SO SÁNH HOẠT
ĐỘNG GIỮA NGÂN
HÀNG THƯƠNG
MẠI VÀ TỔ CHỨC
TÀI CHÍNH PHI
NGÂN HÀNG
Nhóm 2
K12402A
GVHD: ThS. Võ Đình Vinh
Môn học: LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH TIỀN TỆ
3 - 2014 ĐẠI HỌC KINH TẾ LUẬT
Lý thuyết tài chính tiền tệ
2
K124020260 2.9, 2.10
Lý thuyết tài chính tiền tệ
3
MỤC LỤC
1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI. 5
1.1. Định nghĩa. 5
1.2. Tổng hợp các chức năng và dịch vụ của ngân hàng hiện đại. 5
1.2.1. Các dịch vụ ngân hàng theo xu hướng phát triển của lịch sử: 5
1.2.2. Các dịch vụ phát triển gần đây của ngân hàng: 7
1.3.1. Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn và quản lý nguồn vốn kinh doanh. 8
1.3.1.1. Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng. 8
1.3.1.2. Quản lí nguồn vốn kinh doanh 10
1.3.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn và quản lí tài sản có. 10
1.3.2.1. Cơ cấu tài sản có của ngân hàng 10
1.3.2.2. Quản lí tài sản có kinh doanh của ngân hàng 11
1.3.3. Các nghiệp vụ trung gian thanh toán và ngân quỹ 14
2. CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH PHI NGÂN HÀNG. 15
2.1. Công ty bảo hiểm. 15
2.1.1. Khái niệm. 15
2.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm. 15
Bảo hiểm là một loại dịch vụ đặc biệt; 15
2.1.3. Vai trò của bảo hiểm. 15
2.2. Các Hình thức bảo hiểm. 15
2.2.1. Bảo hiểm kinh doanh. 15
2.2.2. Bảo hiểm xã hội. 16
2.2.3. Bảo hiểm thương mại 17
2.2.4. Bảo hiểm y tế 21
2.3. Quỹ hưu trí 23
Lý thuyết tài chính tiền tệ
5
1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1. Định nghĩa.
Ngân hàng là tổ chức trung gian tài chính có giới hạn hoạt động rộng lớn và đa dạng: trước tiên
là các hoạt động liên quan đến tín dụng, tiết kiệm, các tài khoản thanh toán; tiếp theo là thực hiện
các chức năng tài chính đa dạng đối với tất cả các chủ thể kinh tế.
1.2. Tổng hợp các chức năng và dịch vụ của ngân hàng hiện đại.
Ngân hàng hiện đại ngày nay thực hiện các chức năng và vai trò chủ chốt sau:
Chức năng tín dụng
Chức năng hoạch định đầu cơ
Chức năng thanh toán
Chức năng tài khoản tiết kiệm
Chức năng điều hành các dòng tiền mặt
Chức năng ngân hàng đầu tư
Chức năng môi giới
Chức năng bảo hiểm
Chức năng đại lý
Ngân hàng là dạng công ty cung cấp các dịch vụ tài chính, thực hiện điều hành chuyên nghiệp
các nguồn tiền và nguồn vốn xã hội cũng như thực hiện tập hợp nhiều chức năng khác trong nền
kinh tế.
Vai trò đa dạng của ngân hàng
Vai trò trung gian: thực hiện chuyển hóa các khoản tiết kiệm tin dụng nhận từ các cá nhân và
được dùng như một dạng tiền tương tự như ngân phiếu séc ngày nay.
Hiện nay, dịch vụ giữ an toàn các vật quý của khách hàng được thực hiện qua dịch vụ cho thuê
két sắt an toàn tại ngân hàng
Hỗ trợ tín dụng cho các hoạt động của nhà nước
Từ thời trung cổ, các chính phủ đã chú ý đến những phương pháp huy động và cho vay những
khoản vay lớn của các ngân hàng trên thế giới. Chính quyền cai trị đã buộc các ngân hàng phải
gắn kết vào mục tiêu của mình.
VD: Ở Mỹ,thời kì trước chiến tranh giành độc lập vào TK 18, chính phủ chỉ cấp giấy phép
thành lập ngân hàng với điều kiện là ngân hàng sắp thành lập phải mua công trái của chính phủ
với số lượng chiếm một tỉ lệ nhất định trong tất cả các tài khoản của ngân hàng.
Tài khoản séc
Tài khoản séc cho phép người dùng có vốn kí các thương phiếu để thanh toán hàng hóa hay
dịch vụ và ngân hàng có nghĩa vụ thanh toán các thương phiếu này ngay lập tức.
Hoạt động này đã tăng đáng kể hiệu quả của hệ thống thanh toán, đơn giản hóa và tăng tốc độ
thực hiện các hoạt động doanh nghiệp.
Dịch vụ ủy thác
Thông qua dịch vụ ủy thác cá nhân, khách hàng chuyển giao cho ngân hàng khả năng điều hành
và đầu tư nguồn tiền của họ trong khi họ chưa cần đến.
Các ngân hàng thường đóng vai trò người thực hiện di chúc, điều hành tài sản của các khách
hàng đã qua đời. Ngân hàng đảm bảo nguyên vẹn các tài sản quý giá để người thừa kế nhận được
tài sản này khi đến thời điểm phù hợp.
Lý thuyết tài chính tiền tệ
7
Thông qua dịch vụ ủy thác thương mại, ngân hàng điều hành danh mục chứng khoán của công
ty và cung cấp dịch vụ đại diện cho các công ty, phát hành cổ phiếu hay trái phiếu, chi trả cổ tức
hay lãi suất khi đến hạn.
1.2.2. Các dịch vụ phát triển gần đây của ngân hàng:
Cung cấp tín dụng tiêu dùng
cho các khách hàng các nhân các tài khoản – kế hoạch nhằm đảm bảo cho tuổi già và bệnh tật.
1.3. Hoạt động của ngân hàng thương mại.
Lý thuyết tài chính tiền tệ
8
Xuất phát từ đặc điểm là định chế tài chính tiêu biểu của các định chế tài chính trung gian, cho
nên hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại gắn liền với quá trình huy động các nguồn
vốn tiết kiệm, nhàn rỗi trong xã hội. Sau đó, ngân hàng sử dụng số vốn này để cho vay lại, hình
thành tài sản kinh doanh nhằm mục đích lợi nhuận.
Dựa vào bảng cân đối tài sản của ngân hàng thương mại (NHTM), ta thấy rằng trong quá trình
hoạt động kinh doanh, ngân hàng thực hiện các nghiệp vụ sau:
- Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn
- Nghiệp vụ sử dụng vốn
- Các nghiệp vụ trung gian dịch vụ ngân hàng.
1.3.1. Nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn và quản lý nguồn vốn kinh doanh.
1.3.1.1. Cơ cấu nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng.
Căn cứ vào tính chất kinh tế, nguồn vốn kinh doanh của NHTM được chia thành hai bộ phận
cơ bản: nguồn vốn tự có của ngân hàng và nguồn huy động vốn.
a. Nguồn vốn tự có của NHTM
Đây là bộ phận nguồn vốn mà khi sử dụng, ngân hàng không phải cam kết hoàn trả cho các chủ
sở hữu. Do vậy, nguồn vốn này có tính ổn định cao nhất so với các bộ phận nguồn vốn khác.
Thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số vốn kinh doanh, không quá 10%, nhưng lại có vai trò
quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng trong hiện tại và tương lai. Bởi vì:
- Nó đóng vai trò là tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá sản và đưa ngân hàng trở lại trạng
thái hoạt động sinh lời.
- Là khoản vốn tối cần thiết để có thể được nhà nước cấp giấy phép hoạt động, nó được dùng
để đầu tư cơ sở vật chất và các phương tiện phục vụ cho hoạt động kinh doanh của NHTM.
- Nguồn vốn tự có của NHTM tạo cơ sở xác lập niềm tin cho việc huy động các nguồn vốn
của khách hàng trên thị trường. NHTM phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh để có thể đáp ứng các
Tiền gửi không kỳ hạn (còn gọi là tiền gửi thanh toán)
Với loại này, người gửi có thể gửi tiền vào và rút ra bất cứ khi nào có nhu cầu. Mục đích chính
của người gửi tiền chính là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán
qua ngân hàng. Đây là loại tiền gửi có chi phí thấp.
Khi duy trì được mức tiền gửi bình quân tại ngân hàng cao và ổn định, tạo điều kiện cho ngân
hàng có thể sử dụng lượng tiền này để cho vay mà không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán
của ngân hàng.
Tiền gửi có kỳ hạn:
Đây là nguồn vốn đáng kể của ngân hàng, có thời gian đáo hạn và có quy định nộp phạt nếu rút
tiền ra trước thời hạn.
Với những đặc tính ổn định của có kỳ hạn thì ngân hàng có thể chủ động kế hoạch hóa việc sử
dụng nguồn vốn, tìm kiếm những khoản đầu tư có thời gian hợp lí và thu lợi nhuận cao.
Tiền gửi tiết kiệm:
Là loại tiền dành cho tầng lớp dân cư, được hưởng lãi. Hình thức phổ biến của loại tiền này là
tiết kiệm có sổ.
Ở Việt Nam, có các hình thức gửi tiết kiệm phổ biến:
+ Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
+ Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
+ Tiền gửi tiết kiệm có mục đích.
Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi phi giao dịch. Do chúng có cùng tính
chất là được hưởng lãi cao và chủ sở hữu không được phát hành séc.
- Nguồn vốn đi vay:
Phát hành chứng từ có giá:
Ngân hàng chủ động phát hành các loại kỳ phiếu ngân hàng để huy động vốn nhằm thực hiện
những dự án đầu tư đã định. Việc này được thực hiện theo 2 phương thức: phát hành theo mệnh
giá (trả lãi sau, người mua trả tiền theo mệnh giá được ghi trên bề mặt kỳ phiếu), phát hành bằng
hình thức chiết khấu (trả lãi trước, người mua sẽ trả một số tiền bằng mệnh giá trừ đi khoản lãi họ
được hưởng).
Vay từ các ngân hàng và các trung gian tài chính khác:
Lý thuyết tài chính tiền tệ
+ Đảm bảo khả năng thanh toán và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
1.3.2. Nghiệp vụ sử dụng vốn và quản lí tài sản có.
1.3.2.1. Cơ cấu tài sản có của ngân hàng
a. Vốn tài sản phục vụ kinh doanh ngân hàng
Đây là những tài sản được hình thành từ ngnhieepj vụ mua sắm tài sản của ngân hàng thương
mại. Với đặc điểm kinh doanh của ngân hàng là dựa trên niềm tin, cũng như đòi hỏi sự chính xác
và an toàn cao, cho nên việc đầu tư vào các loại tài sản này là rất cần thiết, với giá trị và quy mô
lớn. Điều này tạo nên sự tin tưởng mạnh mẽ cho khách hàng, làm gia tăng khả năng huy động vốn
kinh doanh.
b. Tài sản bằng tiền
Với mục đích đảm bảo an toàn khả năng thanh toán thường xuyên của ngân hàng, nghiệp vụ
ngân quỹ được thể hiện qua các khoản mục:
Lý thuyết tài chính tiền tệ
11
- Tiền mặt tại quỹ: gồm tiền giấy và tiền kim loại có tại kho của ngân hàng. Nhu cầu dự trữ
tiền mặt cao hay thấp tùy thuộc vào quy mô hoạt động, nhu cầu rút tiền mặt của khách hàng và
tính chất thời vụ trong năm.
- Tiền gửi tại các ngân hàng khác: các ngân hàng có thể mở tài khoản lẫn nhau để đổi lấy
những dịch vụ khác nhau: trung gian thnah toán cho khách hàng, giao dịch ngoại tệ; mua bán
chứng khoán…
- Tiền gửi tại ngân hàng trung ương: bao gồm tiền gửi bắt buộc tại ngân hàng trung ương và
tiền gửi thanh toán. Mức tiền gửi bắt buộc trong từng thời kỳ thương chiếm tỷ lệ từ 10-35% trên
nguồn vốn huy động.
c. Tài sản tín dụng
Hình thành từ nghiệp vụ cấp tín dụng cho vay là nghiệp vụ cung ứng vốn của ngân hàng trực
tiếp cho nhu cầu kinh doanh và tiêu dùng xã hội. Đây là nghiệp vụ sử dụng lượng vốn lớn nhất và
tạo ra lợi nhuận nhiều nhất. Nghiệp vụ này được thực hiện thông qua các hình thức phổ biến:
- Chiết khấu thương phiếu: là nghiệp vụ cho vay ngắn hạn trong đó, ngân hàng mua những
12
Các loại rủi ro thường gặp:
a. Rủi ro tín dụng
Đây là loại rủi ro mà ngân hàng thường xuyên gặp phải. Biểu hiện của nó là các khoản cho vay
của ngân hàng giảm giá trị hay không thu hồi được. trong trường hợp nguồn vốn chủ sở hữu quá
nhỏ so với tổng tài sản, chỉ cần một tỷ lệ nhỏ danh mục tài sản cho vay gặp rủi ro tín dụng có thể
đẩy ngân hàng tới nguy cơ phá sản. Các chỉ tiêu thường được dùng để đo lường rủi ro tín dụng
của ngân hàng:
- Tỷ số tổng giá trị dư nợ cho vay và cho thuê trên tổng tài sản có, để đánh giá mức độ rủi
ro tín dụng.
- Tỷ số giữa các khoản nợ quá hạn so với tổng dư nợ cho vay và cho thuê.
- Tỷ số giữa các khoản nợ xấu so với tổng dư nợ cho vay và cho thuê.
- Tỷ số giữa các khoản xóa nợ ròng so với tổng cho vay và cho thuê.
- Tỷ số giữa phân bổ dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với tổng số cho vay và cho
thuê hay với tổng vốn chủ sở hữu.
- Tỷ số giữa dự phòng tổn thất tín dụng so với tổng số cho vay và cho thuê hay với tổng vốn
chủ sở hữu.
Trong đó, các khoản nợ quá hạn là những khoản cho vay có thời gian quá hạn thanh toán quá
1/3 thời gian cho vay sau khi đã gia hạn. Các khoản cho vay được xóa nợ là những khoản cho vay
được ngân hàng tuyên bố là không còn giá trị và bị xóa khỏi sổ sách, không bao gồm các khoản
cho vay mà tương lai cũng tạo ra thu nhập và thu hồi được.
Nếu hai chỉ tiêu đầu tăng lên, cho thấy rủi ro tín dụng tăng. Do đó, ngân hàng cần có những
chuẩn bị cho việc khắc phục các khoản tổn thất tín dụng thông qua việc lập dự phòng hàng năm
và được phản ánh qua hai chỉ tiêu sau.
Bên cạnh việc kiểm tra, thẩm định tính khả thi và hiệu quả của dự án cho vay, ngân hàng còn
phải giới hạn cung ứng tín dụng nhằm hạn chế rủi ro. Các chỉ tiêu giới hạn tín dụng (cho vay và
bảo lãnh) áp dụng đối với khách hàng và nhóm khách hàng để kiểm soát rủi ro này, gồm:
- Tỷ số giữa tổng dư nợ cho vay ngân hàng đối với một khách hàng hay một nhóm khách
hàng so với vốn tự có của ngân hàng.
với nhau, thì phải chịu những RRLS trong việc tái tài trợ tài sản có và tài sản nợ; hoặc RRLS do
giá trị của tài sản thay đổi khi lãi suất thị trường biến động. Ngân hàng có thể phòng ngừa RRLS
bằng cách làm cho các kỳ hạn của tài sản có và tài sản nợ cân xứng với nhau. Xét từ góc độ triết
lý chung thì việc làm cho các kỳ hạn cân xứng với nhau là một giải pháp tốt nhất đề phòng ngừa
RRLS.
Nếu không có sự quan tâm thích đáng đến việc quản lý RRLS, không dự báo được xu hướng
biến động của lãi suất thì các NHTM có thể bị thiệt hại nặng nề từ loại rủi ro này.
- Quản lý rủi ro lãi suất như thế nào?
Để phòng tránh RRLS, đòi hỏi NHTM phải tăng cường công tác quản lý, trong đó cần áp dụng
phương pháp lượng hóa RRLS có ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh. Hiện nay, trên thế giới
có 3 mô hình lượng hóa RRLS đang được các ngân hàng hiện đại áp dụng, đó là: mô hình kỳ hạn
đến hạn, mô hình định giá lại và mô hình thời lượng.
(i) Mô hình kỳ hạn đến hạn: Có 2 phương pháp để lượng hóa mô hình này là (1) Phương
pháp lượng hóa RRLS đối với một tài sản; (2) phương pháp lượng hóa RRLS đối với danh
mục tài sản. Mô hình kỳ hạn là một phương pháp trực quan để lượng hóa RRLS qua đánh giá
sự cân xứng về kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Nhược điểm của mô hình này là không đề cập đến yếu tố thời lượng của các luồng tài sản có
và tài sản nợ. Tuy nhiên, do tính đơn giản và trực quan nên được sử dụng khá phổ biến, điều này
cũng phù hợp với Việt Nam hiện đang trong quá trình hiện đại hóa ngân hàng.
(ii) Mô hình định giá lại: Nội dung cơ bản của mô hình này là việc phân tích các luồng
tiền dựa trên nguyên tắc giá trị ghi sổ nhằm xác định chênh lệch giữa lãi suất thu được từ
tài sản có và lãi suất thanh toán cho vốn huy động sau một thời gian nhất định.
Một nhược điểm của mô hình là chỉ đề cập đến giá trị ghi sổ của tài sản mà không đề cập đến
giá trị thị trường của chúng. Do đó, mô hình định giá lại chỉ phản ánh được một phần RRLS đối
với ngân hàng.
(iii) Mô hình thời lượng: So với hai mô hình trên, thì mô hình thời lượng hoàn hảo hơn
trong việc đo mức độ nhạy cảm của tài sản có và tài sản nợ đối với lãi suất, bởi vì nó đề cập
đến yếu tố thời lượng của tất cả các luồng tiền cũng như kỳ hạn đến hạn của tài sản nợ và tài sản
Lý thuyết tài chính tiền tệ
làm giảm lượng tiền mặt lưu thông trong nền kinh tế. Các nghiệp vụ ngân quỹ và trung gian thanh
toán ngân hàng thương mại gồm:
- Mở tài khoản giao dịch cho các khách hàng là pháp nhân hay thể nhân trong, ngoài nước.
- Cung ứng các phương tiện thanh toán cho khách hàng như: séc, ủy nhiệm chi, thẻ rút tiền
ATM, thẻ tín dụng…
- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán trong nước và quốc tế như séc, ủy nhiệm chi, chuyển
tiền…
- Thực hiện các nghiệp vụ thu, chi hộ.
- Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán khác phục vụ cho các hoạt động phát hành kinh doanh
chứng khoán trên thị trường tài chính như: lưu ký đấu thầu, thanh toán tiền mua chứng khoán;
nhận ký quỹ và tổ chức thanh toán cho các hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường tài
chính thứ cấp.
Thực hiện các nghiệp vụ ngân quỹ: thu, phát tiền mặt; kiểm đếm, phân loại, bảo quản, vận
chuyển tiền mặt…
Lý thuyết tài chính tiền tệ
15
2. CÁC TỔ CHỨC TÀI CHÍNH PHI NGÂN HÀNG.
2.1. Công ty bảo hiểm.
2.1.1. Khái niệm.
Bảo hiểm thực chất là sự chia nhỏ rủi ro, là hoạt động thể hiện
người bảo hiểm đứng ra cam kết hợp đồng bồi thường theo quy luật thống kê
cho người được bảo hiểm trong trường hợp xảy ra rủi ro, với điều kiện người
được bảo hiểm đã mua phí bảo hiểm.
2.1.2. Đặc điểm của bảo hiểm.
Bảo hiểm là một loại dịch vụ đặc biệt;
Bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn, vừa mang tính không bồi hoàn;
Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tuân theo luật pháp quy định cho doanh nghiệp nói
chung, và cho doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng;
Lý thuyết tài chính tiền tệ
16
Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít;
Doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ nguyên tắc an toàn tài chính.
Hình thức của bảo hiểm kinh doanh
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm
1. Bảo hiểm tài sản:
Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu;
Bảo hiểm thân tàu, thuyền, ô tô, ;
Bảo hiểm hỏa hoạn.
2. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự;
3. Bảo hiểm con người:
Bảo hiểm nhân thọ;
Bảo hiểm phi nhân thọ.
Căn cứ vào tính chất hoạt động
1. Bảo hiểm tự nguyện;
2. Bảo hiểm bắt buộc.
Cơ chế, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm kinh doanh
Chăm sóc y tế;
Trợ cấp ốm đau;
Trợ cấp thất nghiệp;
Trợ cấp tuổi già;
Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;
Trợ cấp gia đình;
Trợ cấp sinh sản;
Trợ cấp tàn phế;
Trợ cấp cho người bị mất người nuôi dưỡng.
Ở Việt Nam, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam thực hiện 6 chế độ
Bảo hiểm thất nghiệp;
Trợ cấp ốm đau;
Trợ cấp thai sản;
Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;
Trợ cấp hưu trí;
Trợ cấp tử tuất.
Nội dung Bảo hiểm thương mại
Nội dung của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, ngoài mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm
với khách hàng của mình (gọi là Người mua bảo hiểm) còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa
người bảo hiểm gốc và người nhận tái bảo hiểm khi thực hiện tái bảo hiểm và bao hàm các hoạt
động của trung gian bảo hiểm như: môi giới, đại lý Nhà bảo hiểm thương mại hoạt động kinh
doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận trong việc đảm bảo rủi ro cho khách hàng của mình.
Lợi ích của Bảo hiểm thương mại
Trong cuộc sống hàng ngày, lúc này hay lúc khác, dù không hề mong muốn và dù khoa học kỹ
thuật có tiến bộ đến đâu, người ta vẫn có thể phải gánh chịu những rủi ro tổn thất bất ngờ. Tác
động của rủi ro làm cho con người không thu hái được kết quả như đã dự định trước và tạo ra sự
ngưng trệ quá trình sản xuất, sinh hoạt của xã hội. Đó chính là tiền đề khách quan cho sự ra đời
của các loại quỹ dự trữ bảo hiểm nói chung và hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng. Tồn tại
song song với các quỹ dự trữ khác, Bảo hiểm thương mại đóng vai trò như một công cụ an toàn
thực hiện chức năng bảo vệ con người, bảo vệ tài sản cho kinh tế và xã hội. Cụ thể là:
Đối với người dân, bảo hiểm đảm bảo cho họ về mặt tài chính nhằm khắc phục hậu quả khi
bất ngờ gặp rủi ro tai nạn hay bệnh tật như chi phí điều trị, viện phí, thu nhập mất giảm…Bảo
hiểm nhân thọ còn cung cấp những chương trình tiết kiệm và là người đại diện đầu tư mang lại
lợi tức cho khách hàng.
Đối với các doanh nghiệp, tham gia bảo hiểm giúp các doanh nghiệp với việc bỏ ra một
khoản phí bảo hiểm ổn định và nhỏ có thể hoán chuyển rủi ro - những yếu tố không ổn định và
tổn thất không lường trước được sang cho nhà bảo hiểm. Nhờ vậy, các doanh nghiệp an tâm sản
xuất và khi có những tổn thất xảy ra, bồi thường bảo hiểm sẽ giúp họ nhanh chóng khôi phục quá
trình kinh doanh.
Đối với ngân hàng thương mại, bảo hiểm đảm bảo cho khả năng hoàn trả vốn vay của doanh
nghiệp – người đi vay trong những trường hợp gặp rủi ro tổn thất. Mặt khác, các loại hình bảo
hiểm nhân thọ còn giúp các ngân hàng an tâm triển khai các loại hình tín dụng tiêu dùng cho người
dân.
Hoạt động bảo hiểm phát triển.góp phần cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong
đầu tư tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế, kỹ thuật, thương mại và thu hút vốn
- Ba là, bảo hiểm thương mại cung cấp dịch vụ đảm bảo không chỉ cho các rủi ro bản thân)
mà còn cho cả rủi ro tài sản và trách nhiệm dân sự.
Nguyên tắc hoạt động cơ bản của Bảo hiểm thương mại
Hoạt động bảo hiểm nói chung, hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng tạo ra được một "sự
đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít" trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro
thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất. Số người tham gia càng
đông, tổn thất càng phân tán mỏng, rủi ro càng giảm thiểu ở mức độ thấp nhất thể hiện ở mức phí
bảo hiểm phải đóng là nhỏ nhất đủ để mỗi người đó không ảnh hưởng gì quan trọng đến hoạt động
sinh hoạt sản xuất của mình. Hoạt động theo quy luật số đông, đó là nguyên tắc cơ bản nhất của
bảo hiểm. Bên cạnh đó, đám đông tham gia vào cộng đồng càng lớn thể hiện nhu cầu bảo hiểm
càng tăng theo đà phát triển của nền kinh tế - xã hội, những người được bảo hiểm không thể và
cũng không cần biết nhau, họ chỉ biết người quản lý cộng đồng (doanh nghiệp bảo hiểm) là người
nhận phí bảo hiểm và cam kết sẽ bồi thường cho họ khi có rủi ro tổn thất xảy ra. Hoạt động bảo
hiểm thương mại tạo ra được một sự hoán chuyển rủi ro từ những người được bảo hiểm qua người
bảo hiểm trên cơ sở một văn bản pháp lý: Hợp đồng bảo hiểm. Điều này đã tạo ra một rủi ro mới
đe dọa mối quan hệ giữa 2 bên trên hợp đồng. Dịch vụ bảo hiểm thương mại là một lời cam kết,
liệu lúc xảy ra tổn thất, doanh nghiệp bảo hiểm có thực hiện hoặc có khả năng thực hiện cam kết
của mình hay không trong khi phí bảo hiểm đã được trả theo "nguyên tắc ứng trước". Ngược lại
các rủi ro, tổn thất được bảo hiểm được minh thị rõ ràng trên hợp đồng, liệu có sự man trá của
Lý thuyết tài chính tiền tệ
20
phía người được bảo hiểm hay không để nhận hưởng tiền bảo hiểm. Như vậy, mối quan hệ giữa
2 bên trên hợp đồng bảo hiểm gắn liền với sự tin tưởng lẫn nhau và điều này đòi hỏi phải đảm bảo
nguyên tắc cơ bản thứ hai: Nguyên tắc trung thực.
Các nét khác nhau cơ bản giữa Bảo hiểm thương mại và Bảo hiểm xã hội
Bảo hiểm thương mại được thực hiện bởi các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích cung cấp
cho xã hội một loại hàng hóa, dịch vụ “an tòan”, trên cơ sở đó, nhà bảo hiểm tìm kiếm một khoản
lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm. Trong khi đó, Bảo hiểm xã hội được thực hiện bởi cơ quan bảo
người có thể là bảo hiểm nhân thọ hoặc bảo hiểm tai nạn – bệnh.
Lý thuyết tài chính tiền tệ
21
(3) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm phát sinh do ràng buộc
của các quy định trong luật dân sự, theo đó, người được bảo hiểm phải bồi thường bằng tiền cho
người thứ 3 những thiệt hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự vận hành của tài sản thuộc sở
hữu của chính mình. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự có thể là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp
hoặc bảo hiểm trách nhiệm công cộng. Phân loại theo kỹ thuật bảo hiểm: Theo cách phân loại này
các loại hình bảo hiểm được chia ra làm 2 loại: loại dựa trên kỹ thuật "phân bổ" và loại dựa trên
kỹ thuật "tồn tích vốn".
(1) Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật phân bổ: là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro
có tính chất ổn định (tương đối) theo thời gian và thường độc lập với tuổi thọ con người (nên gọi
là bảo hiểm phi nhân thọ). Hợp đồng bảo hiểm loại này thường là ngắn hạn (một năm);
(2) Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật tồn tích vốn: là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi
ro có tính chất thay đổi (rõ rệt) theo thời gian và đối tượng, thường gắn liền với tuổi thọ con người
(nên gọi là bảo hiểm nhân thọ). Các hợp đồng loại này thường là trung và dài hạn (10 năm, 20
năm, trọn đời ). Phân loại theo tính chất của tiền bảo hiểm trả:
(1) Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc bồi thường: Theo nguyên tắc này,
số tiền mà người bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm không bao giờ vượt quá giá trị thiệt hại
thực tế mà anh ta đã phải gánh chịu. Các loại bảo hiểm này gồm có: bảo hiểm tài sản và bảo hiểm
trách nhiệm dân sự (gọi chung là bảo hiểm thiệt hại). Với loại bảo hiểm nầy, về nguyên tắc, người
mua bảo hiểm không được ký hợp đồng trên giá hoặc bảo hiểm trùng ;
(2) Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc khoán: Người được bảo hiểm sẽ
nhận được số tiền khoán theo đúng mức mà họ đã thỏa thuận trước trên hợp đồng bảo hiểm với
người bảo hiểm tùy thuộc và phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng đóng phí. Đây chính là các
loại bảo hiểm nhân thọ và một số trường hợp của bảo hiểm tai nạn, bệnh tật. Với loại bảo hiểm
nầy, về nguyên tắc, người mua bảo hiểm có thể cùng một lúc ký nhiều hợp đồng bảo hiểm cho
một đối tương và không bị hạn chế số tiền bảo hiểm
Vì quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và bảo đảm an toàn sức khỏe cho cộng đồng;
Chỉ bảo hiểm cho những rủi ro không lường trước được, không bảo hiểm những rủi ro chắc
chắn sẽ xảy ra hoặc đã xảy ra;
Hoạt động dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít.
Đối tượng của bảo hiểm y tế
Đối tượng của bảo hiểm y tế là sức khỏe của người được bảo hiểm (rủi ro ốm đau, bệnh tật, ).
Hình thức của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế bắt buộc;
Bảo hiểm y tế tự nguyện.
Phạm vi của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội của mọi quốc gia trên thế giới do chính phủ tổ chức
thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của mọi tầng lớp trong xã hội để thanh toán chi phí y tế
cho người tham gia bảo hiểm;
Người tham gia bảo hiểm y tế khi gặp rủi ro về sức khỏe được thanh toán chi phí khám
chữa bệnh với nhiều mức khác nhau tại các cơ sở y tế;
Một số loại bệnh mà người đến khám bệnh được ngân sách nhà nước đài thọ theo quy định;
cơ quan bảo hiểm y tế không phải chi trả trong trường hợp này.
Cơ chế hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế
Hình thành quỹ bảo hiểm y tế
Ngân sách nhà nước cấp;
Tài trợ của các tổ chức xã hội, từ thiện;
- Ở một số nước (chẳng hạn như Mỹ và anh), chính phủ có vai trò trong hạn chế hoạt động
của quỹ lương hưu. Gánh nặng của việc hoạch định hưu trí thuộc về người lao động. ở một số
nước khác (chẳng hạn như Pháp và Ý) thi chính phủ lại đóng vai trò tích cực.
- Các chương trình lương hưu thường được tổ chức dưới dạng quỹ tín thác.
Chủ doanh nghiệp lập nên quỹ tín thác do một người được ủy thác quản lý vì lợi ích của
các thành viên trong quỹ.
Tài sản của quỹ được tách rời khỏi doanh nghiệp tài trợ và không được thể hiện trên bảng
cân đối kế toán của doanh nghiệp.
2.3.2. Các loại quỹ hưu trí:
- Loại quỹ truyền thống.
Lợi ích của các thành viên được xác định bằng các mức lương cuối cùng.
Mức lương này được gọi là lợi ích được xác định hay lương cuối cùng.
Doanh nghiệp và người lao động hàng tháng đều đóng góp vào quỹ lương hưu.
Người được ủy thác có trách nhiệm đảm bảo rằng tài sản có của quỹ trang trải được các tài
sản nợ.
Doanh nghiệp chịu rủi ro còn lại; chẳng hạn nếu thị trường chứng khoán sụp đổ thì tài sản
có quỹ sẽ giảm xuống ( so với tài sản nợ) và doanh nghiệp sẽ được yêu cầu đóng góp thêm.
- Loại quỹ mới.
Chỉ có những đóng góp của doanh nghiệp là xác định.
Tiền lương hưu cuối cùng phụ thuộc vào giá trị của khoảng đầu tư khi nghỉ hưu.
Nếu các khoản đầu tư của quỹ hoạt động tốt thì các thành viên của quỹ sẽ giàu lên; nếu
không, họ sẽ nghèo đi.
Quỹ hưu trí ở Việt Nam
- Tổ chức của nhà nước
- Người lao động đóng góp một phần, doanh nghiệp đóng góp một phần.
Lý thuyết tài chính tiền tệ
24
- Công ty tài chính Sài Gòn( SFC)
- Công ty tài chinh Seaprodex…
2.5. Quỹ tương hỗ (Mutual fund)
2.5.1. Khái niệm và đặc điểm cơ bản:
- Quỹ tương hỗ là quỹ được điều hành bởi công ty đầu tư nhằm huy động vốn cổ đông và đầu
tư vào chứng khoán, trái phiếu, hợp đồng option, hàng hoá hay các chứng khoán trên thị trường
Lý thuyết tài chính tiền tệ
25
tiền tệ, thường phát hành chứng khoán quỹ để huy động vốn. Đây là một loại chứng khoán tạo cơ
hội cho các nhà đầu tư nhỏ có khả năng tiếp cận với một danh mục đầu tư đa dạng và có một sự
quản lý chuyên môn. Mỗi cổ đông đều có cơ hội được hưởng lãi từ hoạt động đầu tư của quỹ
nhưng đồng thời cũng phải chịu lỗ nếu như đầu tư không thành công.
Bạn có thể thu được lợi nhuận từ một quỹ đầu tư theo 03 cách như sau:
Thu nhập từ cổ tức được chia từ cổ phiếu và từ lãi suất trái phiếu. Quỹ thường chi trả gần
như toàn bộ các khoản thu nhập mà quỹ nhận được trong năm cho Nhà đầu tư dưới hình thức phân
chia cổ tức quỹ.
Nếu quỹ bán đi chứng khoán đã tăng giá, quỹ sẽ có lãi vốn (capital gain). Hầu hết các quỹ
cũng chia lại khoản lãi vốn này cho Nhà đầu tư.
Nếu các chứng khoán mà quỹ còn nắm giữ tăng giá và Công ty quản lý quỹ quyết định
không bán ra, giá chứng chỉ quỹ trên thị trường sẽ tăng lên. Khi đó, Nhà đầu tư có thể bán chứng
chỉ quỹ để kiếm lời.
Thành lập quỹ tương hỗ
Các quỹ tương hỗ thường do các công ty đầu tư (gọi là các công ty quỹ tương hỗ), các công ty
môi giới và ngân hàng tạo dựng nên. Số lượng quỹ mà các nhà bảo trợ này cung cấp rất đa dạng,
từ rất ít như 2, 3 quỹ đến số lượng lớn hơn 150 quỹ. Mỗi quỹ mới đều có một nhà quản lý có trình
độ chuyên môn tốt, một mục tiêu đầu tư, một kế hoạch hoặc chương trình đầu tư mà nó sẽ theo
đuổi để có thể xây dựng danh mục đầu tư riêng của quỹ