luận văn thạc sĩ Cơ sở lý luận và thực tiễn về kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân ở Việt Nam hiện nay. - Pdf 13

cơ sở lý luận và thực tiễn về kháng nghị
phúc thẩm hình sự của viện kiểm sát nhân dân
ở việt nam hiện nay
H NI - 2012
MC LC
Trang
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH
SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
8
1.1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò kháng nghị phúc thẩm hình sự của
Viện kiểm sát nhân dân 8
1.2. Thẩm quyền, thời hạn, căn cứ, thủ tục, hậu quả của kháng nghị
phúc thẩm hình sự trong tố tụng hình sự Việt Nam 25
1.3. Các điều kiện bảo đảm thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp trong giai đoạn xét xử nói chung và công tác
kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng 31
Chương 2 : THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
37
2.1. Tình hình giải quyết án có kháng nghị 37
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật trong công tác kháng nghị phúc
thẩm hình sự những năm gần đây 39
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM CHẤT LƯỢNG KHÁNG
NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT
NHÂN DÂN TRONG THỜI GIAN TỚI
63
3.1. Dự báo tình hình kinh tế, xã hội và tình hình tội phạm trong
thời gian tới 63
3.2. Một số giải pháp 76

Cải cách tư pháp ngày càng được chú trọng và đẩy mạnh cùng với công
cuộc đổi mới của đất nước. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2 tháng 6 năm
2005 của Ban chấp hành trung ương về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020 nêu rõ mục tiêu “Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân
chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân,
phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng
tâm là hoạt động xét xử được tiến hành hiệu quả và hiệu lực cao” [23, tr.2].
Cùng với phương hướng:
Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, đảm bảo tính
đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con
người [23, tr.2- 3].
Theo tinh thần Nghị quyết 49 về nhiệm vụ hoàn thiện chính sách, pháp
luật hình sự, trong đó có nhiệm vụ quy định chặt chẽ những căn cứ kháng
nghị và quy định rõ trách nhiệm của người ra kháng nghị để khắc phục tình
trạng kháng nghị tràn lan, thiếu căn cứ.
Chỉ thị số 03/2008/CT-VKSTC-VPT1 ngày 19 tháng 6 năm 2008 về
"Tăng cường công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự " của Viện trưởng Viện
kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã nêu rõ Viện kiểm sát nhân dân các cấp thực
hiện một số nội dung theo quy định của pháp luật nhằm nâng cao chất lượng
kháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới.
Trong thời gian qua, công tác kháng nghị phúc thẩm đối với bản án,
quyết định sơ thẩm hình sự của Toà án nhân dân đã đạt được những kết quả
nhất định. Chất lượng kháng nghị đã từng bước được nâng lên, nhìn chung đã
bảo đảm về hình thức, nội dung có căn cứ pháp lý; tỷ lệ kháng nghị được
Viện kiểm sát cấp phúc thẩm bảo vệ và Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận
được tăng lên rõ rệt.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác kháng nghị

công cuộc cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp lý quan trọng
của Viện kiểm sát trong quá trình thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp. Thông qua kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát
bảo đảm cho mọi hoạt động tư pháp được tiến hành đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, khắc phục tình trạng bỏ lọi tội phạm và người phạm tội,
không làm oan người vô tội. Yêu cầu cải cách tư pháp đặt ra đối với công tác
đổi mới tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân theo quan điểm của Đảng
về cải cách tư pháp trên tinh thần Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị thì
việc nâng cao chất lượng kháng nghị phúc thẩm hình sự là một vấn đề cần
thiết, chính vì vậy:
Công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự nói riêng, việc thực hiện chức
năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử đã được chú trọng hơn trong
những năm gần đây thông qua việc tổ chức những hội nghị, hội thảo chuyên
đề, tổng kết rút kinh nghiệm Chính vì vậy chế định kháng nghị phúc thẩm
hình sự đã được một số tác giả, công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ, khía
cạnh khác nhau:
- Một số vấn đề về Tố tụng hình sự của tác giả Võ Thọ, Nxb tư pháp Hà
Nội năm 1985.
- Giáo trình Luật tố tụng hình sự của Đại học Luật Hà Nội, Nxb CAND
năm 1999.
- Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự của Đinh Văn Quế, Nxb
tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh năm 2007.
- Hoàn thiện pháp luật về xét xử phúc thẩm trong tố tụng hình sự của
Th.s Nguyễn Nông (Tạp chí TAND số 8/1994).
- Chuyên đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng kháng nghị
phúc thẩm đối với bản án sơ thẩm hình sự của Toà án nhân dân các tỉnh,
thành phố trực thuộc trung ương của Viện Phúc thẩm 1- Viện kiểm sát nhân
dân tối cao năm 2006.

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
vụ sau:
Một là, làm rõ cơ sở lý luận của kháng nghị phúc thẩm hình sự: Khái
niệm, đặc điểm, vai trò và các yếu tố bảo đảm chất lượng kháng nghị phúc
thẩm hình sự, trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự.
Hai là, đánh giá thực trạng công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự.
Những mặt tích cực và hạn chế của pháp luật thực định về kháng nghị phúc thẩm
hình sự cũng như việc áp dụng quy định này trên thực tế xét xử hiện nay.
Ba là, đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng công tác
kháng nghị phúc thẩm hình sự trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
+ Về đối tượng: Quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm
sát các cấp (trừ Viện kiểm sát quân sự các cấp) nhằm bảo đảm cho pháp luật
nói chung và pháp luật hình sự nói riêng được tuân thủ nghiêm chỉnh và triệt
để, bảo đảm pháp chế trong hoạt động xét xử của Toà án.
+ Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chỉ nghiên cứu một số vấn đề cơ bản
về lý luận và thực tiễn trong công tác kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện
kiểm sát nhân dân ở Việt Nam. Đề tài không nghiên cứu kháng nghị phúc
thẩm dân sự, kinh tế, hành chính, lao động…
+ Về thời gian nghiên cứu: Luận văn xác định nghiên cứu trong
khoảng thời gian 5 năm từ năm 2004 đến năm 2008.
5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu dựa trên nền tảng cơ sở lý luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Đường lối,
quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Luận văn được thực hiện theo phương pháp luận của triết học Mác -
Lênin sử dụng các phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn, phân tích, tổng
hợp, lịch sử cụ thể, hệ thống, thống kê, so sánh…
6. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn

khác nhau từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Mỗi một giai đoạn
thể hiện những hoạt động tố tụng khác nhau, có nhiệm vụ riêng, mang tính đặc
thù về chủ thể, phạm vi, hành vi tố tụng và quyết định tố tụng khác nhau. Mỗi
một giai đoạn tố tụng gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của một cơ quan tiến
hành tố tụng , tuy độc lập nhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Giai đoạn
trước là tiền đề cần thiết để thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn tiếp theo, giai đoạn
sau kiểm tra kết quả của giai đoạn trước. Kết thúc từng giai đoạn các cơ quan
tiến hành tố tụng phải ra Quyết định theo qui định của tố tụng hình sự để giải
quyết vụ án; hoặc đình chỉ hoặc tiếp tục đưa ra giải quyết ở các giai đoạn kế tiếp.
Bộ luật tố tụng hình sự ngoài việc quy định trình tự, thủ tục khởi tố, điều
tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự còn quy định chức năng, nhiệm vụ,
quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan tiến hành tố tụng. Để bảo vệ các
nguyên tắc của tố tụng hình sự nhằm chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội
phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và kịp thời mọi hành vi phạm tội,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội thì bảo đảm pháp chế xã
hội chủ nghĩa là nguyên tắc đầu tiên và là một trong những nguyên tắc cơ bản
nhất xuyên suốt toàn bộ hoạt động tố tụng hình sự. Nói đến hoạt động tố tụng
hình sự, trước hết phải kể đến hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng. Trong quá trình tiến hành tố tụng, người tiến hành tố
tụng phải nghiêm chỉnh và triệt để tuân thủ các quy định của BLTTHS bởi lẽ
mọi vi phạm pháp luật hoặc việc áp dụng pháp luật không đầy đủ có thể dẫn
đến việc xử lý oan, sai, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân, gây tổn hại đến uy tín của các cơ quan bảo vệ pháp luật và làm giảm lòng
tin của nhân dân vào hiệu lực và sự công minh của pháp luật. Việc nghiêm
chỉnh và triệt để tuân thủ các quy định của BLTTHS không chỉ là nhiệm vụ
của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng mà còn là nhiệm vụ
của những người tham gia tố tụng. Viện kiểm sát là một trong những cơ quan
tư pháp tiến hành các hoạt động tố tụng xuyên suốt ngay từ khi khởi tố vụ án
đến khi bản án, quyết định được thi hành, thông qua việc thực hiện chức năng,
nhiệm vụ của mình Viện kiểm sát bảo đảm cho mọi hoạt động của các cơ

động tư pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự
nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự được thực hiện một cách
nghiêm chỉnh và thống nhất. Phạm vi của kiểm sát việc tuân theo pháp luật
trong các hoạt động tư pháp hình sự cũng bắt đầu từ khi vụ án hình sự được
khởi tố và kết thúc khi người phạm tội đã thi hành xong bản án. Với chức
năng trên vai trò của Viện kiểm sát trong suốt quá trình tố tụng rất quan
trọng. Sự xuất hiện của Viện kiểm sát trong quá trình tố tụng nhằm bảo
đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra, xử lý kịp thời;
việc truy tố, xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không
để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Trong giai đoạn xét xử, Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, bảo vệ
quan điểm truy tố theo cáo trạng và bảo đảm việc xét xử đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật; mức hình phạt đối với các bị cáo phải phù hợp với tính
chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo. Ngoài ra, Viện kiểm
sát còn thực hiện chức năng giám sát hoạt động xét xử của Toà án. Nếu việc
xét xử của Toà án vi phạm nghiêm trọng về hình sự và tố tụng hình sự hoặc
sau phiên toà xét xử sơ thẩm mà phát hiện thấy trong suốt quá trình từ khởi tố
vụ án hình sự, điều tra, truy tố, xét xử vì lý do chủ quan hay khách quan có vi
phạm pháp luật về hình sự và tố tụng hình sự thì Viện kiểm sát cùng cấp và
Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp sử dụng một quyền năng pháp lý đặc biệt để
yêu cầu Tòa án cấp trên tiến hành xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm; đó
là quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự. Đây là quyền năng pháp lý đặc biệt
mà chỉ duy nhất Viện kiểm sát mới có quyền này. Quyền kháng nghị phúc
thẩm hình sự được thực hiện ở cả hai cấp là cùng cấp và cấp trên trực tiếp. Sở
dĩ, quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự được thực hiện cả hai cấp để Viện
kiểm sát thực hiện chức năng công tố của mình và bảo đảm cho mọi vi phạm
của các cơ quan tiến hành tố tụng ở cấp sơ thẩm đều được phát hiện và giải
quyết tại cấp xét xử thứ hai.
Để hiểu rõ hơn về khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự, cần phải
hiểu một số khái niệm và vấn đề sau. Trước hết, về khái niệm kháng nghị

Khi thực hiện công tác kiểm sát xét xử, các viện kiểm sát nhân
dân có quyền: …
Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm các bản án và quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân cùng cấp và
dưới một cấp, khi thấy có vi phạm pháp luật [28, tr.7].
Kháng nghị phúc thẩm hình sự, từ chỗ được quy định là một vài điều
trong các Sắc lệnh, Thông tư, Luật Tổ chức Viện kiểm sát của Nhà nước Việt
Nam dân chủ cộng hoà, sau đó được quy định thành những chế định riêng
trong BLTTHS. Qua từng giai đoạn cụ thể, kháng nghị phúc thẩm hình sự
ngày càng được thay đổi, bổ sung và hoàn thiện hơn, đáp ứng ngày càng tốt
hơn trong hoạt động thực hiện chức năng của ngành kiểm sát. Chế định kháng
nghị phúc thẩm hình sự được sửa đổi, bổ sung rất nhiều lần cho phù hợp với
tình hình thực tế của mỗi thời kỳ cách mạng Việt Nam.
Khi chưa có BLTTHS năm 1988 ra đời, chế định kháng nghị phúc
thẩm hình sự được thực hiện theo “Bản hướng dẫn về trình tự tố tụng phúc
thẩm về hình sự kèm theo Thông tư số 19-TATC ngày 2 tháng 10 năm 1974
của Toà án nhân dân Tối cao”.
Tiếp đến, chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự được quy định tại
Phần thứ tư, chương XXII tại các Điều 206, Điều 207, Điều 208, Điều 210,
Điều 211, Điều 212, Điều 213 của BLTTHS 1988. BLTTHS năm 2003 chế
định này được quy định tại các Điều 232, Điều 233, Điều 234, Điều 236, Điều
237, Điều 238 và Điều 239 cũng tại Phần thứ tư, chương XXII.
Luật Tố tụng hình sự của một số quốc gia trên thế giới đều quy định
kháng nghị của Viện kiểm sát /Viện công tố là căn cứ để đưa vụ án ra xét xử
theo thủ tục phúc thẩm. Các nước trên thế giới cho dù theo mô hình tố tụng
tranh tụng (Anh, Mỹ, Nhật ), tố tụng thẩm vấn (Pháp, Đức, Ý…) hay tố tụng
đan xen (Trung Quốc, Hàn Quốc…) theo quy định tố tụng hình sự của các
nước đều quy định về một quyền năng pháp lý đặc biệt chỉ dành cho kiểm sát
viên (công tố viên), Viện kiểm sát hay Viện công tố. Đó là quyền kháng nghị
phúc thẩm hình sự đối với những bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực

có quyền kháng nghị nếu toà án tha bổng bị cáo hoặc ra lệnh điều tra bổ sung
mà Viện công tố không đồng ý; Công tố viên cấp quận, công tố viên trưởng và
cán bộ truy tố bên cạnh Toà án cảnh sát và Toá án công cộng có quyền kháng
nghị phán quyết của Toà vi cảnh. Công tố viên có quyền kháng nghị độc lập
hoặc kháng nghị kèm theo kháng cáo của bị cáo phán quyết của Toà tiểu hình.
Tại Liên bang Nga, Viện kiểm sát Liên bang Nga là hệ thống cơ quan
được xây dựng theo nguyên tắc tập trung thống nhất lãnh đạo trong ngành,
theo đó các kiểm sát viên phải phục tùng Viện trưởng, Viện trưởng Viện kiểm
sát cấp dưới phục tùng Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên, Viện trưởng Viện
kiểm sát các cấp phục tùng Tổng kiểm sát trưởng Liên bang Nga.Viện kiểm
sát Liên bang Nga thực hiện các chức năng: Kiểm sát việc chấp hành pháp
luật của các bộ, các tổng cục thuộc Liên bang, của các cơ quan lập pháp và
hành pháp của các chủ thể thuộc Liên bang Nga; Kiểm sát việc chấp hành
pháp luật của các cơ quan tiến hành các hoạt động trinh sát nghiệp vụ, các cơ
quan điều tra ban đầu và điều tra dự thẩm; Kiểm sát việc chấp hành pháp luật
của các cơ quan thi hành án; Điều tra các vụ án hình sự theo quy định; Phối
hợp hoạt động với các cơ quan trong hoạt động đấu tranh phòng chống tội
phạm. Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga, các kiểm
sát viên tham gia vào quá trình xét xử của Toá án có quyền thực hiện việc
kháng nghị đối với các bản án, quyết định, các nghị quyết và phán quyết có vi
phạm pháp luật của Toà án. Trong quá trình xét xử vụ án, Kiểm sát viên thực
hành quyền công tố nhà nước, bảo đảm việc buộc tội có căn cứ và đúng pháp
luật. Trong giai đoạn tiếp theo của quá trình giải quyết vụ án Kiểm sát viên có
quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm và có trách nhiệm tham gia phiên
toà phúc thẩm.
Qua phân tích nêu trên thấy chế định kháng nghị phúc thẩm hình sự
quy định trong BLTTHS Việt Nam là sự kế thừa kinh nghiệm lập pháp của
cha ông cùng với sự tiếp thu có chọn lọc trong quy định về kháng nghị của
pháp luật các nước trên thế giới.
Theo quy định của BLTTHS năm 2003, kháng nghị phúc thẩm hình sự

và có tính quyết định trong hoạt động xét xử của Toà án.
Xét xử phúc thẩm có hai nhiệm vụ: xét xử lại vụ án về mặt nội dung;
kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm chưa
có hiệu lực pháp luật cả về nội dung và hình thức.
Ngoài kháng cáo của những người có quyền kháng cáo thì kháng nghị
là điều kiện pháp lý quan trọng để tiến hành xét xử phúc thẩm, xét xử lại vụ
án ở cấp thứ hai. Khác với kháng cáo, chỉ cần không đồng ý với quyết định
của bản án sơ thẩm là những người có quyền kháng cáo sẽ thực hiện kháng
cáo, còn đối với kháng nghị thì phải chỉ ra những vi phạm trong bản án, quyết
định sơ thẩm thì mới được kháng nghị. Khi thực hiện quyền kháng nghị phúc
thẩm, Viện kiểm sát phải tuân theo những quy định của pháp luật về chế định
này, không được kháng nghị tuỳ tiện, tràn lan theo ý chí của kiểm sát viên.
Đây là một quyền năng pháp lý đặc biệt duy nhất mà Nhà nước chỉ trao cho
Viện kiểm sát.
Thứ hai, theo quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân thì Viện kiểm sát nhân dân có chức năng thực hành quyền công tố
và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy
nhất có quyền truy tố người phạm tội ra trước Toá án để xét xử. Đồng thời
Viện kiểm sát cũng thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động điều tra, hoạt
động xét xử nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng
pháp tội, đúng pháp luật. Khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi
phạm pháp luật, Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có
quyền kháng nghị phúc thẩm để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử lại vụ án.
Viện kiểm sát bảo vệ quan điểm truy tố của mình đồng thời để bảo đảm cho
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử của cấp sơ thẩm đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô
tội thông qua việc thực hiện quyền kháng nghị phúc thẩm Kháng nghị phúc
thẩm là một trong những quyền năng pháp lý thông qua đó Viện kiểm sát
đồng thời thực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các
hoạt động tư pháp. Đây vừa là quyền, vừa là trách nhiệm của Viện kiểm sát

phạm tội ra trước Toà án để xét xử. Đồng thời Viện kiểm sát thực hiện chức
năng kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử nhằm bảo đảm cho việc truy tố, điều
tra, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Vì vậy, khi phát hiện bản án,
quyết định sơ thẩm có vi phạm Luật hình sự hoặc Bộ luật tố tụng hình sự
Viện kiểm sát sử dụng quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự để yêu cầu
Toà án cấp trên xét xử lại vụ án.
Từ những phân tích trên đây, có thể đưa ra đưa ra khái niệm: Kháng
nghị phúc thẩm là một quyền năng pháp lý đặc biệt, một hoạt động quan
trọng của Viện kiểm sát nhân dân và chỉ Viện kiểm sát mới có quyền kháng
nghị phúc thẩm. Thông qua kháng nghị phúc thẩm hình sự Viện kiểm sát bảo
vệ quan điểm truy tố của mình đồng thời bảo đảm cho mọi hoạt động tư pháp
được tiến hành đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, khắc phục tình trạng
bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.
Từ những phân tích và lý giải nêu trên và những quy định về kháng
nghị phúc thẩm hình sự trong pháp luật tố tụng hình sự, có thể rút ra một số
vấn đề liên quan đến quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự, đó là:
Chủ thể của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: Đó là Viện kiểm sát
cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp với Toà án đã tuyên bản án,
quyết định sơ thẩm.
Đối tượng của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: Bản án hoặc quyết
định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm.
Mục đích của quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự: Khi thực hiện
quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự, Viện kiểm sát bảo vệ quyền truy tố của
mình đồng thời bảo đảm cho hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng
đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm
tội, không làm oan người vô tội.
1.1.2. Đặc điểm của kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm
sát nhân dân ở Việt Nam
1.1.2.1. Kháng nghị phúc thẩm hình sự là quyền năng pháp lý đặc
biệt, duy nhất mà Nhà nước chỉ trao cho Viện kiểm sát

Khi có kháng nghị phúc thẩm Toà án cấp trên phải mở phiên toà xét xử phúc
thẩm. Mục đích của việc kháng nghị phúc thẩm là nhằm khắc phục những vi
phạm của bản án, quyết định sơ thẩm, đảm bảo tính có căn cứ và hợp pháp
của bản án, quyết định của Toá án. Thông qua kháng nghị phúc thẩm, Viện
kiểm sát bảo đảm cho mọi hoạt động tư pháp được tiến hành đúng người,
đúng tội, đúng pháp luật, khắc phục tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm
tội, không làm oan người vô tội. Viện kiểm sát chỉ thực hiện quyền kháng
nghị phúc thẩm khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực
pháp luật có sai lầm trong việc đánh giá chứng cứ hoặc áp dụng pháp luật.
Đối với kháng nghị, khi kháng nghị phúc thẩm Viện kiểm sát phải chỉ ra được
lý do tại sao kháng nghị và vi phạm của Toà án trong bản án sơ thẩm là gì, vi
phạm đến đâu…đó chính là bản chất của kháng nghị phúc thẩm, là việc Viện
kiểm sát chỉ ra được những vi phạm pháp luật trong bản án sơ thẩm.
1.1.2.3. Hệ quả của kháng nghị phúc thẩm hình sự là để tiến hành
một phiên toà xét xử cấp thứ hai (cấp phúc thẩm)
Theo quy định của BLTTHS thì Viện kiểm sát cùng cấp và Viện kiểm
sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật khi có vi phạm. Khi Viện kiểm sát đã kháng
nghị phúc thẩm thì buộc Toà án cấp trên phải mở phiên toà xét xử (có sự tham
gia của Toà án, Viện kiểm sát, bị cáo, bị hại…) theo thủ tục phúc thẩm với
một Hội đồng xét xử được thành lập. Hậu quả pháp lý của việc kháng nghị
phúc thẩm hình sự là những phần của bản án bị kháng nghị thì chưa được đưa
ra thi hành (trừ một số trường hợp theo quy định của luật) [5, tr.251]. Thẩm
quyền của Toà án cấp phúc thẩm là được giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa bản
án sơ thẩm, huỷ bản án để điều tra, xét xử lại, huỷ án và đình chỉ vụ án.
Khác với kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm là kháng nghị bản án,
quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc
có những tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của vụ án. Kháng
nghị giám đốc thẩm thì cả Viện kiểm sát và Toà án đều có quyền kháng nghị,
kháng nghị tái thẩm thì Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, tuy nhiên kháng

thì quyền công tố gắn liền với hoạt động điều tra và hoạt động xét xử cho nên
quyền công tố chỉ được thực hiện bởi một cơ quan duy nhất đó là Viện kiểm
sát. Trong giai đoạn xét xử, khi phát hiện bản án, quyết định sơ thẩm có vi
phạm thì Viện kiểm sát có quyền hạn và trách nhiệm kháng nghị để xét xử lại
vụ án theo trình tự phúc thẩm ở Toà án cấp trên trực tiếp của Toà án xét xử sơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status