LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài: “Quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng
trường THPT tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk”, tôi đã nhận được sự
quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo Trường Đại học Sư phạm Hà Nội,
Khoa Quản lý Giáo dục, Ban giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đắk Lắk , Lãnh
đạo và giáo viên ba trường: THPT Buôn Ma Thuột, THPT Hồng Đức, THPT Lê Quý
Đôn và đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn: PGS.TS Hà Nhật Thăng.
Tôi xin biết ơn đến tất cả các thầy, cô giáo cùng bạn bè đồng nghiệp đã giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Mặc dù, tôi đã cố gắng hết sức nhưng không thể tránh khỏi những hạn chế
nhất định. Kính mong Hội đồng Khoa học lượng thứ.
Tác giả
Phạm Văn Sinh
CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Chuyên môn: CM
Cơ sở vật chất CSVC
Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá CNH-HĐH
Giáo dục và Đào tạo GD&ĐT
Hiệu trưởng HT
Hoạt động dạy học HĐDH
Hội đồng nhân dân HĐND
Khoa học - Công nghệ KHCN
Quản lý giáo dục QLGD
Quản lý hoạt động dạy học QL HĐDH
Sách giáo khoa SGK
Trung học Phổ thông THPT
Trung học Phổ thông THCS
Phương pháp dạy học PPDH
Ủy ban nhân dân UBND
Công nghiệp xây dựng CNXD
Cán bộ quản lý CBQL
Bảng 2.15: Cấp dưới đánh giá HT về mức độ thực hiện các biện pháp QL soạn bài và
chuẩn bị lên lớp. 70
Bảng 2.16: cấp dưới đánh giá HT về mức độ thực hiện các biện pháp QL thực hiện giờ
lên lớp, nền nếp giảng dạy và dự giờ 71
Bảng 2.17:Cán bộ QL cấp dưới và GV đánh giá HT về các biện pháp kiểm tra HĐDH và
thi cử 73
Bảng 2.18:Cán bộ QL cấp dưới và GV đánh giá HT về mức độ thực hiện các biện pháp sử
dụng và bồi dưỡng đội ngũ GV 73
Bảng 2.19: Đánh giá về mối quan hệ giữa HT với các cán bộ QL cấp dưới (phó HT, Tổ
trưởng CM) 75
Bảng 2.20: Cán bộ QL cấp dưới và GV tự đánh giá việc họ thực hiện các biện pháp QL
HĐDH của HT 77
Bảng2.21: Thực trạng GD các môn ở trường THPT 78
Bảng 2.22: Tổng hợp chung về đánh giá mức độ nhận thức tầm quan trọng của các nội
dung QL HĐDH của HT trường THPT 80
Bảng 2.23: Đánh giá mức độ thực hiện các biện pháp QL của HT đối với nội dung quản lý
chương trình giảng dạy 83
Bảng 2.24: Tổng hợp đánh gía mức độ thực hiện các biện pháp QL của HT đối với nội
dung quản lý soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp của GV. 84
Bảng 2.25: Tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện các biện pháp QL của HT đối với nội
dung quản lý thực hiện giờ lên lớp, nền nếp giảng dạy, dự giờ. 85
Bảng 2.26: Tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện các biện pháp QL của HT đối với nội
dung quản lý các biện pháp kiểm tra, thi cử. 86
Bảng 2.27: Tổng hợp đánh giá mức độ thực hiện các biện pháp QL của HT đối với nội
dung quản lý sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ GV 87
Bảng 3.1. Kết quả đánh giá mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất:
115
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 : Mối liên hệ giữa các chức năng 39
Biểu đồ 2.1. Biểu đồ so sánh mức độ thực hiện 88
mười một nhóm giải pháp lớn để đổi mới và phát triển giáo dục, trong đó "đổi mới
1
phương pháp giảng dạy và công tác QLGD" là giải pháp đột phá.
Đắk Lắk là một tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, khó về giao thông, nghèo
về tài nguyên và tiềm lực, kinh tế chậm phát triển, nguồn nhân lực có trình độ cao
còn ít, nhân tài hiếm và khó thu hút. Để đáp ứng nhu cầu phát triển của tỉnh, để có
thể đi tắt, đón đầu, ngày càng rút ngắn khoảng cách với các tỉnh miền xuôi, hơn bao
giờ hết, Đắk Lắk cần có một nguồn nhân lực có trình độ và một đội ngũ nhân tài
ngày càng đông đảo để phục vụ nhu cầu phát triển nhanh và bền vững. Chính vì
vậy, nhiệm vụ của ngành GD&ĐT Đắk Lắk nói chung và của các trường THPT trên
địa bàn thành phố nói riêng, hơn bao giờ hết đang đóng một vai trò cực kỳ quan
trọng trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá và hiện đại hoá Đắk Lắk.
Trong những năm gần đây, giáo dục Đắk Lắk đã có nhiều bước tiến trong
quá trình đổi mới. Tuy nhiên, ngành giáo dục Đắk Lắk vẫn chưa đáp ứng được yêu
cầu ngày càng cấp bách của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá.Đặc biệt việc
đổi mới quản lý của các nhà trường trong địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột chưa
đáp ứng được yêu cầu nâng cao chiến lược phát triển giáo dục.Công tác quản lý
hoạt động dạy học của HT trong các nhà trường còn chậm đổi mới, nghiệp vụ quản
lý ở trình độ còn thấp so với yêu cầu thực tiễn. Đó là một trong những tồn tại cần
nghiên cứu để nâng cao chất lượng giáo dục ở thành phố.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn công tác quản lý của HT và đề xuất
các biện pháp quản lý của HT nhằm nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường là
rất cần thiết trong điều kiện hiện nay đối với ngành giáo dục Đắk Lắk nói chung,
của Tp. Buôn Ma Thuột nói riêng. Riêng đối với cán bộ QLGD, nhất là người trực
tiếp quản lý là HT trong mỗi nhà trường THPT thì việc nghiên cứu thực trạng, tìm
ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học của chính nhà trường mình
đang trực tiếp quản lý là cần thiết, cấp bách trong giai đoạn hiện nay.
Chính vì những lý do trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu “ Quản lý hoạt động
dạy học của HT trường THPT tại Thành phố Buôn Ma Thuột, Tỉnh Đắk Lắk”, làm
luận văn tốt nghiệp cao học quản lý.
3
7. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
7.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các công trình khoa học của những người đi trước, các tài liệu
các văn bản, tài liệu khoa học, các báo cáo tổng kết, các đề tài khoa học khác để tìm
hiểu các nội hàm các khái niệm, các vấn đề kiến thức lý luận liên quan đến đề tài.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1.Tổng hợp - phân tích
Nghiên cứu kế hoạch quản lý của HT, tổng kết của nhà trường, giáo án các
biện pháp quản lý hoạt động dạy học của các trường trung học phổ thông: Buôn Ma
Thuột, Hồng Đức, Lê Quý Đôn để đánh giá, tổng kết nhằm rút ra các kinh nghiệm
và đề ra các biện pháp quản lý hiệu quả hơn.
7.2.2. Phương pháp điều tra
Xây dựng phiếu điều tra với những câu hỏi để điều tra thực trạng quản lý
hoạt động dạy học của HT trường và kiểm nghiệm tính cấp thiết và khả thi của
những biện pháp đề xuất.
Thực hiện bằng phiếu trưng cầu ý kiến, thông qua việc xây dựng hệ thống câu
hỏi bằng phiếu điều tra đối với khách thể nghiên cứu. Phương pháp này nhằm nghiên
cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học của HT các trường được nghiên cứu.
7.2.3. Phương pháp chuyên gia
Học tập từ các bài giảng của các thầy giáo, cô giáo, từ cán bộ quản lý có kinh
nghiệm, trao đổi ý kiến với các chuyên gia để sửa đổi bổ sung cho đề tài đạt kết quả tốt.
Phương pháp này còn dùng dể trưng cầu ý kiến về mức độ cần thiết và tính khả thi của
các biện pháp đề xuất. Đây là phương pháp được sử dụng chủ yếu trong luận văn.
7.2.4. Phương pháp tọa đàm
Trao đổi với HT, phó HT, các tổ trưởng CM, các GV có kinh nghiệm, GV
dạy giỏi về biện pháp QL HĐDH của HT.
7.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm HĐDH
- Nghiên cứu sản phẩm HĐDH của GV: Hồ sơ, giáo án, đồ dùng giảng dạy,
kết quả học tập của HS
- Chương 3: Đề xuất biện pháp quản lý dạy học của HT trường THPT ở Tp.
Buôn Ma Thuột
5
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CỦA HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG THPT
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động dạy học
Trong giai đoạn hiện nay, việc đổi mới quản lý QLGD THPT là một việc cấp
bách và cần thiết. Đổi mới giáo dục, trước hết là cải tiến về QLGD nói chung và
quản lý hoạt động dạy học nói riêng đang trở thành vấn đề thu hút không chỉ riêng
đối với nhà nghiên cứu giáo dục, mà còn thu hút sự quan tâm của nhiều người quan
tâm đến sự nghiệp trồng người.
Từ thời cổ đại, một triết gia nổi tiếng, một nhà giáo dục lỗi lạc của Trung
Quốc là Khổng Tử (551 - 479 TCN) đã cho rằng: Đất nước muốn phồn vinh, yên
bình và thịnh vượng thì người quản lý cần chú trọng đến ba yếu tố là Thứ (dân
đông), Phú (dân giàu), Giáo (dân được giáo dục). Khổng Tử cho rằng giáo dục là
một thành tố không thể thiếu được của mỗi dân tộc, của mỗi quốc gia; Ông cho rằng
việc giáo dục là cần thiết cho mỗi người “Hữu giáo vô loại”. Về phương pháp giáo
dục ông coi trọng việc tự học, tự rèn luyện, tu thân phát huy mặt tích cực, sáng tạo,
năng lực nội sinh, dạy học sát đối tượng, cá biệt hoá đối tượng. Kết hợp học với
thực hành, lý thuyết với thực tiễn, phát triển động cơ học tập đúng đắn, tạo hứng thú
và ý chí quyết tâm của người học. Đến nay, phương pháp giáo dục của Khổng Tử
vẫn còn nguyên giá trị, là bài học lớn cho các nhà trường trong công tác GDĐT của
mình.
Các nước phương Tây như Mỹ, Anh, Pháp, Phần Lan hay các nước Đông Á
như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Singapo đều rất quan tâm đến giáo dục, coi
đó là động lực để phát triển kinh tế, xã hội. Các quốc gia này lấy nguồn nhân lực
làm yếu tố quyết định trong việc thực hiện CNH - HĐH đất nước. Việc gia tăng sức
mạnh nguồn lực con người được các quốc gia này thực hiện thông qua các cuộc
cách mạng trong GDĐT.
trong và ngoài nước quan tâm trong những năm cuối của thế kỷ XX; khi xã hội
bước vào giai đoạn phát triển vượt bậc thì vấn đề này càng được quan tâm của toàn
7
xã hội đặc biệt là các nhà nghiên cứu giáo dục và QLGD. Tựu chung, tất cả đều
khẳng định vai trò quan trọng trong công tác QLGD nhằm nâng cao chất lượng
giảng dạy và học tập ở tất cả các cấp học và bậc học. Đây cũng chính là tư tưởng
mang tính chiến lược về phát triển GD & ĐT của Đảng ta “Đổi mới mạnh mẽ nội
dung, phương pháp và QLGD đào tạo”.
Tỉnh Đắk Lắk trong những năm gần đây đã rất quan tâm đến chất lượng công
tác giảng dạy của GV ở tất cả các cấp học, bậc học trong đó có giáo dục THPT.
Ngành giáo dục đã thường xuyên tổ chức bồi dưỡng để nâng cao trình độ CM,
nghiệp vụ cho GV. Hằng năm, ngành giáo dục đã tổ chức hội thi GV giỏi cấp
trường, cấp tỉnh để khuyến khích tinh thần học hỏi, giao lưu, nâng cao trình độ CM
cho GV đồng thời cũng là để tôn vinh các GV có nhiều cố gắng và đóng góp cho sự
nghiệp giáo dục THPT của tỉnh. Tuy nhiên để nâng cao chất lượng đại trà của các
GV thì rất cần có các biện pháp quản lý hữu hiệu về hoạt động dạy học của các nhà
quản lý ở các trường THPT.
Quản lý hoạt động dạy học là hoạt động trung tâm của người HT ở các nhà
trường, đồng thời cũng là quản lý cơ bản và quan trọng nhất trong công tác quản lý
trường học. Vì vậy, vấn đề quản lý hoạt động dạy học được các nhà nghiên cứu, các
nhà QLGD đề cập trong các công trình nghiên cứu khoa học của mình. Giáo trình
giảng dạy của Trường ĐHSP Hà Nội, Học viện QLGD Bộ GD & ĐT cũng đã có
các công trình nghiên cứu và giảng dạy về chuyên đề Quản lý hoạt động dạy học
của người HT. Các luận văn thạc sĩ chuyên ngành QLGD cũng đã có một số tác giả
nghiên cứu về đề tài này. Các công trình nghiên cứu, các luận văn thạc sĩ này chủ
yếu mang tính lý luận vĩ mô về quản lý hoạt động dạy học của người HT ở các
trường THPT, giải quyết vấn đề của các trường cụ thể mang đặc trưng từng vùng
miền nhất định.
Riêng nghiên cứu vấn đề này tại địa bàn TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk
thì chưa có tác giả nào đề cập, vì vậy vấn đề chúng tôi đặt ra ở luận văn này là tìm
Theo quan điểm điều khiển học: Quản lý là chức năng của hệ có tổ chức với
bản chất khác nhau (sinh học, xã hội, kỹ thuật) nó bảo toàn cấu trúc các hệ, duy trì
9
chế độ hoạt động.
Theo C.Mac: Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào thực hiện ở
một quy mô tương đối lớn đều cần ở chừng mực nhất định đến sự quản lý. Quản lý
xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá nhân và hình thành những chức năng
chung xuất hiện trong toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của bộ phận
riêng lẻ của nó.
Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức có định
hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý về mặt văn hoá, chính trị, kinh tế,
xã hội bằng một hệ thống luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp
và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của
đối tượng”.
Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lý là một quá trình định hướng,
quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống
nhằm đạt được mục tiêu nhất định”.
- Theo Ômaror( Liên Xô) -1983: Quản lý là tính toán sử dụng hợp lý các
nguồn lực nhằm thực hiện các nhiệm vụ của sản xuất và dịch vụ với hiệu quả kinh
tế tối ưu.
- Theo W. Taylor - Người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng
bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian
lao động, sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng
suất lao động thì “ Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và
làm cái gì đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất. Quản lý là các hoạt
động được thực hiện nhằm bảo vệ sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của
người khác.
- Theo Bùi Trọng Tuân – Nguyễn Kì: “Quản lý là chức năng của những hệ
thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội) , thực
hiện những chương trình mục đích hoạt động” .
Quản lý là quá trình tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng
quản lý nhằm khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện có hiệu quả những nguồn
11
lực, những tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu của tổ chức đã đề
ra trong một môi trường đầy biến động.
1.2.2. Khái niệm quản lý giáo dục
1.2.2.1. Khái niệm về giáo dục
Để tồn tại và phát triển, con người phải trải qua quá trình lao động. Trong lao
động và cuộc sống hàng ngày con người nhận thức thế giới xung quanh, tích luỹ
kinh nghiệm từ đó nảy sinh nhu cầu truyền đạt những hiểu biết ấy cho nhau và phát
sinh hiện tượng giáo dục.
Lúc đầu giáo dục xuất hiện như là một hiện tượng tự phát, sau đó trở thành
một hoạt động có ý thức. Ngày nay giáo dục đã trở thành một hoạt động được tổ
chức đặc biệt, đạt tới trình độ cao, có nội dung, chương trình, kế hoạch và phương
pháp hiện đại thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng của xã hội loài người.
Như vậy: giáo dục là một hiện tượng xã hội, bản chất của nó là sự truyền đạt
và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử-xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục
mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hoá dân tộc, nhân loại được thừa
kế, bổ sung và trên cơ sở đó xã hội loài người không ngừng tiến lên.
1.2.2.2. Khái niệm về quản lý giáo dục
Nếu nói giáo dục là hiện tượng xã hội, vĩnh hằng thì cũng có thể nói như
thế về quản lí giáo dục. Giáo dục xuất hiện nhằm thực hiện cơ chế truyền kinh
nghiệm lịch sử - xã hội của loài người, của thế hệ đi trước cho thế hệ sau và để
thế hệ sau có trách nhiệm kế thừa, phát triển nó một cách sáng tạo, làm cho xã
hội và bản thân con người phát triển không ngừng. Để đạt được mục đích đó,
quản lí được coi là nhân tố tổ chức, chỉ đạo việc thực thi cơ chế nêu trên.
Quản lí giáo dục, trước hết, cũng như quản lí xã hội nói chung; quản lí
giáo dục là hoạt động có ý thức của con người nhằm thay đổi những mục đích
của mình. Chỉ có con người mới có khả năng khách thể hóa mục đích, nghĩa là
thể hiện nguyên mẫu lí tưởng của tương lai và được biểu hiện trong mục đích
điều tiết và điều chỉnh ảnh hưởng từ bên ngoài nhà trường, tham mưu với Ban đại
diện cha mẹ HS,v.v…
13
Trên bình diện vi mô, quản lí giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể xem
đồng nghĩa với quản lí nhà trường. Ta hãy điểm qua các định nghĩa dưới đây về
quản lí nhà trường.
- Quản lí vi mô là quản lí hoạt động giáo dục trong nhà trường bao gồm hệ
thống tác động có hướng đích của HT đến các hoạt động giáo dục, đến con người
(GV, cán bộ nhân viên và HS), đến các nguồn lực (CSVC, tài chính, thông tin,
v.v…), đến các ảnh hưởng ngoài nhà trường một cách hợp quy luật ( quy luật quản
lí, quy luật giáo dục, quy luật tâm lí, quy luật kinh tế, quy luật xã hội, v.v…) nhằm
đạt được mục tiêu giáo dục ( Những vấn đề cơ bản Khoa học quản lí giáo dục- Nhà
xuất bản Đại học Sư phạm- tr 9-10-11 ).
- Quản lí giáo dục là quản lý con người nên đòi hỏi phải tuân theo những
nguyên tắc giáo dục. Những nguyên tắc giáo dục là những yêu cầu, những tiêu
chuẩn, những luận điểm cơ bản chỉ đạo việc tổ chức của chủ thể quản lí giáo dục.
Các cơ quan quản lý trong ngành giáo dục, dù ở cấp nào, dù đảm nhận chức năng
nào đều phải có tổ chức và phải hoạt động theo đúng các nguyên tắc giáo dục; đó là
tính khoa học và thực tiễn, tập trung và dân chủ, kết hợp nhà nước và nhân dân .
Chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý dạy học phụ thuộc một phần rất
quan trọng vào việc xác định đúng đắn và cụ thể mục tiêu quản lí. Trong công tác
giáo dục, mỗi loại mục tiêu (lớn - nhỏ, lâu dài - ngắn hạn, chung – riêng ) đều có vị
trí nhất định và tầm quan trọng của nó. Mối quan hệ giữa chúng là mối quan hệ biện
chứng giữa mục đích và phương tiện.
Như vậy, về cơ bản hoạt động quản lí giáo dục cũng giống như mọi hoạt
động quản lí kinh tế - xã hội nói chung, song quản lí giáo dục mang những đặc điểm
đặc thù. Sở dĩ có sự sai khác là do "Mục tiêu của giáo dục rất khó xác định rõ ràng,
tường minh; sản phẩm của giáo dục là nhân cách con người, nên rất khó đo lường,
đánh giá được; trong giáo dục mối quan hệ giữa nhà giáo với HS là những mối quan
hệ rất đặc biệt. Những điểm sai khác này là cơ sở để xây dựng các thiết chế, các
được những mục tiêu đề ra.
Những tác động đó là những tác động khoa học đến nhà trường, làm cho nhà
15
trường tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch quá trình giảng dạy và học tập theo
mục tiêu đào tạo.
Hay có có thể hiểu cách khác QLGD : Những tác động có chủ định, có kế
hoạch của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nằm đạt được mục tiêu giáo dục đặt
ra. QLGD không những là nhân tố quyết định đến sự phát triển giáo dục mà còn là
yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng giáo dục-đào tạo.
1.2.3. Khái niệm quản lý nhà trường
1.2.3.1. Khái niệm nhà trường
Nhà trường là một thiết chế chuyên biệt của xã hội, nó thế hiện những chức
năng kiến tạo các kinh nghiệm cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó
Từ khi con người hình thành các tổ chức tới nay, nhà trường luôn tồn tại và
phát triển. Nhà trường được hiểu như sau: Nhà trường được tổ chức sao cho việc
kiến tạo những kinh nghiệm đạt được các tiêu chuẩn mà xã hội đó đặt ra cho nhóm
dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm chung
của xã hội.
Trong bối cảnh hiện tại, nhà trường được thừa nhận rộng rãi như là một thiết
chế chuyên biệt của xã hội để giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ trở thành những công dân
hữu ích trong tương lai. Thiết chế đó có mục đích rõ ràng, có tổ chức chặt chẽ, được
cung ứng các nguồn lực cần thiết cho việc thực hiện chức năng của mình mà không
một thiết chế nào có thể thay thế được.
Nhiệm vụ của nhà trường cũng được đề cập từ nhiều khía cạnh khác nhau,
việc quản lý nhà trường cũng có nhiều cách tiếp cận. Khi nhà trường thực hiện các
chức năng giáo dục trong một xã hội cụ thể, bản sắc văn hoá dân tộc in dấu sâu đậm
trong toàn bộ hoạt động của nhà trường. Điều đó có thể thấy rằng bản chất giai cấp
của nhà trường được thực hiện thông qua tính mục đích cũng như cách thức vận
hành của nó. Dấu hiệu phân biệt nhà trường với các thiết chế khác ở chỗ tính mục
đích tập trung hay tính hẹp được “chiết suất”; tính tổ chức và tính kế hoạch hoá cao;
và nhiệm vụ quan trọng của nó là phải thiết lập một quan hệ tối ưu giữa các lợi ích,
tình trạng và sự phát triển của cá nhân, của cộng đồng và của xã hội để có thể điều
17
hòa những yêu cầu của sự phát triển của cá nhân, của cộng đồng và của xã hội. Từ
góc độ này, quản lý nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người
trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng
vai trò xã hội của họ mà trước hết là phạm vi nhà trường với tư cách là một tổ chức
xã hội. (Những vấn đề khoa học QLGD – Trần Kiểm 259).
Một vài tác giả đã đưa ra khái niệm quản lý nhà trường như:
Tác giả Phạm Minh Hạc viết: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối
của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình tức là đưa nhà trường vận hành theo
nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành
giáo dục, với thế hệ trẻ và từng HS”.
Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: “Quản lý nhà trường là quản lý hoạt
động dạy và học tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái
khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo duc”
Trong cuốn “Cơ sở lý luận khoa học quản lý giáo dục”. tác giả M. Ị Konđakôp
đô viết: “Không đòi hỏi một định nghĩa hoàn chỉnh chúng ta hiểu quản lý nhà trường
(công việc nhà trường) là một hệ thống xã hội sư phạm chuyên biệt, hệ thống này đòi
hỏi những tác động có ý thức, có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý đến tất cả
các mặt của đời sống nhà trường, nhằm đảm bảo sự vận hành tối ưu về các mặt kinh tế
– xã hội, tổ chức sư phạm của quá trình dạy học và giáo dục thế hệ đang lớn lên”.
Theo tác giả Bùi Trọng Tuân: Quản lí nhà trường bao gồm quản lí bên trong
nhà trường ( quản lí các thành tố như mục đích, nội dung, phương pháp dạy học,
phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học, đội ngũ GV, cán bộ, tập thể HS,
CSVC, thiết bị dạy học, các thành tố này quan hệ qua lại với nhau, tất cả đều thực
hiện chức năng giáo dục) và quản lí mối quan hệ giữa nhà trường với môi trường xã
hội bên ngoài nhà trường.
Tác giả Đặng Quốc Bảo khi nghiên cứu về quản lý nhà trường quan niệm:
toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu đào tạo của nhà trường.
Mặc khác quản lí trường học về bản chất là quản lí con người. Điều đó tạo
cho các chủ thể (người dạy và người học) trong nhà trường một sự liên kết chặc chẽ
19