công tác lập chứng từ thanh toán hàng xuất khẩu của doanh nghiệp theo phương thức tín dụng chứng từ - Pdf 13

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
PHẦN I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC LẬP CHỨNG TỪ
THANH TOÁN HÀNG XUẤT KHẨU CỦA DOANH
NGHIỆP THEO PHƯƠNG THỨC
TÍN DỤNG CHỨNG TỪ.
A. KHÁI QUÁT CHỨNG TỪ THANH TOÁN.
1. Khái niệm chứng từ:
Chứng từ là những văn bản chính thức hoặc được coi là chính thức chứa đựng các chi
tiết, các thông tin cần thiết cho việc chứng minh thông báo các sự kiện hoặc cho việc lập những
giấy tờ, văn bản khác.
2. Hệ thống chứng từ:
2.1. Chứng từ hàng hoá:
Chứng từ hàng hóa là các loại chứng từ thể hiện những chi tiết riêng biệt về mặt: số
lượng, chất lượng, giá trị, bao bì, của một lô hàng, nó có thể do người bán lập và/hoặc được
xác thực của một bên thứ 3.
2.2. Chứng từ xác minh bản chất hàng hoá:
Những chứng từ xác minh bản chất hàng hóa là những chứng từ do doanh nghiệp sản
xuất hàng hóa hoặc do một tổ chức quản lý chất lượng hàng hóa (như cơ quan kiểm nghiệm
phẩm chất hàng xuất khẩu, cơ quan giám định, cơ quản kiểm dịch ), hoặc do người bán cấp để
xác định về số lượng, trọng lượng, phẩm chất hoặc thuộc tính vô trùng của hàng hóa
2.3. Chứng từ vận tải :
Chứng từ vận tải là những chứng từ do người chuyên chở, người bốc dỡ hoặc đại diện
của họ cấp. Trong đó người ta xác định tình trạng hàng hóa không phải với tư cách là đối tượng
mua bán, mà với tư cách là đối tượng chuyên chở và bốc dỡ đồng thời người ta chứng minh
hoặc xác định rõ trách nhiệm về hàng hóa, về việc bốc dỡ hay về việc chuyên chở trong quan hệ
giữa một bên là người chuyên chở, bốc dỡ với một bên là người chủ hàng (tức là người gửi
hàng) và người vận tải. Điều này nhằm xác nhận với người bán rằng mình đã nhận hàng để
chuyên chở và kể từ khi cung cấp chứng từ, thì người vận tải phải chịu mọi trách nhiệm về vận
chuyển hàng hóa.
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 1

THANH TOÁN TRONG XK.
I. Phương thức tín dụng chứng từ:
1. Khái niệm:
Theo UCP, phương thức tín dụng chứng từ là bất cứ một thoả thuận nào và
dù được mô tả như thế nào, mà theo đó một ngân hàng (Ngân hàng mở - The
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 2
Ngân hàng thông báo
L/C (Advising bank)
Ngân hàng phát hành
L/C (Issuing bank)
Người xuất khẩu
(Beneficiary)
Người nhập khẩu
(Applicant)
(2)
(1)
(3)(5)(8)
(4)
(9) (10)
(6)
(7)
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
Issuing bank) hành động theo yêu cầu và chỉ thị của một khách hàng (người yêu
cầu - The applicant for credit) tiến hành việc trả tiền cho một người thứ ba (Người
hưởng lợi - Benificiary) hoặc thay mặt chính mình:
+ Phải tiến hành việc trả tiền cho một người thứ ba (Người hưởng lợi -
Beneficiary) hoặc theo lệnh của người này, hoặc phải chấp nhận và trả tiền những
hối phiếu do người hưởng lợi ký phát, hoặc
+ Ủy nhiệm cho ngân hàng khác thực hiện việc trả tiền đó, hoặc chấp nhận
và trả tiền những hối phiếu đó, hoặc

người nhập khẩu yêu cầu người nhập khẩu thanh toán hoặc nhận nợ.
(10) Người nhập khẩu kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp
với L/C thì hoàn trả tiền cho ngân hàng mở, hoặc chấp nhận nợ và được
lấy chứng từ hàng hoá để nhận hàng. Nếu không phù hợp thì có quyền từ
chối trả tiền.
3. Qui định về chứng từ thanh toán:
3.1. Trong L/C:
Thư tín dụng là một văn bản do ngân hàng mở thiết lập theo yêu cầu của
người nhập khẩu (người xin mở L/C) cam kết trả tiền cho người xuất khẩu (người
hưởng lợi) một số tiền nhất định, trong một thời gian nhất định với điều kiện
người này phải thực hiện đúng những điều khoản quy định trong L/C đó.
Thư tín dụng là một văn bản pháp lý quan trọng của phương thức tín dụng
chứng từ, không có L/C người xuất khẩu sẽ không giao hàng và như vậy phương
thức này không được hình thành.
Trong L/C, người nhập khẩu thông qua ngân hàng mở đưa ra những quy
định cụ thể về bộ chứng từ trên từng khía cạnh chẳng hạn như số loại chứng từ
phải xuất trình, số lượng chứng từ phải làm đối với từng loại (thông thường lập 3
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 4
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
bản), nội dung cơ bản được yêu cầu đối với từng loại, thời hạn muộn nhất phải
xuất trình các chứng từ, quy định cách thức trả tiền Qua đó, người xuất khẩu phải
kiểm tra kỹ lưỡng từng quy định đó để tránh trường hợp sai sót dẫn đến không
được thanh toán.
3.2. Trong hợp đồng:
Hợp đồng được xem như lời cam kết hay một sự thoả thuận có tính pháp lý
giữa hai bên trong đó có các khoản mục qui định trách nhiệm và quyền lợi của các
bên. Trong kinh doanh xuất nhập khẩu, khi có tranh chấp xảy ra thì hợp đồng
được xem như một văn bản có tính pháp lý cao góp phần vào việc giải quyết tranh
chấp giữa các bên. Hợp đồng trong xuất khẩu cũng qui định rõ hình thức thanh
toán và bộ chứng từ cần thiết mà người xuất khẩu phải xuất trình để được thanh

1. Lập hoá đơn thương mại:
1.1. Khái niệm:
Hóa đơn thương mại là chứng từ quan trọng nhất và cơ bản của của các
chứng từ hàng hóa cũng như trong khâu thanh toán. Hóa đơn thương mại do người
bán lập và xuất trình cho người mua sau khi đã gửi hàng. Đó là yêu cầu của người
bán đòi người mua phải trả tiền theo tổng số tiền hàng đã được ghi trên hóa đơn.
1.2. Tác dụng của hoá đơn thương mại:
1.2.1. Đối với người bán:
Hóa đơn thương mại là chứng từ xác nhận số lượng, trị giá hàng hoá dịch
vụ mà người bán cung cấp cho người mua, nó là cơ sở để người bán lập chứng từ
tài chính (hối phiếu, lệnh nhờ thu ) để đòi tiền người mua.
1.2.2. Đối với người mua:
Hoá đơn thương mại là cơ sở để người mua kiểm tra việc giao hàng của
người bán có phù hợp với quy định trong hợp đồng, kiểm tra số tiền ghi trên hối
phiếu có phù hợp với trị giá hàng hoá hay không. Đồng thời người mua cũng dựa
vào số lượng và trị giá ghi trên hoá đơn để làm cơ sở khai báo với hải quan, tính
thuế xuất - nhập khẩu và đồng thời cung cấp những thông tin chi tiết hàng hoá cần
thiết cho việc thống kê, đối chiếu theo dõi việc thực hiện hợp đồng. Đối với các tổ
chức tài chính, trong quan hệ tín dụng, hoá đơn thương mại cùng với chứng từ vận
tải được sử dụng để cầm cố khi vay vốn. Hoá đơn thương mại là chứng từ quan
trọng, là trọng tâm của bộ chứng từ thanh toán và là chứng từ không thể thiếu
được trong bộ chứng từ. Đa số các chứng từ khác được thành lập dựa vào hoá đơn
thương mại.
1.2.3. Đối với cơ quan hữu quan:
Cơ quan Hải quan sử dụng hoá đơn thương mại để kiểm tra đối chiếu giữa
số lượng hàng thực tế và hợp đồng để áp dụng thuế suất và tính thuế xuất - nhập
khẩu.
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
1.2.4. Đối với toà án hay trọng tài kinh tế:

cho phép.
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
- Nếu trong L/C đề cập đến giấy phép nhập khẩu, đơn đặt hàng của người
mua và những ghi chú khác thì những chi tiết này phải ghi trong hoá đơn.
1.5. Các loại hoá đơn khác:
Thực tế trong thanh toán quốc tế ngoài hoá đơn thương mại tuỳ theo mục
đích sử dụng trong từng trường hợp cụ thể còn có các loại hoá đơn sau:
1.5.1. Hoá đơn tạm tính (Provisional invoice).
Là hoá đơn dùng để tính toàn bộ giá trị hàng hoá theo giá tạm tính để thanh
toán từng phần trong trường hợp giao hàng nhiều lần. Khi có hoá đơn chính thức
sẽ thanh toán phần chênh lệch giữa hoá đơn chính thức và hoá đơn tạm tính.
1.5.2. Hoá đơn chiếu lệ (Proforma invoice).
Là hoá đơn không dùng để thanh toán mà được sử dụng để xin giấy phép
xuất - nhập khẩu, để chào hàng, trưng bày, triển lãm, quảng cáo…
1.5.3. Hoá đơn chi tiết (Detail invoice).
Là hoá đơn dùng mô tả chi tiết hàng hoá trong trường hợp mặt hàng đa
dạng, nhiều loại, quy cách, linh kiện, phụ tùng…nên cần phải được mô tả cụ thể.
1.5.4. Hoá đơn lãnh sự (Consular invoice).
Là hoá đơn dùng để làm thủ tục hải quan theo quy định của một số nước. Sử
dụng hoá đơn này để xin xác nhận của sứ quán nước nhập khẩu tại nước xuất
khẩu.
1.5.5. Hoá đơn hải quan (Customs invoice).
Là hoá đơn dùng khai báo và làm thủ tục hải quan khi nhập hàng theo quy
định ở một số nước nhằm để thuận tiện cho việc thống kê hải quan, xác định
nguồn gốc xuất xứ hàng hoá, xác định giá bán hàng hoá, ngăn chặn tình trạng khai
báo giá không chính xác để trốn thuế, v.v…
2. Chứng từ vận tải (Bill of Transport).
2.1. Khái niệm:
Chứng từ vận tải còn gọi là vận đơn hoặc vận tải đơn (Transport Receipt) là

người chủ sỡ hữu hàng hoá.
• Vận đơn đường biển được lưu thông và chuyển nhượng từ tay người này
sang tay người khác nên vận đơn đường biển được dùng để cầm cố, mua bán…
• Vận đơn đường biển là chứng từ sỡ hữu nên nó là loại chứng từ quan
trọng nhất, giữ vị trí đặc biệt trong bộ chứng từ thương mại.
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
2.2.1.3. Nội dung của B/L:
Vận đơn đường biển được lập theo mẫu in sẵn của từng đơn vị vận chuyển
và phải phản ánh những nội dung sau:
• Tên và địa chỉ của hãng tàu hoặc đại lý của hãng tàu.
• Tên và địa chỉ của người gửi hàng (Shipper), tức là tên của nhà xuất
khẩu.
• Tên và địa chỉ của người nhận hàng (Consignee): người vận chuyển có
nghĩa vụ ký phát vận đơn theo yêu cầu của người gửi hàng bằng các cách sau đây:
 Nếu là vận đơn đích danh thì ghi rõ tên người nhận hàng.
 Nếu là vận đơn theo lệnh thì ghi: To order (theo lệnh), thông thường khi
phát hành vận đơn theo lệnh, người phát hành vận đơn có những cách ghi sau:
 Giao hàng theo lệnh người nhận hàng – To order of consignee.
 Giao hàng theo lệnh của người gởi hàng – To order of shipper.
 Giao hàng theo lệnh của ngân hàng (ghi rõ tên ngân hàng) - To order of
Name’s bank…
Nếu B/L sử dụng trong phương thức tín dụng chứng từ thì ghi tên ngân
hàng mở L/C. Như vậy, ngân hàng mở L/C là ngân hàng nắm quyền chi phối lô
hàng nhờ nắm được vận đơn.
Theo đó, ngân hàng trở thành người chủ sỡ hữu hàng hoá và chỉ khi nào
người mua trả tiền thì ngân hàng mới ký chuyển nhượng vận đơn cho bên mua để
người mua làm thủ tục nhận hàng.
 Giao hàng cho người cầm vận đơn (To order bearer)- ai cầm vận đơn sẽ
là người được nhận hàng hoá.

đơn đích danh.
Trong thanh toán quốc tế để đảm bảo người mua thanh toán tiền đúng hạn,
ngân hàng cần khống chế bộ chứng từ thanh toán, nên sau chữ “to order” là tên
ngân hàng mở L/C. Ngân hàng trở thành người sỡ hữu hàng hoá, chỉ khi nào
người mua đồng ý trả tiền, hoặc ký chấp nhận hối phiếu thì ngân hàng mới trao bộ
chứng từ thanh toán để làm cơ sở nhận hàng và B/L sẽ được ngân hàng chuyển
nhượng cho người mua thông qua thủ tục ký hậu. Phải có chữ ký của ngân hàng
thì B/L mới trở nên hợp lệ, mới dễ dàng trong việc nhận hàng. Loại vận đơn này
thường được sử dụng rộng rãi và phổ biến trong thanh toán quốc tế.
2.2.1.4.1.3. Vận đơn xuất trình (To bearer bill of lading):
Là vận đơn không ghi tên người nhận hàng hoặc theo lệnh nên hàng hoá sẽ
được giao cho người nào xuất trình vận đơn. Người nào cầm vận đơn người đó sẽ
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
là người sỡ hữu hàng hoá. Loại vận đơn này chuyển nhượng bằng cách trao tay
không cần thông qua thủ tục ký hậu.
2.2.1.4.1.4. Vận đơn đường biển không lưu thông (Non – Negotiable Sea Way
bill):
Là vận đơn đường biển thể hiện chuyên chở hàng hoá đường biển nhưng
không có giá trị lưu thông, nghĩa là không được chuyển nhượng. Dựa theo điều 24
UCP 500 thì về cơ bản, nội dung của vận đơn đường biển không lưu thông giống
như vận đơn đường biển lưu thông theo điều 23 UCP 500 nhưng chỉ khác nhau về
tính lưu thông của vận đơn. Do sự tiến bộ khoa học kỹ thuật hiện nay trong ngành
vận tải đường biển mà trong quá trình vận chuyển hàng hoá giữa những nước gần
nhau, thời gian vận chuyển ngắn nên dẫn đến tình trạng hàng hoá đến nơi mà
chứng từ chuyển qua ngân hàng chưa đến kịp. Điều này gây chậm trễ trong việc
nhận hàng và để giải quyết tình trạng trên ta thấy xuất hiện vận đơn đường biển
không lưu thông. Vận đơn này được xem như là chứng từ chứng minh cho việc
chuyên chở hàng hoá đường biển, hàng hoá sẽ được giao cho người nhận hàng chỉ
định ghi rõ trong hồ sơ vận tải mà không phải xuất trình vận đơn. Do đó bản thân

2.2.1.4.4.2. Vận đơn nhận hàng để xếp (Received for shipment bill of lading):
Vận đơn được cấp khi nhận hàng chưa xếp xuống tàu. Trong thực tế khi gởi
hàng lúc đầu người gởi hàng sẽ nhận “ vận đơn nhận hàng để xếp” và sau khi xếp
hàng xong thì đổi lấy “vận đơn xếp hàng”. Nếu chỉ xuất trình vận đơn nhận hàng
để xếp thì ngân hàng sẽ từ chối thanh toán. Nếu vận đơn này đã được đổi lấy vận
đơn xếp hàng thì ngân hàng mới chấp nhận thanh toán.
 Ngoài các loại vận đơn nói trên, còn có những loại vận đơn sau đây:
• Vận đơn liên hợp (Combined transport bill of lading): Theo điều 26
UCP còn được gọi là chứng từ vận tải đa phương thức (Multimodel transport
document) hay là vận đơn chuyển tải trong trường hợp kết hợp hai hay nhiều
phương thức vận tải khác nhau từ chỗ nhận hàng đến chỗ giao hàng. Hàng hoá
chuyên chở thường đóng thành đơn vị lớn đặt trong các container, palette…nên
thường phối hợp nhiều chứng từ với nhau. Chứng từ vận chuyển liên hợp bao gồm
các nội dung giống như vận đơn đồng thời xác nhận trách nhiệm pháp lý của
người điều hành vận chuyển liên hợp bắt đầu từ nơi nhận đến kết thúc ở nơi giao
hàng, số bản gốc được lập, chi phí vận chuyển. Ngân hàng sẽ chấp nhận chứng từ
này nếu có ghi rõ chuyển tải trong L/C miễn là toàn bộ vận chuyển được ghi trong
cùng một chứng từ (điều 26b UCP 500).
• Vận đơn rút gọn (Short bill of lading): hay còn được gọi vận đơn đơn
giản: là vận đơn không ghi đầy đủ các chi tiết các điều khoản, chỉ bao gồm các
điều khoản chung tuy nhiên vận đơn này cũng có giá trị.
• Vận đơn đến chậm (Stale bill of lading): là vận đơn đến chậm so với
hàng hoá. Do điều kiện địa lý mà tàu và vận đơn không đến cùng một lúc. Vận
đơn đến quá chậm sẽ ảnh hưởng đến hàng hoá: hàng hoá có thể bị hỏng, tốn tiền
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
lưu kho lưu bãi. Ngân hàng sẽ từ chối những vận đơn đến chậm. Theo thông lệ
quốc tế vận đơn được xuất trình trong phạm vi thời hạn xuất trình chứng từ của tín
dụng hoặc trong vòng 21 ngày kể từ ngày xếp hàng lên tàu trừ khi tín dụng có quy
định thời hạn khác.

Theo điều 28 UCP 500 đây là các chứng từ xác nhận việc chuyên chở hàng
bằng đường bộ, đường sắt hoặc đường thuỷ nội địa do người chuyên chở là các
công ty vận chuyển hay đại lý cấp.
Các chứng từ vận tải này không phải là chứng từ sỡ hữu hàng hoá nên
không có giá trị lưu thông và không được chuyển nhượng. Vì thế có thể phát hành
nhiều bản chính hoặc bản sao tuỳ ý.
Ngoài ra còn có biên lai bưu điện và biên nhận chuyển hàng: (Courier and
post receipts). Theo điều 29 UCP 500 việc chuyên chở hàng hoá có thể được
chuyên chở bằng đường bưu điện hoặc bằng chuyển phát nhanh do cơ quan bưu
điện hoặc các hãng chuyển phát nhanh nhưng thường là những hàng nhẹ, quý
hiếm, khối lượng tương đối ít, chứng từ quan trọng và tài liệu mật. Các chứng từ
này không có giá trị lưu thông và hàng hoá sẽ được giao tận tay theo đúng tên, địa
chỉ của người nhận hàng ghi trong chứng từ.
3. Chứng từ bảo hiểm:
3.1. Khái niệm:
Chứng từ bảo hiểm là chứng từ do công ty bảo hiểm cấp cho người mua bảo
hiểm hàng hóa trong quá trình chuyên chở hàng hoá.
3.2. Mục đích của chứng từ bảo hiểm:
• Chứng minh cho một hợp đồng bảo hiểm (Insurance Contract) đã được ký
kết và đang thực hiện.
• Xác nhận việc thu phí bảo hiểm và do đó khẳng định hợp đồng bảo hiểm
đã có hiệu lực.
• Là căn cứ để khiếu nại công ty bảo hiểm thực hiện hợp đồng bảo hiểm
khi có sự cố xảy ra đối với hàng hoá được bảo hiểm.
3.3. Phân loại chứng từ bảo hiểm:
3.3.1. Bảo hiểm đơn (Insurance Policy):
Là chứng từ do công ty bảo hiểm cấp cho người mua bảo hiểm thể hiện
những điều kiện chung và có tính chất thường xuyên về quy định trách nhiệm ràng
buộc của người bảo hiểm.
Bên cạnh đó bảo hiểm đơn còn quy định các điều kiện riêng biệt cụ thể như

3.5. Lưu ý khi lập chứng từ bảo hiểm:
• Chứng từ bảo hiểm phải do công ty bảo hiểm hoặc đại lý bảo hiểm cấp
mới có giá trị, nếu chứng từ bảo hiểm do người môi giới bảo hiểm cấp thì không
có giá trị và sẽ bị ngân hàng từ chối (ngoại trừ được quy định trong L/C).
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 16
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
• Loại tiền ghi trong chứng từ bảo hiểm phải phù hợp với loại tiền ghi L/C.
Nếu không phù hợp thì ngân hàng sẽ từ chối chấp nhận.
• Ngày hiệu lực của chứng từ bảo hiểm được tính từ ngày phát hành chứng
từ bảo hiểm. Nếu ngày phát hành chứng từ bảo hiểm trễ hơn ngày gửi hàng hoặc
ngày cấp vận đơn thì ngân hàng sẽ từ chối chấp nhận thanh toán vì có nguy cơ tổn
thất xảy ra sẽ không được công ty bảo hiểm bồi thường do chênh lệch về ngày
tháng nói trên.
• Trị giá bảo hiểm phải giống như trong L/C quy định. Nếu hàng hoá mua
theo giá CIF thì giá trị bảo hiểm là 110% CIF (giá CIF + 10%).
• Trong L/C phải ghi rõ mua bảo hiểm loại nào thì chứng từ phải ghi rõ loại
bảo hiểm phải mua.
• Mô tả hàng hoá trong chứng từ bảo hiểm phải phù hợp với mô tả hàng hoá
trong L/C.
4. Các loại giấy chứng nhận hàng hoá:
4.1. Khái niệm:
Giấy chứng nhận hàng hoá là những loại giấy chứng nhận do chính người
sản xuất xác nhận hoặc do các tổ chức chuyên môn như Cục Tiêu chuẩn Đo lường
Phòng Thương mại, hoặc các công ty giám định hàng hoá…chứng nhận.
4.2. Mục đích của giấy chứng nhận hàng hóa:
• Tạo cho người mua, người nhận hàng một sự tin tưởng là họ sẽ nhận được
hàng hoá phù hợp với tình trạng (tốt…xấu, hư hỏng, ẩm ướt…) đã được
mô tả trong các giấy chứng nhận. Đây là tác dụng lớn nhất của các giấy
chứng nhận hàng hoá.
• Nhờ các giấy chứng nhận này mà người mua, người nhập khẩu tuy không

Giấy chứng nhận giúp người nhập khẩu đánh giá số lượng hàng hoá so với
hợp đồng quy định để có phương án trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.
4.3.4. Giấy chứng nhận vệ sinh (Sanitary Certificate):
Là chứng từ xác nhận tình trạng không độc hại của hàng hoá gửi đi đảm bảo
an toàn cho người tiêu dùng.
Giấy chứng nhận này do cơ quan y tế cấp hoặc do cơ quan kiểm nghiệm
hàng hóa xuất - nhập khẩu cấp và thường sử dụng đối với hàng hoá thực phẩm
như bánh, kẹo, rượu bia, rau quả, hải sản đông lạnh.
4.3.5. Giấy chứng nhận kiểm dịch thực vật (Phytosanitary certificate):
Là chứng từ xác nhận hàng hoá có nguồn gốc từ thực vật đã được kiểm tra
xử lý như chống bệnh dịch, nấm độc…
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 18
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
Giấy này do cơ quan bảo vệ và kiểm dịch thực vật cấp. Giấy này giúp cho
người mua yên tâm để nhập khẩu hàng hoá mà không bị gây khó khăn vì yêu cầu
kiểm dịch thực vật.
4.3.6. Giấy chứng nhận kiểm dịch động vật (Veterinary certificate):
Là chứng từ xác nhận hàng hoá động vật hoặc có nguồn gốc từ động vật đã
được kiểm tra và xác định là không mang vi trùng gây bệnh, hoặc đã được tiêm
chủng phòng bệnh do cơ quan kiểm tra động vật cấp.
4.3.7. Phiếu đóng gói (Packing list):
Là chứng từ kê khai hàng hoá được đóng gói trong từng kiện hàng do người
sản xuất hay nhà xuất khẩu đóng gói hàng hoá nhằm để thuận tiện cho việc kiểm
tra hàng hoá.
Phiếu đóng gói bao gồm: người bán, người mua, tên hàng, số hiệu hoá đơn,
số L/C, tên tàu, tên cảng bốc hàng, tên cảng dở hàng, số lượng hàng đựng trong
từng kiện, trọng lượng, thể tích của từng kiện…
Phiếu đóng gói thường được lập thành 3 bản:
- Một bản để trong từng kiện hàng để làm cơ sở cho người nhận hàng kiểm
tra và đối chiếu với hàng hoá thực tế trong từng kiện.

• Tổng giá trị.
• Số container, số scal.
• Cảng xếp và cảng dỡ hàng.
5. Lập hối phiếu:
5.1. Khái niệm:
Hối phiếu là một mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do một người ký phát cho
một người khác yêu cầu người này khi nhìn thấy hối phiếu hoặc đến một ngày xác
định trong tương lai phải trả một số tiền nhất định cho một người nào đó hoặc theo
lệnh của người đó trả cho một người khác hoặc trả cho người cầm hối phiếu.
5.2. Tính chất của hối phiếu:
5.2.1. Tính bắt buộc:
Tính bắt buộc còn gọi là tính bất khả kháng, theo đó người trả tiền bắt buộc
phải trả tiền hối phiếu mà không được từ chối hoặc trì hoãn việc trả tiền vì bất cứ
lý do gì. Tính bắt buộc của hối phiếu được khẳng định trong Luật hối phiếu. Với
tính chất này, hối phiếu trở thành phương tiện thanh toán có uy tín cao, và càng
được sử dụng phổ biến.
5.2.2. Tính trừu tượng:
Trên hối phiếu ghi số tiền trả cho ai, thời gian, địa điểm phát sinh hối phiếu
mà không ghi rõ nguyên nhân phát sinh hối phiếu, tức nộidung kinh tế của hối
phiếu. Tính trừu tượng vừa là một ưu điểm của hối phiếu nhưng lại là nhược điểm
vì nó sẽ phát sinh các hối phiếu tài chính (hối phiếu không phát sinh trong quan hệ
thương mại).
5.2.3. Tính lưu thông:
Hối phiếu có thể chuyển nhượng từ tay người này sang tay người khác
thông qua thủ tục ký hậu hối phiếu trong thời gian hiệu lực của hối phiếu. Nhờ
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 20
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
tính chất này mà hối phiếu - một công cụ thanh toán trở nên có tính thanh khoản
cao và được ưa dùng trong thanh toán.
5.3. Hình thức của hối phiếu:

the same tenor and date being unpaid)” - ngay sau khi nhìn thấy bản thứ
nhất của tờ hối phiếu này (bản thứ hai viết cùng nội dung ngày tháng
không trả tiền).
 Trên bản thứ hai ghi “At sight of this second bill of exchange (first of
the same tenor and date being unpaid)”- ngay sau khi nhìn thấy bản thứ
hai của tờ hối phiếu này (bản thứ nhất viết cùng nội dung ngày tháng
không trả tiền).
5.4. Những yếu tố chính của hối phiếu:
Theo ULB, việc lập hối phiếu phải bao gồm các yếu tố sau đây:
• Tiêu đề hối phiếu: BILL OF EXCHANGE / EXCHANGE FOR.
• Địa điểm và ngày ký phát hối phiếu.
• Mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện: “Pay to order of ”.
• Số tiền trên hối phiếu.
• Kỳ hạn trả tiền:
 Trả ngay: “At sight of the first bill of exchange”.
 Trả sau:
- Trả sau bao nhiêu ngày khi nhìn thấy hối phiếu: At 90 days after sight.
- Trả sau bao nhiêu ngày kể từ ngày giao hàng, ngày lập vận đơn: At 90
days after bill of lading date, shipment date).
- Trả sau bao nhiêu ngày kể từ ngày ký phát hối phiếu: At 90 days after
date ).
• Người hưởng lợi hối phiếu.
• Người trả tiền hối phiếu.
• Người ký phát hối phiếu.
• Số và ngày tháng của hợp đồng thương mại.
• Số hiệu và ngày mở L/C.
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 22
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
PHẦN II:
TÌNH HÌNH KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU VÀ

Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: Nguyễn Thị Thủy
2. Sự phát triển của Công ty:
Công ty sản xuất xuất nhập khẩu dệt may Đà Nẵng là doanh nghiệp nhà nước,
thành viên của Tổng Công ty dệt may Việt Nam được thành lập theo quyết định
số 299/QĐ – TCCB ngày 28/01/2002 của Bộ Công nghiệp với nhiệm vụ chính là
gia công may mặc hàng xuất khẩu tại thị trường miền Trung.
Trong thời gian đầu Vinatex có tên gọi liên hiệp SX –XNK dệt may Việt Nam tại
Đà Nẵng được thành lập vào ngày 01/07/1997 với một xưởng thêu tự động, một
xưởng may gồm 350 công nhân và một cửa hàng cung ứng phụ tùng, thiết bị
ngành may. Với nền tảng ban đầu này góp phần thúc đẩy sự phát triển và hồi sinh
của dệt may miền Trung.
Ngày 25/09/1995 chi nhánh liên hiệp SX – XNK dệt may Đà Nẵng được sát nhập
với chi nhánh TEXTIMEX Đà Nẵng theo quyết định số 100/QĐ/TCLD của
HĐQT Tổng công ty dệt may Việt Nam và lấy tên là chi nhánh Tổng Công ty dệt
may Việt Nam tại Đà Nẵng (Đơn vị hạch toán phụ thuộc).
Ngoài việc kinh doanh thương mại, hoạt động gia công may thêu cho các đơn vị
trong và ngoài nước, Vinatex DaNang còn giúp các đơn vị khác nhận gia công giải
quyết lao động thất nghiệp trong xã hội.
Trên đà phát triển mạnh mẽ và cũng cố vị thế tại khu vực miền trung, ngày
28/01/2002 Bộ Công nghiệp quyết định sát nhập chi nhánh Tổng Công ty dệt may
Việt Nam tại Đà Nẵng và Công ty Thanh Sơn và lấy tên gọi là Công ty sản xuất -
xuất nhập khẩu dệt may Đà Nẵng (Đơn vị hạch toán độc lập) cho tới ngày hôm
nay.
- Tên giao dịch đối nội: Công ty SX- XNK Dệt may Đà Nẵng
- Tên giao dịch đối ngoại: Da Nang Textile Manufacturing – Export Company
- Trụ sở giao dịch: 25 Trần Quý Cáp – TP Đà Nẵng
- Các đơn vị thành viên gồm:
+ Xí nghiệp dệt may 1,2,3,4 & 5
+ Xưởng hoàn thành
+ Xưởng thảm len

- Tiến hành sản xuất kinh doanh các sản phẩm may mặc để đáp ứng các nhu cầu
khác nhau trong và ngoài nước
- Xuất nhập khẩu sản phẩm may mặc, nguyên vật liệu phục vụ cho may mặc kinh
doanh linh kiện thiết bị phụ tùng liên quan đến ngành may.
- Tổ chức gia công chế biến theo đơn hàng của của các bên tổ chức cá nhân có nhu
cầu.
- Đồng thời nhiệm vụ đặt ra cho Công ty là:
+ Tham gia xuất khẩu trực tiếp, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩmthông qua
các hoạt động marketing, với tinh thần chủ động tìm khách hàng đảm bảo chất
lượng uy tín tạo sự thu hút của khách hàng.
+ Áp dụng tin học trong công tác quản lý
+ Đào tạo cán bộ công nhân kỹ thuật dạy nghề may đảm bảo chất lượng đào tạo.
+ Sản xuất kinh doanh có lãi và từng bước cải thiện đời sống cán bộ công nhân
viên
+ Thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước
* Nhiệm vụ:
SVTH:Nguyễn Châu Khánh Phương - Lớp 27K1.1 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status