TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG LOGISTICS CỦA
NHẬT BẢN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Đặng Thị Huê
Lớp : Nhật 6
Khóa : 45
Giáo viên hƣớng dẫn : TS. Trịnh Thị Thu Hƣơng
Hà Nội, ngày 12 tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Đặng Thị Huê MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
LỜI NÓI ĐẦU 0
CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG LOGISTICS 2
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI HOẠT ĐỘNG LOGISTICS 2
1.Khái niệm dịch vụ logistics 2
2.Lịch sử hình thành và phát triển của logistics 5
3.Đặc điểm của logistics 7
4.Phân loại logistics 9
II. CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN CỦA LOGISTICS 12
1. Yếu tố vận tải 12
2. Yếu tố marketing 14
3. Yếu tố phân phối 14
4. Yếu tố quản trị 15
5. Các yếu tố khác 16
III. VAI TRÒ CỦA LOGISTICS 19
1.Vai trò của logistics 19
2.Tác dụng của dịch vụ logistics đối với doanh nghiệp 20
VI. NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG LOGISTICS 23
1.Mua sắm nguyên vật liệu 23
2.Dịch vụ khách hàng 23
3.Quản lý hoạt động dự trữ 24
4.Dịch vụ vận tải 25
VIỆT NAM TỪ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN 70
I.THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LOGISTICS TẠI VIỆT NAM 70
1.Các loại hình dịch vụ logistics tại Việt Nam 70
2.Khuôn khổ pháp lý cho hoạt động logistics 77
3.Cơ sở hạ tầng 77
4.Người cung cấp và sử dụng dịch vụ logistics 81
II. ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS TẠI VIỆT NAM 83
1. Những thuận lợi cho việc phát triển ngành logistics tại Việt Nam 83
2. Những mặt yếu kém trong hoạt động logistics tại Việt Nam 84 2
III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS
VIỆT NAM TỪ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN 89
1. Cơ sở hạ tầng 90
1.1. Đẩy mạnh đầu tư hạ tầng cơ sở đồng bộ tiên tiến. 90
1.2. Xây dựng cơ sở đào tạo nguồn nhân lực cho ngành logistics 92
2. Pháp luật 93
2.1 Hoàn chỉnh hệ thống luật pháp cho hoạt động logistics, ban hành các
văn bản chỉ đạo kịp thời hoạt động kinh doanh logistics. 93
2.2 Thành lập cơ quan ban ngành của nhà nước theo dõi sát sao hướng
dẫn, chỉ đạo hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp logistics. 94
3. Người cung cấp và sử dụng dịch vụ logistics 95
3.1. Đẩy mạnh nhận thức về logistics 95
3.2. Đa dạng các loại hình dịch vụ, đảm bảo chất lượng hàng hóa đúng
thời gian và địa điểm. 95
3.3. Ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là thương mại điện tử vào
quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. 96
3.4. Nâng cao năng lực quản lý trong các doanh nghiệp, xây dựng
thương hiệu và chiến lược marketing nhằm khẳng định vị trí của mình 96
JAL
Hãng hàng không quốc gia Nhật Bản
JILS
Viện Hệ thống logistics Nhật Bản
JIT
Đúng thời gian địa điểm
JTA
Hiệp hội vận tải Nhật Bản
LPI
Chỉ số phát triển dịch vụ Logistics
NVOCC
Người vận chuyển hàng hóa không có tàu
METI
Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản
MITI
Bộ Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản
MLIT
Bộ Đất đai Cơ sở hạ tầng Giao thông và Du lịch Nhật Bản
MTO
Người kinh doanh vận tải đa phương thức
ODA
Hỗ trợ phát triển chính thức
PBM
Cơ quan quản lý cảng biển Nhật Bản
RFID
Thẻ đọc thông minh
SCM
Chuỗi cung ứng
SXKD
Sản xuất kinh doanh
Express- Nhật Bản 39
Hình 3: Dòng luân chuyển hàng hóa trong công ty logistics Nhật Bản 40
Hình 4: Bản đồ phân bố các cảng biển, sân bay chính và hệ thống đường cao tốc,
đường sắt tại Nhật Bản 42
Hình 5: Quy mô các ngành vận tải giao nhận chính tại Nhật 47
Hình 6: Tỷ lệ quy mô các doanh nghiệp vận tải đường bộ của Nhật Bản 52
Hình 7:Dự đoán thị trường 3PL của Nhật đến năm 2013 53
Hình 8: Bản đồ thể hiện số người sinh ra và mất đi của Nhật Bản qua các năm 56
Hình 9: Chi phí logistics so với GDP qua các năm của Nhật Bản 58
Hình 10: Chi phí logistics so với GDP của Mỹ qua các năm 58
63
Hình 11:Dự án thúc đẩy siêu cảng trung tâm của Nhật Bản 67
Hình 12: Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam qua các năm 75
Hình 13: Phân bố ba cụm cảng biển Việt Nam 78
Hình 14: Cơ cấu thành phần kinh tế kinh doanh dịch vụ logistics 82 0
LỜI NÓI ĐẦU
Quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, mọi người có
thể tiêu thụ được những sản phẩm hàng đầu, có sự tích hợp của hàng trăm quốc gia
trên toàn thế giới. Toàn cầu hóa đã làm thay đổi cung cầu hàng hóa trên toàn cầu,
buộc các nhà sản xuất ra sản phẩm phải thực hiện phương châm "khách hàng là
thượng đế", làm cho việc cạnh tranh của các nhà sản xuất trên thế giới ngày càng
trở nên quyết liệt hơn, đòi hỏi quá trình chuyên môn hóa ngày càng cao. Chính
trong môi trường ấy, ngành dịch vụ logistics ngày càng phát triển đi vào chiều sâu.
Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động của hàng hóa, nguyên vật liệu từ
khi mua sắm, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối cho đến khi đưa đến
tay người tiêu dùng. Với cách hiểu như vậy thì người cung ứng dịch vụ logistics
Tuy nhiên, do trình độ và điều kiện nghiên cứu có hạn, kinh nghiệm thực tế
của bản thân còn ít, nên chắc chắn bài khóa luận này không thể tránh khỏi những
thiếu xót. Em mong nhận được những đánh giá và góp ý của các thầy cô để bài khóa
luận của mình được hoàn chỉnh hơn. 2
CHƢƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG
LOGISTICS
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM, PHÂN LOẠI HOẠT ĐỘNG LOGISTICS
1.Khái niệm dịch vụ logistics
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất và sự hỗ trợ đắc lực của cuộc
cách mạng khoa học kỹ thuật trên thế giới, khối lượng hàng hóa và sản phẩm vật
chất được sản xuất ra ngày càng nhiều. Do khoảng cách trong các lĩnh vực cạnh
tranh truyền thống như chất lượng hàng hóa hay giá cả ngày càng thu hẹp, các nhà
sản xuất đã chuyển sang cạnh tranh về quản lý hàng tồn kho, tốc độ giao hàng, hợp
lý hóa quá trình lưu chuyển nguyên nhiên vật liệu và bán thành phẩm, … trong cả
hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp. Trong quá trình đó, logistics
có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh. Trong thời
gian đầu, logistics chỉ đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới,
mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp. Cùng với quá trình phát triển, logistics
đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất
quan trọng quan trọng trong giao thương quốc tế.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và được xây dựng
căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistics, tuy nhiên, có
thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau:
coi logistics tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa. Tuy nhiên cũng cần chú ý
là định nghĩa trong Luật Thương mại có tính mở, thể hiện trong đoạn in nghiêng
“hoặc các dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa”. Khái niệm logistics trong một số
lĩnh vực chuyên ngành cũng được coi là có nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trong phạm
vi, đối tượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực quân sự). Theo trường
phái này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá
trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ. Theo họ, dịch vụ
logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm
này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức
(MTO).
Nhóm định nghĩa thứ hai về dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động từ
giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng.
Theo nhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, 4
nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào
các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng. Nhóm định
nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp
từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối,
dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản lý … với một nhà cung cấp dịch vụ logisitcs
chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và
đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng. Như vậy, nhà cung cấp dịch vụ
logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung
cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất. Đây là một công việc mang
tính chuyên môn hóa cao.
Khái niệm logistics theo nghĩa rộng luôn gắn liền với khái niệm chuỗi
logistics - khái niệm logistics xây dựng trên cơ sở chu trình thực hiện, và được biểu
hiện theo chuỗi lưu đồ sau:
Hình 1: Chuỗi logistics
goods
Storage)
Thị
trường
tiêu dùng
(Markets)
A
B
Kho
Kho
Nhà máy
Nhà máy
Kho
Kho
v/c 5
2. Lịch sử hình thành và phát triển của logistics
* Các giai đoạn phát triển
Trên thế giới có rất nhiều cách phân chia khác nhau về các giai đoạn phát triển
của Logistics. Theo ESCAP - Ủy ban kinh tế và xã hội Châu Á - Thái Bình Dương
thì quá trình phát triển của logistics trải qua 3 giai đoạn từ chỗ chỉ thực hiện các
hoạt động logistics một cách đơn lẻ rồi kết hợp logistics đầu vào và logistics đầu ra
Logistics) phát triển khá phổ biến trong thập niên 70 của thế kỷ trước.
Giai đoạn 4: Giai đoạn thập kỷ 80- Logistics trong dây chuyền cung ứng
(Supply Chain logistics)
Logistics ở giai đoạn này chính là dòng lưu chuyển của vật tư, hàng hóa,
thông tin và tiền tệ giữa các doanh nghiệp. Như vậy, logistics chính là một chuỗi
các hoạt động phối hợp giữa các doanh nghiệp, nối kết từ nhà cung ứng đến người
tiêu dùng cuối cùng.
Giai đoạn 5: Logistics toàn cầu được hiểu là dòng luân chuyển của nguyên
vật liệu, hàng hóa, thông tin và tiền tệ giữa các doanh nghiệp thuộc nhiều quốc gia
khác nhau trên thế giới. Nó đóng vai trò là nhân tố liên kết các nhà cung cấp với
giới tiêu dùng trên toàn cầu. Nhờ vào sự phát triển của toàn cầu hóa nền kinh tế, sự
mở rộng của các khối liên minh thương mại và sự gia tăng mua bán hàng hóa qua
mạng điện tử, dòng lưu chuyển logistics đã tăng đáng kể và dường như ngày càng
trở lên phức tạp bởi các yếu tố như ngôn ngữ, tiền tệ, múi giờ, văn hóa, Vì các
công ty, tập đoàn lớn luôn có xu hướng vươn ra ngoài biên giới quốc gia, đặt trụ sở
và phục vụ cho nhiều thị trường khu vực khác nhau, nên phải thiết lập một hệ thống
logistics toàn cầu để cung cấp sản phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng.
Các hệ thống logistics ở các nước khác nhau, các khu vực khác nhau có thể không
hoàn toàn giống nhau nhưng tất cả các hệ thống logistics đều có điểm chung là sự
kết hợp khéo léo, khoa học, chuyên nghiệp chuỗi các hoạt động như: marketing, sản
xuất, tài chính, vận tải, thu mua, dự trữ, phân phối, để đạt được mục đích phục vụ
khách hàng tối đa với chi phí tối thiểu.
* Xu hƣớng phát triển của logistics
Có rất học thuyết khác nhau được đưa ra, bàn về vấn đề phát triển tiếp theo
của logistics. Có giả thuyết cho rằng, bước tiến mới sẽ là logistics hợp tác
(collborative logistics) được xây dựng dựa trên sự liên lạc với nhau một cách liên
tục giữa các đối tác trong chuỗi cung ứng. Nhiều quan điểm khác trong cộng đồng 7
8
Logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống không tách rời
nhau, quan hệ chặt chẽ với nhau, làm nền tảng cho nhau tạo thành một chuỗi dây
chuyền logistics.
* Logistics là một dịch vụ.
Logistics tồn tại để cung cấp dịch vụ cho doanh nghiệp hoặc cho khách hàng
của doanh nghiệp. Dịch vụ đối với cả doanh nghiệp hay khách hàng đều được cung
cấp thông qua việc tập trung các yếu tố khác nhau, các yếu tố này là bộ phận tạo
thành chuỗi logistics.
Dịch vụ logistics trong doanh nghiệp chú trọng đến các yếu tố về quản trị
nguyên vật liệu, lưu kho trong nhà máy và phân phối vật chất. Tuy nhiên trong hoạt
động của doanh nghiệp không phải chỉ dừng lại ở yêu cầu các yếu tố cơ bản mà
dịch vụ logistics cung cấp trên đây mà có thể cần cung cấp thêm các dịch vụ khác
của logistics.
* Logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp.
Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi
sản phẩm đã ra khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu
dùng. Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay
tất cả các yếu tố logistics tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp mình. Logistics còn hỗ
trợ hoạt động của doanh nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lưu trữ nguyên vật
liệu đi vào doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp.
Marketing được logistics hỗ trợ thông qua quản lý việc di chuyển và lưu trữ hàng
thành phẩm. Logistics hỗ trợ sản xuất và marketing có thể sẽ dẫn đến yêu cầu phải
đào tạo nhân lực, dự trữ phụ tùng thay thế hay bất kỳ một yếu tố nào khác của
logistics.
* Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận,
vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics.
Cùng với quá trình phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng hóa khái
mình tổ chức thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân.
Theo hình thức này, chủ hàng phải đầu tư các phương tiện vận tải, kho chứa hàng,
hệ thống thông tin, nhân công để quản lý và vận hành hoạt động logistics. Logistics
bên thứ nhất làm phình to quy mô của doanh nghiệp và làm giảm hiệu quả kinh
doanh, vì doanh nghiệp không có đủ quy mô cần thiết, kinh nghiệm và kỹ năng
chuyên môn để vận hành hoạt động logistics. 10
Logistics bên thứ hai (Second Party Logistics): người cung cấp dịch vụ
logistics bên thứ hai là người cung cấp dịch vụ cho hoạt động đơn lẻ trong chuỗi các
hoạt động logistics (vận tải, kho bãi, thủ tục hải quan, thanh toán ) để đáp ứng nhu
cầu của chủ hàng, chưa tích hợp hoạt động logistics. Loại hình này bao gồm: các
hãng vận tải đường biển, đường bộ, đường sông, đường hàng không, các doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ kho bãi, kê khai hải quan, trung gian thanh toán
Logistics bên thứ ba (Third Party Logistics): là người thay mặt cho chủ hàng
quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận chức năng, ví dụ như
thay mặt cho người gửi hàng thực hiện các thủ tục xuất nhập và vận chuyển nội địa
hoặc thay mặt cho người nhập khẩu làm thủ tục thông quan và vận chuyển tới địa
điểm quy định Do đó logistics bên thứ ba bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết
hợp chặt chẽ việc luân chuyển, lưu trữ hàng hóa, xử lý thông tin và có tích hợp
vào dây chuyền cung ứng của khách hàng.
Logistics bên thứ tƣ (Forth Party Logistics): là người tích hợp, gắn kết các
nguồn lực tiềm năng và cơ sở vật chất, khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức
khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics. Logistics bên
thứ tư chịu trách nhiệm quản lý dòng lưu chuyển logistics, cung cấp các giải pháp
dây chuyền cung ứng, hoạch định, tư vấn logistics, quản trị vận tải Logistics bên
thứ tư hướng đến quản trị cả quá trình logistics, như nhận hàng từ nơi sản xuất, làm
thủ tục xuất nhập khẩu, đưa hàng đến nơi tiêu thụ cuối cùng.
Logistics bên thứ năm (Fifth Party Logistics): đã được nhắc đến trong
đất nước
Quân
đội
Nhiệm vụ
quốc gia
Lợi ích
quốc gia
HTLG trong
SXKD
Hiệ
u quả
SXKD
Nhà
kinh
doanh,
chủ hãng
Sản xuất,
kinh doanh
Lợi nhuận
Kinh doanh = Tối thiểu chi phí vận chuyển hàng +
tối đa giá trị phụ thêm
HTLG
xã hội
Tối
ưu xã hội
Chín
h phủ,
công
dân
Hoạt động
từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ trên thị trường. Việc vận tải giao nhận phải đảm bảo
thời gian giao hàng, phải đảm bảo cung ứng nguyên vật liệu cho sản xuất kịp thời,
đúng lúc. Từ đó giảm đến mức thấp nhất chi phí, thiệt hại do lưu kho, tồn đọng sản
phẩm để làm giảm chi phí logistics nói chung.
Vận tải và giao nhận là yếu tố rất cần và không thể thiếu được trong logistics,
yêu cầu này xuất phát từ xu hướng chuyên môn hóa trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của xã hội. Khi một doanh nghiệp thu hẹp phạm vi hoạt động của mình vào
một hay một nhóm sản phẩm có liên quan thì doanh nghiệp đó ngày càng phụ thuộc
vào môi trường bên ngoài. Mỗi thành viên của hệ thống công nghiệp, từ doanh
nghiệp nhỏ nhất tới những tập đoàn hùng mạnh nhất, đều phải dựa vào các doanh
nghiệp khác cung cấp nguyên vật liệu cần thiết cho hoạt động của mình. Vận tải là
người cung cấp các phương tiện, dịch vụ nhằm di chuyển nguồn nguyên liệu đó từ
nơi cung cấp tới nơi doanh nghiệp cần. Tại đó, nguyên liệu được sản xuất, chế biến
thành sản phẩm và vận tải giao nhận lại một lần nữa làm công việc cung cấp hệ
thống vật chất cho sản phẩm. Như vậy, vận tải giao nhận đảm nhận việc di chuyển
nguyên liệu vào trong doanh nghiệp sau đó phân phối sản phẩm từ doanh nghiệp ra
thị trường và tạo thành một vòng tuần hoàn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. 13
Vị trí vai trò quan trọng của vận tải giao nhận với tư cách là một yếu tố của
logistics được biết đến vào những năm 70 của thế kỷ XX, khi thế giới lâm vào cuộc
khủng hoảng nhiên liệu trầm trọng. Cuộc khủng hoảng này đã khiến các doanh
nghiệp phải mua nhiên liệu với giá cao hơn rất nhiều, điều này làm cho chi phí sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp tăng lên đáng kể. Giá nhiên liệu tăng cũng đe dọa
nghiêm trọng tới hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh vận tải giao nhận vì
giá nhiên liệu tăng sẽ dẫn tới phí vận tải tăng điều này hiển nhiên sẽ tác động mạnh
tới giá cả hàng hóa trên thị trường.
Trong sản xuất kinh doanh, một doanh nghiệp khó có thể tự mình thỏa mãn
sản xuất kinh doanh. Trước những năm 50 thế kỷ XX, người ta áp dụng triết lý
hướng về sản xuất, tức là tập trung chủ yếu vào khả năng sản xuất và bán sản phẩm
của doanh nghiệp, khách hàng thời gian này chỉ được coi là nơi chứa hàng. Song tới
giai đoạn thị trường có nhiều hàng hóa và cạnh tranh gay gắt giữa những loại hàng
hóa có thể thay thế cho nhau đã làm thay đổi tư duy về marketing. Việc chuyển
sang tư duy về marketing là một triết lý mới trong kinh doanh, nó đòi hỏi doanh
nghiệp phải điều tra thị trường, nhu cầu thị trường cần gì? bao nhiêu? để có kế
hoạch sản xuất và cung cấp sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. "Bán cho khách
hàng cái mà họ cần" đã trở thành phương châm kinh doanh mới.
Phương thức kinh doanh tới thị trường đã tạo nên những thử thách mới đối với
các nhà quản lý. Phương thức này đòi hỏi các nhà quản lý phải biết đâu là thị trường
của doanh nghiệp; tạo ra tư duy về dịch vụ khách hàng hiệu quả; giúp cho việc đưa
đúng sản phẩm về nơi cần vào thời điểm thích hợp với giá cả phải chăng; thiết lập
nhu cầu phải có kênh phân phối để tối đa lượng hàng bán ra với mức giá hợp lý
cũng như sự hỗ trợ đối với sản phẩm sau khi chuyển giao quyền sở hữu. Từ đây ta
có thể thấy vai trò của marketing trong chuỗi dây chuyền logistics. Doanh nghiệp
hướng vào thị trường sẽ sử dụng các nghiên cứu về thị trường để đảm bảo sản
phẩm nào có tiềm năng được khách hàng ưa thích. Logistics là một chức năng cơ
bản trong doanh nghiệp, có vai trò quan trọng trong quá trình khách hàng tiếp
cận, chấp nhận và tin tưởng sản phẩm của doanh nghiệp. Logistics lúc đầu được
coi là 4 chữ P của marketing mix - để đảm bảo rằng hàng hóa đến đúng địa điểm
kịp thời và trong điều kiện tốt. Nhưng thực tế hiện nay logistics còn có liên hệ
mật thiết với 3 P còn lại.
3. Yếu tố phân phối 15
Phân phối là một yếu tố cơ bản không thể thiếu được trong chuỗi dây chuyền
logistics. "Phân phối" là một khái niệm phản ánh sự di chuyển hàng hóa của một
doanh nghiệp. Nó bao gồm sự di chuyển của hàng hóa giữa các phương tiện khác
hiện qua hoạt động của những nhà quản trị logistics. Nhà quản trị logistics có vai trò
và trách nhiệm rất lớn. Họ là những người vừa có chuyên môn sâu, đồng thời phải
có sự hiểu biết rộng. Ở khía cạnh thứ nhất, nhà quản trị logistics phải hiểu biết về
các loại hình vận tải, cước phí vận tải, tình hình cung ứng nguyên vật liệu phục vụ
sản xuất, quá trình, tiến độ sản xuất sản phẩm đưa vào lưu thông, phân phối, các
kênh phân phối và thị trường Ở khía cạnh thứ hai, nhà quản trị logistics phải hiểu
biết về mối quan hệ giữa tất cả các chức năng của logistics, đồng thời phải liên kết,
phối hợp hài hòa hoạt động của logistics với các hoạt động khác trong doanh nghiệp
cũng như với các doanh nghiệp khác và khách hàng.
Điều quan trọng hơn là nhà quản trị logistics phải biết nghĩ tới toàn bộ hệ
thống kinh doanh của doanh nghiệp từ khi nhận nguyên liệu từ nhà cung cấp cho tới
khi sản phẩm được giao cho khách hàng kể cả những dịch vụ sau bán hàng. Tư duy
đó phải bao gồm cả đối thủ cạnh tranh, thị trường tiềm năng nói tóm lại nhà quản
trị logistics phải có tư duy lớn.
Cho dù ở cấp độ quản trị nào thì một nhà quản trị logistics cũng phải quan tâm
tới lợi nhuận. Logistics có thể làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp bằng cách điều
hành hoạt động doanh nghiệp có hiệu quả và như vậy sẽ giảm được chi phí. Thêm
vào đó, bằng các dịch vụ cung cấp cho khách hàng, logistics còn có thể làm tăng
doanh thu, điều này đồng nghĩa với việc tăng lợi nhuận. Trên thực tế, lợi nhuận có
nguồn gốc từ logistics thực sự là một khoản rất lớn, đã khẳng định vai trò của yếu tố
quản trị trong hệ thống logistics. Mỗi một quyết định của nhà quản trị logistics ảnh
hưởng trực tiếp tới mọi hoạt động của doanh nghiệp, từ vấn đề chi phí đến lợi nhuận,
từ nhà cung cấp đến khách hàng. Quản trị logistics là tâm điểm của mọi hoạt động
logistics, mục tiêu của quản trị logistics là thiết lập nên các nguồn lực logistics trọn
gói một cách hài hòa và thống nhất.
5. Các yếu tố khác
Ngoài 4 yếu tố cơ bản như trên, hệ thống logistics còn có các yếu tố khác
không kém phần quan trọng sau đây :
- Yếu tố kho bãi nhà xƣởng
Đào tạo nhân lực được coi là yếu tố đòi hỏi chi phí lớn nhất trong logistics.
Doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm phức tạp, hàm lượng chất xám cao đòi hỏi