm 1960 B. Janiak và R. Hansel đã phân lập đợc 2 hợp chất phenol
đặt tên là Silybum substance E5 và E6 và ban đầu mới chỉ dự đoán đó là các flavon dựa trên
phổ UV, IR và các phản ứng màu [18]. Đến năm 1967, Hansel và Schopflin làm sáng tỏ
đợc một phần cấu trúc của chất E6 là 3-methyltaxifolin liên kết với một chromandiol và
gọi chất đó là silybin [19]. Một năm sau Pelter và Hansel xác định đợc silybin là một chất
kết hợp bởi taxifolin và coniferyl alcol (1). Silybin là chất đầu tiên đợc biết có kiểu cấu
trúc này và nhóm chất mới đợc gọi là nhóm flavonolignan [20].
Tuy nhiên, việc xác định đợc cấu
trúc không gian của silybin là một
quá trình lâu dài và khó khăn. Năm
1975, Pelter và Hansel đã chứng
minh silybin có cấu hình 2R, 3R
(2). Năm 1979, Merlini và cs. đã
OH
OH
OCH
3
H
H
H
H
3
2
7'
8'
2
2
3
O
O
HO
OH
OH
O
O
CH
2
OH
OH
OCH
3
H
H
silydianin, một flavonolignan khác là silychristin cũng
đã đợc Wagner H. và cs. phân lập và xác định cấu
O
OH
HO
O
OH
O
O
OH
H
H
HO OCH
3
4
trúc (5) lần đầu tiên vào năm 1971. Sau đó dựa trên phân tích phổ khối, phổ NMR và phổ
nhiễu xạ tia X nhóm tác giả đã xác định đợc hoá học lập thể ở các vị trí carbon số 2 và 3
là 2R, 3R [25]. Năm 1976, Hansel và cs. đa ra một đề xuất cấu trúc khác với sự thay đổi
về vị trí của 2 nhóm hydroxyl ở vòng B dựa vào phân tích sản phẩm dehydrat hoá của
silychristin. Nhng sau đó Wagner đã khẳng định lại cấu trúc đa ra ban đầu nhờ phổ
13
C-
NMR của cả silychristin và sản phẩm dehydrat hoá của nó [25], [26], [27]. Tiếp đó cấu
12
hình ở các vị trí và của vòng dihydrofuran đợc xác định là R và S. Gần đây, Smith
và cs. đã phân lập và xác định cấu trúc đợc thêm một đồng phân lập thể của chất
silychristin đã biết từ quả Silybum marianum (L.) Gaertn. và gọi tên nó là silychristin B (6)
[28].
2
OH
6
Năm 1979, Arnone A. và cs. lần đầu tiên phân lập đợc isosilybin, một đồng phân
khác của silybin từ quả cúc gai. Đây cũng là một hỗn hợp hai đồng phân lập thể rất khó
tách riêng tơng tự nh silybin [29]. Mãi đến năm 2003, hai nhóm nghiên cứu của Lee
D.Y. và của Kim Nam-Cheol mới tách đợc chúng bằng HPLC pha đảo điều chế và khẳng
định cấu trúc lập thể của chúng là isosilybin A(7): 2R, 3R, 7R, 8R và isosilybin B(8):
2R, 3R, 7S, 8S [23], [24].
O
O
HO
OH
OH
O
OCH
2
OH
OCH
3
OH
2
3
7'
8'
7
O
O
O--rhamnosid-7-O-
-galacturonid, apigenin-7-O--glucoronid 6-ethyl ester, apigenin-7-
O-
-glucosid, apigenin-7-O--galactosid, kaempferol-3-O--rhamnosid và kaempferol
[36].
Về tác dụng dợc lý
Silymarin và silybin ức chế tác dụng độc với gan của carbon tetraclorid, paracetamol,
amitriptylin, ethanol, erythromycin estolat, galactosamin, nortriptylin và tert-butyl
hydroperoxyd trên tế bào gan chuột cống trắng in vitro [36], [37].
Silymarin với liều 15-800mg/kg thể trọng tiêm phúc mạc cho chó hoặc cho chuột
nhắt và chuột cống trắng uống đã chống đợc các tổn thơng gan gây bởi carbon
tetraclorid. Tác dụng này là nhờ vào hoạt tính chống oxy hóa và ổn định màng tế bào gan
của silymarin [38].
13
Silymarin và silybin đã ức chế rõ rệt tổn thơng gan gây bởi paracetamol, các chất
độc của nấm Amanita falloides (phalloidin và
-amanitin), ethanol, galactosamin, halothan,
hydrocarbon thơm đa vòng và cả tia xạ trên các mô hình động vật thực nghiệm khác nhau
[39].
- Tác dụng sinh học của cúc gai đã đợc các nhà khoa học trên khắp thế giới chú ý nghiên
cứu. Hỗn hợp flavonolignan chiết xuất từ quả cúc gai với tên gọi là silymarin đợc xác
định là thành phần hoạt chất và là đối tợng nghiên cứu chính.
- Tác dụng bảo vệ gan là tác dụng nổi bật của silymarin. Phần lớn các nghiên cứu chứng
minh cơ chế tác dụng và khẳng định tác dụng bảo vệ gan của silymarin chủ yếu là do hoạt
tính chống oxy hoá, quét gốc tự do, chống peroxy hoá lipid, làm ổn định và điều hoà tính
thấm của màng tế bào chống sự phá hoại của các tác nhân gây độc, kích thích tổng hợp
protein giúp tái sinh tế bào gan, chống chuyển dạng các tế bào hình sao thành các nguyên
bào sợi gây tích tụ các sợi colagen làm xơ hoá gan. Với tác dụng và cơ chế tác dụng rõ
ràng, silymarin có thể đợc coi là một thuốc bảo vệ gan điển hình. Trên lâm sàng,
Cây bạch thợc
(Paeonia lactiflora Pall)
a. Công dụng:
Bạch thợc chữa đau bụng, tả lỵ do ruột co bóp quá mạnh, lng ngực đau, chân tay
nhức mỏi, nhức đầu, mắt hoa, bệnh về mạch nh viêm mạch huyết khối, tắc mạch, nghẽn
mạch não, kinh nguyệt không đều, bê kinh, xích bạch đới, mô hôi trộn, tiểu tiện khó.
b. Tác dụng dợc lý
Tác dụng kháng khuẩn: Cao nớc bạch thợc có tác dụng kháng khuẩn trên
Shigella, Vibrio cholerae, Staphylococcus, Salmonella, Pneumococcus và Corynebacterium
diphtheriae.
14
Tác dụng trên co bóp ruột thỏ cô lập
- Nớc sắc bạch thợc, ở nông độ thấp gây ức chế, nồng độ cao, lúc đầu hng phấn,
sau ức chế.
- Nớc sắc bài Bạch thợc cam thảo thang một bài thuốc của Trơng Trọng
Cảnh, liều thấp có tác dụng kích thích sự co bóp bình thờng, liều cao gây ức chế.
Tác dụng kháng cholin: Cao methanol 50% và hoạt chất paeniflorin có tác dụng
anticholinergic trên chuột cống trắng in vivo mà biểu hiện là tác dụng chống co thắt, chống
tiêu chảy. Ngoài ra, còn tác dụng giảm đau.
Cao thân và lá có tác dụng chống thực khuẩn thể. Nớc sắc rễ có tác dụng ứch chế
sự biến hoá sinh học acid arachidonic in vivo và in vitro. Trong thí nghiệm có so sánh với
-epoxy-3,23-
dihydroxyolean-28,13
-olid). Ngoài ra, các flavonoid từ lá (1.06%) bao gồm kaempferol-3-
O-
-D glucosid và kaempferol-3,7-di-O--glucosid.
Năm 2004, Nhóm nghiên cứu của Hyun Ok Yang và cs đã phân lập đợc từ loài
Paeonia lactiflora hợp chất Paenoniflorin, một hợp chất có hàm lợng cao và đã có rất
nhiều các nghiên cứu về hoạt tính của hợp chất này [41].
Năm 2006, Dean Guo và cs [42] trong các nghiên cứu hoá học về loài Paeonia
lactiflora đã phân lập đợc 2-methoxy-5(E)-propenyl-phenol-
-vicinanoside đây là một
hợp chất phenolic glycosid mới lần đâu tiên phân lập từ hợp chất thiên nhiên.
Ngoài ra, theo các tài liệu nghiên cứu về chi Paeonia có khoảng 102 hợp chất đợc
phân lập từ chi này. Dới đây là một số hợp chất điển hình có mặt trong thành phần hoá
học của loài Paeonia lactiflora
5. Cây bách bệnh (Eurycoma longifolia Jack)
Tên khoa học: Eurycoma longifolia Jack thuộc họ Thanh thất (Simaroubaceae)
Tên thờng gọi: Bách bệnh, Lông bẹt, bá bịnh, mật nhơn, tho nan.
Phân bố: Erycoma Jack là chi nhỏ gồm những đại diện là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ,
phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Đông Nam á. Vùng Đông Nam á có 3 loài và một vài
dới loài, trong đó đáng chú ý nhất là loài bách bệnh phân bố rộng rãi từ Myanmar đến các
nớc Đông Dơng, Thái lan, Malaysia, đảo Sumantra. ở Việt Nam, bách bệnh phân bố rải
15
rác ở các tỉnh vùng núi thấp (dới 1000 m) và trung du. Các tỉnh Tây Nguyên và miền
Trung gặp nhiều hơn các tỉnh phía Bắc
Công dụng:
Rễ thờng dùng nhất để chữa khí h, huyết kém, ăn uống không tiêu, trong ngực có
cục tích, gân đờ, xơng yếu, chân tay đau yếu.
là Bách-nghĩa là 100). Trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về hoá học cũng
nh hoạt tính sinh học của cây thuốc quý này, nhằm khai thác triệt để tiềm năng y học của
cây thuốc quí này.
Năm 1970, ở Việt Nam đã có những nghiên cứu về hoá học của cây bách bệnh, các
nghiên cứu này đợc thực hiện bởi các tác giả L.V Thoi, N.N Suong [43], [44], kết quả
nghiên cứu cho thấy trong thành phần hoá học của cây bách bệnh có hợp chất
16
eurycomalactone; -sitosterol; campesterol; 2,6-dimethoxybenzoquinone và
dihydroeurycomalactone.
Năm 1982, Các tác giả Muchsin Darise và cs [45] đã phát hiện trong thành phần
của rễ cây bách bệnh có chứa eurycomanone, eurycomanol và eurycomanone-2-O-
-
glycopyranoside, 9-hydroxycanthin-6-one. Cùng thời gian này, nhóm tác giả tại Việt Nam
cũng đã có những nghiên cứu tiếp theo về thành phần hoá học của cây bách bệnh, kết quả
nghiên cứu cho thấy trong thành phần cây bách bệnh của Việt Nam có eurycomalactone,
campesterol; 2,6-dimethoxybenzoquinone, dihydroeurycomalactone và 7-methoxy-
-
carboline-1-propionic acid [46].
Năm 1983, nhóm tác giả Muchsin Darise và cs [47] đã phát hiện đợc
-sitosterol;
9-hydroxycanthin-6-one-N-oxide trong lá cây bách bệnh.
Năm 1986, nhóm tác giả Chan, L., và cs [48] đã có những nghiên cứu đầu tiên về
hoạt tính sinh học của cây bách bệnh và tìm ra khả năng chống sốt rét của cây này.
Năm 1989, Nhóm tác giả K. L. Chan và cs [49] đã nghiên cứu thành phần hoá học
và hoạt tính chống sốt rét của cây bách bệnh, kết quả đã tìm ra các hợp chất Eurycomanol-
2-O-
-glycopyranoside; eurycomanol từ rễ cây bách bệnh thể hiện hoạt tính chống sốt rét.
Năm 1990, Nhóm tác giả Hiroshi Morita và cs [50] tìm thấy các hợp chất
Eurycomanol, Klaineanone; 11-Ketone trong thành phần hóa học của cây bách bệnh.
diacetyl-13
(21)-epoxyeurycomanone; 12-acetyl-13,12-dihydroeurcomanone; 15 -acetyl-
14-hydroxyklaineanone; 6
-acetoxy-14,15-dihydroxyklaineanone; 6-acetoxy-14,15-
dihydroxyklaineanone. Hoạt tính gây độc tế bào của các hợp chất trên đã đợc nghiên cứu,
kết quả cho thấy hợp chất 6-dehydroxylongilactone và 7
-hydroxyeurycomalactone thể
hiện hoạt tính gây độc tế bào cao. Nhóm tác giả này tiếp tục các nghiên cứu về hoá học và
hoạt tính sinh học đã phân lập đợc 4 hợp chất erylene, 14-deacetyl erylene và longilene
peroxide, teurilene và đã tiến hành các nghiên cứu về độc tế bào của các hợp chất này [58].
Năm 1993, một nhóm nghiên cứu khác do tác giả Itokawa, H. và cs [57] đã phân lập đợc 6
hợp chất eurylactone A, eurylactone B, laurycolactone A, laurycolactone B.
17
Năm 1994, nhóm tác giả Mitsunaga và cs [59] đã phân lập đợc 9,10-
dimethoxycanthin-6-one; 10-hydroxy-9-methoxycanthin-6-one; 11-hydroxy-10-
methoxycanthin-6-one; 5,9-dimethoxycanthin-6-one và 9-methoxy-3-methylcanthin-5,6-
dione.
Năm 2000, nhóm tác giả Hooi Hoon Ang và cs [60] đã phân lập và xác định cấu
trúc của các hợp chất eurycolactone A, eurycolactone B, eurycolactone C từ cây bách bệnh.
Năm 2001, nhóm tác giả S. Jiwajinda và cs [61] đã nghiên cứu thành phần hoá học
và hoạt tính sinh học của cây bách bệnh, đã phân lập đợc longilactone, 6-
dehydroxylongilactone, 11-dehydroxyklaineanone; 15
- dihydroxyklaineanone; 14,15-
dihydroxyklaineanone; 15
-O-acetyl-14-dihydroxyklaineanone.
Năm 2002, Hooi H. Ang và cs [62] đã phân lập đợc eurycolactone E,
eurycolactone F, eurycolactone B và eurycomalactone.
Năm 2003, nhóm tác giả Ping Chung Kuo và cs [63] đã phân lập và xác định cấu
trúc hoá học đợc 3 hợp chất mới: n-pentyl-carboline-1-propionate; 5-hydroxymethyl-9-
Tác dụng dợc lý
Từ lâu các nhà nghiên cứu đã đa ra một số tác dụng dợc lý của loài Ôrô nớc
nh:
ắ Tác dụng kháng khuẩn: Dùng phơng pháp khuếch tán trong môi trờng
thạch ta thấy có tác dụng trên một số loài nh Staphylococcus aureus,
Klebsiellapneumoniae, Proteus vulgaris, Bacillus anthracis, Streptococcus pneumoniae
ắ Tác dụng lợi tiểu: Thử trên chuột cống trắng 100- 150g, đợc nhịn đói qua
đêm, sáng hôm sau cho mỗi con uống NaCl 0,9% 5ml/100g. Dùng cao khô Ôrô đợc chế
biến từ dịch chiết cồn liều 250mg/kg thấy lợng nớc tiểu tăng rõ rệt so với lô đối chứng.
ắ Thử độc tính cấp: Dùng cao khô Ôrô nớc tiêm trong màng bụng cho chuột
nhắt trắng liều 1000mg/kg, chuột không chết.
Các bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian
Theo kinh nghiệm dân gian, Ôrô đã đợc cha ông ta sử dụng trong nhiều bài thuốc
để chữa những bệnh kể cả hiểm nghèo:
ắ Chữa gan lách sng to: Ôrô 30g, cây thóc lép 12g, liên kiều 15g
ắ Chữa đau gan, nhuận gan, giải độc gan: Ôrô 30g, vỏ thân hay lá quao 30g
ắ Chữa tràng nhạc, u và bệnh hạch bạch tuyết: Ôrô 30g, thóc lép 12g, mỏ quạ 20g.
ắ Chữa thấp khớp, đau lng, nhức sơng, tê bại: Rễ Ôrô 35g, canh châu 25g, quế chi
4g, rễ cây kim vàng 18g.
ắ Chữa ho đờm, hen suyễn: Ôrô 30g, thịt lợn nạc 60-120g, nớc 500ml.
ắ Chữa táo bón, nớc tiểu vàng: Rễ Ôrô 35g, vừng đen 30g, lá muồng trâu 18g.
ắ Chữa rong huyết: Rễ Ôrô 35g, bồ hoàng 35g, kinh giới 18g.
ắ Chữa ho gà: Hoa Ôrô 20g tẩm mật ong hay mật mía
ắ Chữa bệnh gan, thủy thũng, đái buốt, đái dắt, nhiễm khuẩn: Cả cây Ôrô 30-60g sắc
uống.
Ngoài ra, búp non và lá Ôrô đắp chữa rắn cắn hay lá Ôrô làm cao để chữa các bệnh
viêm nhiễm thông th
ờng. Lá và ngọn Ôrô chờm nóng vào các chỗ đau nhức, thấp khớp
và đau thần kinh.
Về thành phần hóa học [66], [67], [68]
OH
OH
HO
HO
HO OH
Plucheoside B
O
OR'
RO
MeO
HO
MeO
OMe
OH
OMe
R = Glc or H
R' = H or Glc
Dihydroxymethyl-bis (3,5-dimethoxy-4-
hydroxyphenyl) tetrahydrofuran-9 (or 9)-
O- -glucopyranosid
OH
O
O O
O
O
OH
HO
HO
OH
O
OSyringic acid β-glucopyranosyl ester
O
HO
O
OH
O
O
CH
3
OH
OH
OH
HO
HO
O
H
Cistanoside F
R
CH
3
OH OH
OH
R
Campneoside I OCH
3
Ilicifoliosides A OCH
2
CH
3
Acteoside H
O
HO
OH
OR
2
OR
1
O R
3
R
4
Phenylethyl-O-β-D-
glucopyranosyl-(1-2)-β-D-
H
H
O
OH
OH
OH
OH
(+)-syringaresinol-O- β-
glucopyranoside
O
OH
O
HO
HO
HO
O
OH
OH
OH
HO
HO
HOH
2
C(8R,7′S,8′R)-5,5′-dimethoxylariciresinol 4-
O-β-glucopyranoside
O
OH
OO
O
OH
OH
OH
OH
OH
Verbascoside
OH
OH
HO
O
O
HO
OH
O
O
HO
OH
O
HO
OH
OH
HO
O
(2R)-2-O- β-D-glucopyranosyl-2H-1,4-benzoxazin-3(4H)-one H H H
(2R)-2-O-β-D-glucopyranosyl-4-hydroxy-2H-1,4-benzoxazin- H H OH
-3(4H)-one
(2R)-2-O-β-D-glucopyranosyl-7-hydroxy-2H-1,4-benzoxazin- OH H H
-3(4H)-one
7-chloro-(2R)-2-O-β-D-glucopyranosyl-2H-1,4-benzoxazin- Cl H H
-3(4H)-one
(2R)-2-O-β-D-glucopyranosyl-5-hydroxy-2H-1,4-benzoxazin- H OH H
-3(4H)-one 7. C©y Hoµng liªn « r« Mahonia nepalensis DC. (M. Annamica Gagnep.) [3, 4, 6]
Phân bố và sinh thái
20
Chi Mahonia Nutt gồm các đại diện là cây bụi hay gỗ nhỏ, phân bố ở vùng ôn đới ấm hoặc
cận nhiệt đới châu Á, bao gồm Trung Quốc, Nê Pan, Ấn Độ và một số nước khác ở vùng
trung Á. Ở Việt Nam có 3 loài (Nguyễn tập, 1996).
- Mahonia. bealei (Fort. ) Carr: ở Quản Bạ (Hà Giang).
- Mahonia. japonica (Thumb. ) DC: ở Quản Bạ, Đồng Văn (Hà Giang) : Sìn Hồ (Lai
Châu); Hà Quảng (Cao Bằng); Sa Pa (Lào Cai).
- Mahonia. nepalensis DC: ở Lạc Dương (Lâm Đồng) và Lai Châu.
Nói chung cả
ba laòi đều là những cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể chịu bóng, thường mcj
dưới tán rừng kín thường xanh hay trong các trảng cây bụi trên núi đá vôi với độ cao 1400-
1700m. Cây sinh trưởng tốt trong điều kiện khí hậu ẩm mát quanh năm, nhiệt độ trung bình
15- 16
0
C, lượng mưa 1800- 2800mm/năm. độ ẩm không khí trên 80%. ở những vùng có
hoàng liên ô rô quanh năm có sương mù.
những nghiên cứu tác dụng kháng khuẩn ở Ấn Độ đã không thấy có tác dụng, cũng chưa
thấy có tác dụng kháng nấm, kháng virus. Thử độc tính cấp cao khô chiết cồn hoàng liên ô
rô đã xác định đượ
c LD
50
= 175mg/kg khi tiêm phúc mạc cho chuột cống trắng.
Trong dân gian cây hoàng liên ô rô được dùng để chữa rất nhiều bệnh, do đặc tính
mát, đắng của nó. Nó có tác dụng thanh nhiệt ở phế, vị, gan, thận. Quả lợi tiểu và làm dịu
kích thích. Cả cây hoàng liên ô rô chữa kiết lỵ, tiêu chảy viêm ruột, ăn không tiêu, đau mắt
đỏ viêm da dị ứng, mẩn ngứa mụn nhọt
Dưới đây là một số bài thuốc trong dân gian có dùng cây hoàng liên ô rô:
*Chữa viêm gan cấp tính: Dùng thân hoặc rễ
hoàng liên ô rô 25g, rễ hoàng liên gai 15g,
nhân trần 15g. Sắc uống. Trường hợp hoàng đản dùng đinh lịch tử 4g, long đởm thảo 4g,
sơn chi tử 6g, nhân trần 6g, hoàng cầm 6g. Sắc uống.
21
*. Thường dùng chữa ho lao, sốt cơn, khạc ra máu, lưng gối yếu mỏi, chóng mặt ù tai, mất
ngủ. Dùng lá khô hay quả 8- 12g sắc uống hay phối hợp với các vị thuốc khác. Chữa viêm
ruột, ỉa chảy, viêm da dị ứng, viêm gan vàng da, mắt đau sưng đỏ, dùng rễ hay cây khô 10-
20g sắc uống, dùng riêng hay phối hợp với các vị thuốc khác. Ở Ấn Độ, người ta dùng quả
trị kiết lỵ. Nhân dân thường dùng chữa l
ỵ, ăn uống không tiêu, vàng da, đau mắt.
*. Chữa say nắng: Nếu kèm theo nôn mửa, tiêu chảy, tim hồi hộp khát nước dùng hương
nhu tía 10g, cát căn 10g, diếp cá 10g, cây ban 10g, hoàng liên ô rô 10g, thạch xương bồ 6g,
mộc hương 3g.
*. Chữa lao phổi, ho ra máu hoặc khạc ra đờm lẫn máu: Mỏ quạ 40g, Dây Rung rúc 30g,
Bách bộ và Hoàng liên ô rô, mỗi vị 20g sắc uống.
*. Chữa kiết lỵ, tiêu chảy, viêm ruột ăn không tiêu: Rễ, thân hoặc toàn cây hoàng liên ô rô
15g, rễ cốt khí củ 15g, thái nhỏ sắc u
Umbellatin Jatrorrhizine
22
Magnoflorin
8. Cây mâm xôi (Rubus alceaefolius Poir.,)
Cây Mâm xôi hay còn đợc gọi là Đùm đũm có tên khoa học là Rubus alceaefolius
Poir., thuộc họ Hoa hồng - Rosaceae. Đây là loài cây bụi nhỏ, thân leo có gai to và dẹt.
Cành mọc vơn dài, có nhiều lông. Lá đơn, mọc so le, hình bầu dục, hình trứng hoặc gần
tròn, chia thùy nông, không đều, gân chân vịt, mép khía răng, mặt trên màu lục sẫm phủ
lông lởm chởm, mặt dới có nhiều lông mềm, mịn màu trắng xỉn; cuống lá dài cũng có gai;
lá kèm sớm rụng. Cụm hoa mọc ở kẽ lá hoặc đầu cành thành chùm ngắn; lá bắc giống lá
kèm, hoa màu trắng; cánh hoa 5, mỏng hình tròn, nhị rất nhiều thờng dài bằng cánh hoa,
chỉ nhị dẹt, lá noãn nhiều. Quả hình cầu, gồm nhiều quả hạch tụ họp lại nh dáng mâm xôi,
khi chín màu đỏ tơi, ăn đợc. Ra hoa tháng 2-3, quả tháng 5-7.
Phân bố, sinh thái
Theo Đỗ Huy Bích và cộng sự [3], trên thế
giới chi Rubus có khoảng hơn 400 loài, hầu
hết là cây bụi, mọc thẳng hay bụi trờn,
phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới, cận nhiệt
đới và cả ở vùng nhiệt đới Bắc bán cầu. Một
vài loài đợc trồng lấy quả. ở Việt Nam, chi
này có 50 loài, trong đó Mâm xôi là loài
phân bố tơng đối rộng rãi ở khắp các tỉnh
vùng núi thấp, trung du và đồng bằng. Cây
a sáng và ẩm, thờng mọc trùm lên các cây
Theo các sách về cây thuốc Việt Nam [3], [6], quả Mâm xôi chứa các axít hữu cơ
(chủ yếu là axít citric, malic, salycilic), đờng, pectin. Lá chứa tanin. Tuy nhiên, hiện nay
còn rất ít công trình nghiên cứu đợc công bố về loài R. alceaefolius. Mới chỉ có các nhà
khoa học Trung Quốc nghiên cứu loài này và cũng chỉ nghiên cứu về cây thuốc này mọc ở
Trung Quốc. Còn ở Việt Nam hoàn toàn cha có nghiên cứu nào về cây thuốc quí này.
23
Theo sự tra cứu của chúng tôi, từ cây R. alceaefolius mọc ở Trung Quốc, năm 1998
Gan L. và các đồng nghiệp đã phân lập đợc: corosolic acid (1g), tormentic acid (2g), niga-
inchigoside F1 (3g), trachelosperoside E-1 (4g) và suavissimoside R1 (5g) [6]. Năm 2000,
Gan L. và các đồng nghiệp lại công bố phân lập của alcesefoliside (6g), hyperoside (7g),
vomifoliol (8g),
-sitosterol (9g), daucosterol (10g) và dotriacontyl alcohol (11g) [4]. Năm
2002, nhóm nghiên cứu của Cui C. -B. đã công bố sự phân lập của rubuphenol (12)
sanguiin H-2 ethyl ester (13g), ellagic acid (14g), ethyl gallate (15g), 1,2,3,4,6-penta-O-
galloyl-
-D-glucopyranose (16g) và 1,2,3,6-tetra-O-galloyl--D-glucopyranose (17g) [5].
Dới đây chúng tôi dẫn ra cấu trúc của một số hợp chất đã đợc phân lập từ loài R.
alceaefolius.
Các hợp chất đã đợc phân lập từ cây Rubus alceaefolius
HO
HO
O
OH
1g
HO
HO
O
OH
OH
OH
OH
HO
O
4g
HO
HO
O
O
HOOC
O
OH
OH
OHOH
OH
5g
O
OH
OH
OOH
HO
O
O
OH OH
OH
OH
2
CH
3
HO
OH
OH
15g
O
GO
OG
OG
RO
GO
OH
OH
OH
C
O
G =
16g: R=glc; 17g: R=H
O
O
H
O
O
O
O
OH
9. Cây bồ kết (Gleditschia australis Hemsl)