đánh giá hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò thịt bán thâm canh trong nông hộ ở quảng ngãi - Pdf 13

PHẦN I
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 20 năm đổi mới, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành công to
lớn trong nhiều lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, đời sống nhân dân không
ngừng cải thiện về mọi mặt. Cùng với sự phát triển đó, nhu cầu về lương
thực, thực phẩm của người dân, nhất là các thực phẩm chất lương cao ngày
càng gia tăng, thịt bò là một trong những loại thực phẩm đó.
Thịt bò là một loại thực phẩm giàu dinh dưỡng, đặc biệt thích hợp với
những người giảm béo, và người cao huyết áp vì thịt bò chữa rất ít mỡ. Đây là
một loại thực phẩm cấp cao, được đa phần người tiêu dùng ưa chuộng [3]. Thị
trường thịt bò đang ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng ở cả thị
trường trong và ngoài nước. Trước cơ hội đó, Nhà nước ta đã có nhiều chính
sách khuyến khích phát triển chăn nuôi bò. Vì vậy, người dân nhiều vùng
trong nước ta đã tận dụng những điều kiện thuận lợi của mình để phát triển
đàn bò theo hướng nuôi thịt và nuôi kết hợp cày kéo với giết thịt, mang lại
nguồn thu nhập cao cho gia đình và xã hội [6].
Quảng Ngãi là một trong những tỉnh có đàn bò lớn của nước ta, trong
những năm vừa qua, được sự hỗ trợ của Nhà Nước, Quảng Ngãi đã triển khai
nhiều chương trình, dự án nhằm khuyến khích, hỗ trợ người dân phát triển
chăn nuôi bò như: Chương trình cải tạo đàn bò của Trung ương (1994-1999)
[24], dự án hỗ trợ kỹ thuật cải tạo đàn bò tỉnh Quảng Ngãi (2002-2006), đồng
thời tăng cường các hoạt động khuyến nông khuyến khích phát triển chăn
nuôi bò đặc biệt là bò lai Sind như: Xây dựng mô hình thử nghiệm chăn nuôi
bò cái sinh sản, mô hình nuôi bò thịt bán thâm canh, mô hình nuôi vỗ béo bò
thịt…Nhờ đó, đàn bò của tỉnh đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng và
chất lượng [14].
Cũng như nhiều vùng khác trong cả nước, cùng với sự phát triển của nền
kinh, quá trình đô thị hóa ngày càng nhanh và sự gia tăng dân số gây sức ép
lên tài nguyên đất. Diện tích đất nông nghiệp nói chung và bãi chăn thả nói
riêng ngày càng bị thu hẹp. Chăn nuôi bò theo phương thức chăn thả truyền

2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Hiệu quả kinh tế
2.1.1.1. Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế xã hội phản ánh chất lượng
các hoạt động kinh tế, là thước đo trình độ quản lý, khai thác và sử dụng các
nguồn lực của các nhà quản lý. Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về
hiệu quả kinh tế. Theo giáo sư Nguyễn Tiến Mạnh thì: “Hiệu quả kinh tế của
một hiện tượng (hay quá trình) kinh tế là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ
sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) để đạt được mục tiêu xác
định” [10].
Hồ Vĩnh Đào lại nói rằng: “ Hiệu quả kinh tế còn gọi là hiệu ích kinh tế
là so sánh giữa chiếm dụng và tiêu hao trong hoạt động kinh tế (bao gồm lao
động vật hóa và lao động sống) với thành quả có ích đạt được” [7].
Farsell (1957), Fchult (1964), Rizzo (1979) và Elli (1993) thì cho rằng:
Hiệu quả kinh tế được xác định bởi so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí
bỏ ra (nhân lực, vật lực, tài lực…) [10].
Tóm lại, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ tổ
chức, quản lý kinh tế. Chất lượng khai thác các nguồn lực trong quá trình tái
sản xuất để đạt được mục tiêu đề ra ban đầu.
2.1.1.2. Bản chất của hiệu quả kinh tế
Mặc dù các nhà kinh tế học đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về hiệu
quả kinh tế, song họ đều thống nhất về bản chất của hiệu quả kinh tế. Rằng
người sản xuất muốn có lợi nhuận thì phải bỏ ra những chi phí nhất định, đó
là: nhân lực, vật lực, tài lực và tiến hành so sánh kết quả đạt được sau quá
trình sản xuất kinh doanh với chi phí bỏ rra thì có được hiệu quả kinh tế. Sự
chênh lệch giữa chi phí bỏ ra và kết quả tu được càng cao thì hiệu quả kinh tế
càng lớn và ngược lại.
3
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, kết quả tạo ra được là tổng hợp
của nhiều yếu tố đầu vào và môi trường ngoại cảnh. Có nhiều cách khác nhau

tính toán hiệu quả kinh tế phải dựa trên những số liệu thực tế, đơn giản, dễ
tính toán, dễ hiểu.
Thông thường, các nhà kinh tế học tính toán hiệu quả kinh tế theo hai
phương pháp sau:
Phương pháp xem xét tổng thể: Hiệu quả so sánh về mặt lượng giữa giá
trị sản xuất và chi phí sản xuất. Phương pháp này có hai dạng là dạng thuận
và dạng nghịch.
Dạng thuận: H = Q/C. Dạng nghịch: H = C/Q.
Trong đó: Q là tổng giá trị sản xuất, C là tổng chi phí sản xuất.
Phương pháp này có ưu điểm là phản ánh rõ nét trình độ sử dụng các
nguồn lực. Xem xét được một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại bao nhiêu
kết quả, hay để sản xuất một đơn vị kết quả cần tiêu tốn bao nhiêu nguồn lực.
Vì vậy phương pháp này giúp ta so sánh ở các quy mô khác nhau cho ta hiệu
quả khác nhau như thế nào.
Phương pháp xem xét hiệu quả cận biên. Đây là phương pháp so sánh
phần sản phẩm tăng thêm với chi phí tăng thêm. Phương pháp này cũng gồm
hai dạng là:
Dạng thuận: H
b
= ΔQ/ΔC. Dạng nghịch: H
b
= ΔC/ΔQ
Phương pháp này nghiên cứu đầu tư theo chiều sâu, đầu tư thâm canh,
đầu tư cho tái sản xuất mở rộng. Nó xác định kết quả thu thêm một đơn vị cần
tăng thêm bao nhiêu đơn vị nguồn lực, hay khi tăng thêm một đơn vị nguồn
lực thì thu được thêm bao nhiêu đơn vị kết quả.
Tùy vào mục đích nghiên cứu, phân tích mà ta chọn phương pháp phân
tích hiệu quả kinh tế cho phù hợp. Thông thường ta nên dùng cả hai phương
pháp để việc xem xét đánh giá đầy đủ và toàn diện hơn.
2.1.2. Nông hộ và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi ở nông hộ

thôn nước ta hiện nay. Vì vậy, việc nâng cao trình độ, đào tạo tay nghề, đa
dạng hóa sản xuất kinh doanh, tạo việc làm tại chỗ ở nông thôn là một đòi hỏi
cấp bách hiện nay.
Hoạt động sản xuất nhỏ lẻ, manh mún và lạc hậu. Đây là đặc tính chung
của nông thôn Việt Nam, nhất là ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt
khó khăn…Hoạt động sản xuất chủ yếu tự cung tự cấp, nếu có sản xuất hàng
6
hóa thì cũng rất nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ, khả năng cạnh tranh kém, hiệu quả
kinh tế thấp.
Đặc trưng về vốn và tiêu dùng. Trong nông hộ, không có sự phân biệt
giữa lợi nhuận với tiền công lao động. Bởi lao động trong nông hộ là lao động
cho chính họ, họ vừa là chủ sở hữu, vừu là người lao động. Cũng do đó mà
hoạt động tiêu dùng trong nông hộ không được tách bạch, ghi chép rõ ràng.
Điều này nhiều khi gây nên sự thâm hụt về nguồn vốn tái sản xuất của hộ, làm
cản trở sự phát triển của nông hộ nói riêng và nông thông nói chung.
Qua đó có thể nói rằng, nông hộ là một đơn vị kinh tế xã hội chủ yếu ở
nông thôn. Là tập hợp một nhóm người cùng chung một cơ sở ngân quỹ, cùng
nhau lao động sản xuất (chủ yếu là nông nghiệp), cùng ăn ở sinh hoạt với
nhau trong một mái nhà. Nông hộ có những đặc trưng khác với các thành
phần kinh tế khác, do dó khi xem xét, nghiên cứu về nông hộ cần nắm rõ các
đặc trưng này để đánh giá về nông hộ một cách khách quan, chính xác.
2.1.2.2. Hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi nông hộ
Hiệu quả trong chăn nuôi nói chung và trong chăn nuôi bò thịt nói riêng
là phạm trù kinh tế phản ánh trình độ quản lý, sử dụng các nguồn lực trong
chăn nuôi bò của nông hộ. Dựa vào các đặc trưng cơ bản của nông hộ mà việc
nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi nông hộ sử dụng các
tiêu chí sau:
Giá trị sản xuất (GO): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất, dịch vụ mà
hoạt động chăn nuôi tạo ra được trong một thời kỳ nhất định (thường là 1
năm). Giá trị sản xuất bò thịt trong một năm là toàn bộ sản phẩm từ chăn nuôi

Thu nhập trên tháng nuôi: Là chỉ tiêu đánh giá xem trong một tháng,
mỗi con bò chu thu nhập là bao nhiêu.
Thu nhập/tháng nuôi = (Thu nhập/con bò)/(số tháng nuôi/con bò).
Thu nhập trên công nuôi: là chỉ tiêu đánh giá xem giá trị ngày công của
hoạt động chăn nuôi bò thịt là bao nhiêu (hay còn gọi là hiệu quả sử dụng lao
động trong nông hộ).
Thu nhập/công nuôi = MI/tổng công nuôi.
Hoặc = ( Thu nhập/con bò)/(số công nuôi/con bò).
2.2. Cơ sở thực tiễn
2.2.1. Đặc điểm của ngành chăn nuôi Bò
Bò là loài gia súc nhai lại, có cấu tạo bộ máy tiêu hóa đặc biệt. Dạ dày
bò có bốn túi, đặc biệt nhờ sự cộng sinh của khu hệ vi sinh vật dạ cỏ mà bò có
8
thể tiêu hóa xenlulose trong các thưc ăn thô như: Rơm, cỏ, phế phụ phẩm
nông nghiệp…Là những thứ thức ăn ít hoặc không có giá trị dinh dưỡng đối
với gia súc có dạ dày đơn hay gia cầm. Chính vì vậy, phát triển chăn nuôi Bò
ít gây nên sự canh tranh lương thực đối với con người như một số loài gia súc,
gia cầm khác (Lợn, Gà, Vịt…) [13]. Hơn nữa, nếu xét về khía cạnh môi
trường thì chăn nuôi bò còn góp phần bảo vệ môi trường, vì những loại thức
ăn như phụ phế phẩm nông, công nghiệp nếu không được sử dụng làm thức
ăn cho bò thì phần lớn sẽ trở thành rác thải gây ô nhiêm môi trường.
Ngành chăn nuôi bò trên thế giới đã ra đời và phát triển từ lâu đời.
Ngày nay, bò có mặt ở hầu khắp các nước, vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.
Chăn nuôi bò đã và đang là nguồn thu nhập chính của một bộ phận không nhỏ
người nông dân các nước. Một số nước có nghành chăn nuôi bò phát triển
hiện nay như: Mỹ, Anh, Úc, Pháp, Hà Lan, Ấn Độ…Ngành chăn nuôi bò ở
các nước này rất phát triển với nhiều kỹ thuật chăn nuôi tiên tiến và hiện đại,
sản xuất ra thịt sữa…không chỉ đủ cung cấp cho nhu cầu trong nước mà còn
là mặt hàng xuất khẩu mạng lại nguồn thu ngoại tệ đáng kể cho đất nước [18].
Tùy vào điệu kiện tự nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi vùng, mỗi

nhất, chủ yếu ở các nước phát triển, ven các thành phố lớn…Chăn nuôi bò
theo phương thức này đòi hỏi đầu tư cao về cơ sở vật chất (chuồng trại) cũng
như kỹ thuật, thức ăn, thú y….Quy mô của phương thức chăn nuôi này
thường là lớn, các trang trại hàng ngàn con, với đội ngũ công nhân chăm sóc
nuôi dưỡng phần lớn đều đã qua đào tạo.
2.2.2. Tình hình chăn nuôi Bò ở Việt Nam
Ngành chăn nuôi bò Việt Nam đã có từ lâu đời. Từ xa xưa, con trâu,
con bò đã gắn bó mật thiết với nền văn minh lúa nước của dân tộc ta. Trâu, bò
được nuôi chủ yếu nhằm mục đích cày kéo. Đối với người nông dân, con trâu,
con bò là tài sản quý nhất của gia đình, là “đầu cơ nghiệp” của nhà nông [13].
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật nông nghiệp, vai trò
cày kéo của trâu, bò dần được thay thế. Thay vào đó là vai trò cung cấp thịt,
sữa cho con người. đặc bệt, thịt bò lại là loại thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng
và ít mỡ nên được đa phần người tiêu dùng ưa chuộng. Vì vậy, phát triền gành
chăn nuôi bò là một trong những hướng đi quan trọng góp phần phát triển
kinh tế nông nghiệp và nông thôn hiện nay.
Nhận thấy vai trò và tiềm năng to lớn của ngành chăn nuôi bò, Đảng và
Nhà Nước đã và đang có nhiều chương trình dự án nhằm thúc đầy ngành chăn
10
nuôi bò phát triển. Nổi bật như, chương trình “Sind hóa đàn Bò” với hàng loạt
các hoạt đọng như: cung cấp đực giống, tinh đông lạnh Bò Sind, lai Sind. Đào
tạo, tập huấn nâng cao tay nghề cho đội ngũ dẫn tinh viên. Hỗ trợ vốn cho
người dân, tập huấn, hưỡng dẫn kỹ thuật chăn nuôi bò lai Sind. Đồng thời tiến
hành nhiều nghiên cứu lai tạo, nuôi thử nghiệm các thế hệ con lai giữa Bò nội
với các giống Bò ngoại nhập…Kết quả là ngành chăn nuôi bò nước ta không
ngừng tăng lên về mặt số lượng và cả chất lượng đàn bò trong những năm
qua. Nhiều vùng chăn nuôi bò tập trung đã được hình thành ở TP Hồ Chí
Minh, Đồng Nai, Hà Nội, Bình Dương…[6]. Nhiều tiến bộ kỹ thuật trong
chăn nuôi bò đã được đưa và ứng dụng rộng rãi như thụ tinh nhân tạo, chế
biến, bảo quản thức ăn cho bò….

phú cho động vật nhai lại nói chung và bò nói riêng. Tận dụng những ưu thế
đó Quảng Ngãi đã đẩy mạnh phát triển chăn nuôi bò và trở thành một trong
những tỉnh có đàn bò lớn ở nước ta, có tốc độ phát triển đàn Bò nhanh trong
những năm gần đây (bảng 1).
Bảng 1: Diễn biến đàn bò cả nước và Quảng Ngãi trong những năm
qua
Năm
Quảng Ngãi Cả nước
Tổng đàn
(con)
Tăng
trưởng (%)
Tỷ lệ bò
lai (%)
Tổng đàn
(con)
Tăng
trưởng (%)
Tỷ lệ
bò lai
(%)
2003 194,234 12.3 26.8 4,394,400 8.2 17.5
2004 219,550 13.0 29.1 4,907,700 11.7 19.4
2005 243,714 11.0 32.2
5,540,70
0 12.9 22.1
2006 284,564 16.8 35.0 5,935,519 7.1 23.7
2007 287,796 1.1 36.0 6,783,450 12.5 25.5
[2],[19],[15]
Bên cạnh những thuận lợi về điều kiện tự nhiên, trong thời gian vừa

về phía bắc. Quảng Ngãi là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm miền trung, đã
và đang được Đảng và Nhà Nước chú trọng đầu tư cơ sở hạ tầng, thu hút đầu
tư phát triển kinh tế xã hội…với hàng loạt dự án lớn nhỏ như: Nhà máy lọc
dầu Dung Quất, Cụm cảng nước sâu Dung Quất…Quảng Ngãi cũng là ngã ba
nối liền Bắc Nam và tây Nguyên qua Quốc lộ 24, là huyết mạch giao thông
quan trọng, là cầu nối giao lưu kinh tế, văn hóa giữa Quảng Ngãi với các
vùng khác trong nước, và nước bạn Lào, Campuchia…Với vị trí địa lý Như
trên, Quảng Ngãi có nhiều cơ hội để phát triển kinh tế văn hóa nói chung và
ngành chăn nuôi bò nói riêng.
13
Địa hình, khí hậu: Quảng Ngãi có trên 2/3 diện tích là đồi núi, địa hình
dốc từ Tây sang Đông và bị chi cắt thành nhiều tiểu vùng khác nhau bởi các
con sông và dãy núi.
- Vùng núi phía tây, đây là một bộ phận của dãy Trường Sơn. Vùng có
diện tích 363453 ha, chiếm 62.1% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, nhưng đất
nông nghiệp lại chỉ chiếm 10,7% đất nông nghiệp của tỉnh.
- Vùng trung du có diện tích 84125 ha, là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi
và đồng bằng. Vùng có 13215 ha đất nông nghiệp, chiếm 15.5% đất nông
nghiệp.
- Vùng đồng bằng ven biển có diện tích 138048 ha, trong đó có 67682 ha
đất nông nghiệp. Đây là vùng sản xuất nông nghiệp chính của tỉnh, với sự đa
dạng về cây trồng và vật nuôi.
Về thời tiết khí hậu: Quảng Ngãi thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa,
chịu ảnh hưởng của gió mù đông bắc vào mùa đông, gió mùa đông nam, tây
nam vào mùa hạ. Đây là vùng có nhiệt độ trung bình năm khá cao (25.7
0
C),
max 30C, min 22.5C. Tổng lượng bức xạ trong năm khoản 14-15 kcal/cm
2
,

Bảng 2: Tình hình sử dụng đất của tỉnh Quảng Ngãi năm 2006 [2]
TT Loại đất Diện tích Cơ cấu
Tổng 513,530 100
1. Đất NN 12,1579.3 23.7
1.1. Đất cây hàng năm 98,311.3 80.9
1.1.1. Đất lúa 4,980.9 5.1
1.1.2. Đất trồng cỏ 245.1 0.2
1.1.3. Đất cây khác 93,085.3 94.7
1.2. Đất cây lâu năm 23,268 19.1
2. Đất lâm nghiệp 169,394 33.0
3. Đất sử dụng khác 24,167.5 4.7
4. Đất chưa sử dụng 198,389.2 38.6
4.1 Vùng đồng bằng 48,137.6 24.3
4.2. Vùng đồi núi 132,326.5 66.7
4.3. Mặt nước 17,925.1 9.0
Tỉnh có 121579.3 ha đất nông nghiệp, được sử dụng chủ yếu vào trồng
các cây trồng ngắn ngày (80.9%), với các cây trồng chủ yếu là lúa, ngô, sắn
(mỳ), mía… (bảng 5). Đây là những cây trồng tạo ra nguồn thức ăn chính
15
phẩm và phụ phế phẩm phong phú cho chăn nuôi bò phát triển. Hiện tại, còn
có một bộ phận diện tích đât không nhỏ ở cả đồng bằng (48,137.6 ha) và miền
núi (132,326.5 ha) vẫn chưa được sử dụng, cùng với những diện tích đất nông
nghiệp bất lợi, cho năng suất thấp là quỹ đất dồi dào có thể chuyển sang trồng
cỏ phụ vụ chăn nuôi gia súc nhai lại nói chung và chan nuôi bò nói riêng.
b) Tình hình dân số và lao động
Quảng Ngãi có tổng dân số là 1295608 người, dân số sống chủ yếu ở
vùng nông thôn (85.63%), đồng bằng ven biển (83.63%), gây nên sức ép lớn
lên đất đai và việc làm (bảng 3).
Bảng 3: Tình hình dân số và lao động tỉnh Quảng Ngãi năm 2006
[2]

Bảng 4: Một số chỉ tiêu kinh tế tỉnh Quảng Ngãi trong những năm
qua.
Năm Tiêu chí Tổng số
Nông
Nghiệp
Trong Nông Nghiệp
Chăn
nuôi
Trồng
trọt Khác
200
2
Giá trị
(triệu đồng) 7.621.982
1.788.54
5 491.492 1.211.918 85.135
Cơ cấu (%) 100 23,47 27,48 67,76 4,76
200
3
Giá trị
(triệu đồng) 8.647.030
1.853.79
0
538.89
7
1.230.73
1 84.162
Cơ cấu (%) 100 21,44 29,07 66,39 4,54
200
4

4).
* Tình hình trồng trọt
Tỉnh Quảng Ngãi có nền khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, là điều
kiện thuận lợi cho nhiều loại cây trồng sinh trưởng và phát triển. Là cơ sở
cung cấp thức ăn cho chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò nói riêng.
Bảng 5: Diện tích, năng suất một số cây trồng của tỉnh Quảng Ngãi
Loại
cây
Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha)
2004 2005 2006 2007 2004 2005 2006 2007
Lúa 80,277 75,201 74,327 74,072 45.5 48.2 49.4 51.6
Ngô 8,515 9,496 9,526 10,487 42.5 44.5 46.9 50.3
Sắn 15,747 16,297 17,901 18,833 127.5 150.8 149.8 164.5
Lạc 5,198 5,630 5,878 5,684 16.8 17.3 19.1 19.5
Mía 9,210 8,257 7,014 7,310 492.6 528.3 503.8 529.7
Khoa
i
Lang 1,978 1,142 1,257 43.4 46.6 47.1
Rau 8,605 9,974 10,355 10,882 124.6 148.9 150.0 155.2
[17],[18]
Lúa là cây trồng chính ở Quảng ngãi, diện tích trồng lúa trong mấy năm
qua có xu hướng giảm nhưng vẫn chiếm một diện tích rất lớn (74,072 ha), đây
là nguồn cung cấp lương thực chính cho đại bộ phận người dân trong tỉnh và
thức ăn cho chăn nuôi. Ngoài lúa, ngô và sắn là hai loại cây lượng thực chính
của tỉnh, có diện tích gieo trồng hàng năm khá lớn (10,487 ha và 18,833 ha).
Cùng với một số các loại cây trồng khác như: Mía, rau đậu các loại cũng có
diện tích gieo trồng khá lớn.
Sản phẩm chính và phụ phẩm của các loại cây trồng phần lớn đều có
thể làm thức ăn cho bò, do đó đây cũng là một nguồn thức ăn quan trọng cho
chăn nuôi bò phát triển.

19
+ Dựa vào báo cáo tổng kết kinh tế xã hội của tỉnh, huyện, những thông
tin cơ bản của các xã trực thuộc huyện, những thông tin từ trung tâm
KN&PTNT Quảng Ngãi để chọn ra địa bàn nghiên cứu.
+ Dựa theo những tiêu chí trên, được sự tư vấn của cán bộ trung tâm
KN&PTNT tỉnh chúng tôi đã chọn ra ba xã đại diện cho vùng nghiên cứu đó
là: Xã Nghĩa Dũng – TP Quảng Ngãi, xã Tịnh An – huyện Sơn Tịnh và xã
Nghĩa Thuận – huyện Tư Nghĩa. Đây là những nơi có chăn nuôi bò thịt bán
thâm canh phát triển mạnh. Mỗi xã đại diện cho một vùng chăn nuôi bò thịt
bán thâm canh chủ yếu ở Quảng Ngãi đó là: Vùng ven thành phố (xã Nghĩa
Dũng), vùng đồng bằng nơi sản xuất nông nghiệp phát triển nhưng bãi chăn
thả hạn chế gồm 2 tiểu vùng, một vùng chịu ảnh hưởng mạnh của lũ lụt (xã
Tịnh An) và vùng chịu ảnh hưởng ít của lũ lụt (xã Nghĩa Thuận). Sau đây là
một số thông tin cơ bản về các xã điều tra.
Bảng 6: Một số thông tin cơ bản về các xã điều tra
Chỉ tiêu Đơn vị Nghĩa Dũng Tịnh An Nghĩa Thuận
S tự nhiên Ha 662.2 938.5 1,632.20
S nông nghiệp Ha 368.4 436.5 1,108.50
S cây hàng năm Ha 237.5 295.7 667.5
S sử dụng khác Ha 151.3 238.5 309.2
S chưa sử dụng Ha 142.5 263.5 214.5
Dân số Người 9,125 7,628 10,265
Nam Người 4,535 3,745 5014
Nữ Người 4,590 3,883 5,251
Lao động Người 4,738 3,962 5,374
Đàn bò Con 2,600 3,780 2,900
Đàn lợn Con 3,300 3,620 2,950
Đàn gia cầm Con 23,350 13,479 24,300
Vùng sinh thái Vùng ĐB ĐB ĐB
Vùng kinh tế Vùng Ven đô Nông thôn Nông thôn

(phiếu phỏng vấn hộ kèm theo).
Để thu thập những thông tin về những khó khăn thuận lợi trong quá trình
chăn nuôi bò, những định hướng, giải pháp phát triển chăn nuôi bò trong
tương lai chúng tôi tiến hành thảo luận nhóm các hộ chăn nuôi bò, phỏng vấn
sâu cán bộ các cấp (Đại diện lãnh dạo xã, cán bộ khuyến nông tỉnh, huyện,
21
xã…) và một số nông dân điển hình, có kết quả chăn nuôi bò tốt tại địa
phương.
3.3.2. Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin, số liệu
• Tổng hợp thông tin
Thông tin thu thập được sẽ đươc tổng hợp hàng ngày theo các nhóm
thông tin khác nhau, theo nội dung nghiên cứu.
• Xử lý thông tin (số liệu)
Với mục tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động chăn nuôi bò thịt
bán thâm canh nói chung và hiệu quả từng hình thức, cách thức nuôi khác
nhau, chúng tôi phân nhóm hộ theo chủng loại thức ăn mà họ sử dụng làm
thức ăn cho bò, và theo thời gian nuôi khác nhau, đó là:
Phân theo loại thức ăn sử dụng: Thức ăn là yếu tố đầu vào cơ bản, là
nguyên liệu chính để tạo nên các sản phẩm chính yếu của ngành chăn nuôi,
với ngành chăn nuôi bò thịt đó là thịt bò. Mỗi loại thức ăn khác nhau, có
thành phần dinh dưỡng khác nhau, và có tác dụng khác nhau đối với sự sinh
trưởng và phát triển của vật nuôi.Thực tiễn điều tra cho thấy, thành phần thức
ăn sử dụng cho bò ở các hộ là rất đa dạng. Nguồn thức ăn thô xanh của các hộ
là tương đối giống nhau bao gồm cỏ, rơm lúa và một số phụ phế phẩm nông
nghiệp, nhưng có sự khác nhau khá rõ về chủng loại thức ăn tinh sử dụng, vì
vậy chúng tôi đã phân chia các hộ thành 4 nhóm theo chủng loại thức ăn tinh
sử dụng như sau:
Nhóm chỉ sử dụng thức ăn tinh thông thường (T): Đây là những hộ chỉ
sử dụng các loại thức ăn tinh thông thường như Cám gạo, bột Ngô, bột Sắn,
bột lúa, gạo…để chăn nuôi Bò.

cứu, đối tượng nghiên cứu.
- Phân tích thống kê so sánh để so sánh đặc điểm các nhóm hộ, cách
thức thức nuôi bò cũng như kết qủa, hiệu quả nuôi bò của các nhóm hộ,các
hình thức nuôi khác nhau.
23
PHẦN IV
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Đặc điểm nông hộ điều tra
4.1.1. Những thông tin cơ bản về các hóm hộ điều tra
Trong nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu Nông Thôn nói
riêng, việc tìm hiểu đặc điểm của đối tượng nghiên cứu là hết sức cần thiết.
Bởi chỉ khi nắm bắt được các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu thì nhà
nghiên cứu mới có thể tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo phương pháp đúng
đắn và phù hợp nhất. Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là “nông hộ chăn
nuôi bò thịt bán thâm canh ở Quảng Ngãi”. Đó là những hộ gia đình nông dân
ở Quảng Ngãi đã và đang tham gia vào hoạt động chăn nuôi bò thịt bán thâm
canh.
Để tìm hiểu đặc điểm của những nông hộ này, chúng tôi tiến hành tìm
hiểu và đánh giá nông hộ qua một số tiêu chí về tuổi chủ hộ, trình độ học vấn,
loại hộ, số nhân khẩu, lao động trong hộ, trình độ kỹ thuật người nuôi bò
chính trong hộ và số năm kinh nghiệm nuôi bò thịt bán thâm canh. Kết quả
điều tra được thể hiện ở bảng 7.
24
Bảng 7: Thông tin cơ bản về hộ phân nhóm theo loại thức ăn tinh
sử dụng
Tiêu chí
Đơn
vị
T
N= 11

năm kinh nghiệm là cao nhất. Điều đó nói lên rằng người phụ trách chăn nuôi
bò chính trong hộ thường là đàn ông và là chủ hộ. Thực tế tìm hiểu thì người
đàn ông trong gia đình thường là người quyết định gia đình họ sẽ nuôi bò ra
sao và mua bán như thế nào, bởi họ chính là những người có những hiểu biết
về con bò nhiều nhất ở trong hộ. Họ có kinh nghiệm trong việc lựa chọn con
bò phù hợp để mua về nuôi, về theo dõi tình trạng của bò, đồng thời họ
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status