Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
ĐẶT VẤN ĐỀ
Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) tuy không phải là bệnh lây nhiễm; phổ biến nhất hiện
nay nhưng nguy hiểm nên được mệnh danh là“kẻ giết người thầm lặng”, khi mắc bệnh
phải điều trị suốt đời, dễ đưa đến tử vong, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe, gánh nặng
chi phí y tế, thời giờ, tiền bạc của người bệnh. Những năm gần đây, bệnh gia tăng nhanh
chóng, là nguyên nhân gây tử vong trong các bệnh mạn tính của các nước đang phát
triển trong đó có Việt Nam và được dự báo là “đại dịch toàn cầu thế kỷ 21”.
Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Liên đoàn ĐTĐ thế giới (IDF), Việt Nam
là một trong những nước có tỷ lệ gia tăng bệnh ĐTĐ nhanh nhất thế giới (khoảng 8
-10% / năm). Phát triển nhanh chóng về kinh tế - xã hội và thu nhập tại Việt Nam đã tác
động đến những thay đổi về lối sống theo chiều hướng không có lợi cho sức khỏe. Chủ
yếu là dinh dưỡng không hợp lý, ít hoạt động thể lực, lối sống tĩnh tại khiến cho tốc độ
mắc bệnh ĐTĐ ở nước ta gia tăng nhanh chóng. Riêng tại TP.Hồ Chí Minh, tình hình
bệnh ĐTĐ, thừa cân béo phì đang ở mức báo động và là tiền đề cho việc gia tăng nguy
cơ các bệnh mãn tính không lây khác như tim mạch, ung thư
Vì thế, bệnh ĐTĐ cần được cộng đồng dân cư quan tâm, mọi người cần hiểu biết,
chăm sóc bản thân, hợp tác điều trị hợp lý, cần được các ngành, các cấp triển khai, tuyên
truyền sâu rộng đến cộng đồng dân cư biết, phòng tránh trước khi để bệnh xảy ra là việc
làm vô cùng có ý nghĩa.
* Một số biến chứng thường gặp trong bệnh ĐTĐ như:
- Hư hại mạch máu và dây thần kinh
- Đục thủy tinh thể có thể gây ra mù mắt
- Suy thận mạn
- Viêm tắc tĩnh mạch đưa đến cắt cụt chi
- Nhồi máu cơ tim do tắc động mạch vành
- Tai biến mạch máu não
* Dấu hiệu nhận biết bệnh tiểu đường:
1
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
Triệu chứng của ĐTĐ type 1 thường xuất hiện đột ngột.
phải đưa vào cơ thể thêm nhiều nước để làm loãng nồng độ đường trong máu đang cao
trở về mức bình thường và để bù vào lượng nước bị mất do tiểu nhiều.
Tiểu nhiều: một cách khác giúp cơ thể thoát khỏi tình trạng dư thừa đường là thải
đường ra ngoài qua nước tiểu. Hiện tượng này sẽ làm cơ thể bị thiếu nước do khi thải
đường ra ngoài cơ thể sẽ mang theo một lượng lớn nước cũng đi ra theo chung với nó.
Ăn nhiều: nếu cơ thể vẫn còn đủ khả năng, nó sẽ tiết ra nhiều insulin hơn để đối phó với
tình trạng nồng độ đường cao trong máu. Hơn nữa, cơ thể trở nên đề kháng với hoạt
động của insulin trong ĐTĐ type 2. Một trong những chức năng của insulin là kích thích
cảm giác đói. Do đó, nồng độ insulin cao trong cơ thể sẽ dẫn đến tăng cảm giác đói và
muốn ăn. Bất chấp sự gia tăng lượng calori nhập vào cơ thể, người bệnh có thể chỉ tăng
cân rất ít hay thậm chí là giảm cân.
Chậm lành vết thương: nồng độ đường cao trong máu ngăn chặn bạch cầu hoạt động
bình thường (bạch cầu là những tế bào đóng vai trò quan trọng trong chức năng tự bảo
vệ của cơ thể chống lại vi trùng và nó cũng dọn dẹp những mô và tế bào chết). Khi bạch
cầu hoạt động không bình thường, các vết thương trở nên lâu lành hơn và bị nhiễm trùng
thường xuyên hơn. Ngoài ra, ĐTĐ kéo dài còn dễn đến dày thành của các mạch máu gây
cản trở các tế bào máu có chứa oxy và chất dinh dưỡng đến nuôi các mô của cơ thể.
Nhiễm trùng: một số hội chứng nhiễm trùng, như nhiễm nấm sinh dục, nhiễm trùng da,
nhiễm trùng đường niệu do hệ thống miễn dịch đã bị ức chế bởi bệnh ĐTĐ và bởi sự
hiện diện của glucose trong mô (giúp vi khuẩn phát triển tốt). Nó cũng là dấu hiệu chỉ
điểm cho biết có sự kiểm soát đường huyết kém ở những bệnh nhân ĐTĐ.
Thay đổi về trạng thái tâm thần: những biểu hiện như lo âu, cáu gắt vô cớ, mất tập
trung, ngủ mê, hoặc lẫn lộn cũng đều có thể là dấu hiệu của tình trạng đường huyết rất
3
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
cao, nhiễm ceton acid, hội chứng tăng áp lực thẩm thấu, hoặc hạ đường huyết. Do đó,
khi thấy bất kỳ một biểu hiện nào kể trên ở những bệnh nhân ĐTĐ, cần phải gọi điện
thoại cấp cứu để có được sự can thiệp của bác sĩ.
Nhìn mờ: triệu chứng này không đặc hiệu cho ĐTĐ nhưng cũng thường hay xuất hiện
khi mức đường huyết lên cao.
Trái cây tươi ít đường như táo, bưởi, cam, quýt
Thực phẩm giàu chất xơ như ngũ cốc , rau xanh, các loại họ đậu
Thịt bò nạc
Cá biển
+ Chế độ dùng thuốc:
Tuân thủ chỉ định bác sĩ chuyên khoa
* Mục tiêu của nghiên cứu:
1. Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK huyện Chơn
Thành năm 2013.
2. Phổ biến kiến thức ĐTĐ đến cộng đồng dân cư trên địa bàn Huyện biết để chủ
động phòng tránh, khi mắc bệnh biết cách theo dõi, điều trị phù hợp hạn chế biến chứng
nguy hiểm của bệnh ĐTĐ gây ra.
3. Đưa ra hướng tăng cường chất lượng việc chăm sóc chữa trị bệnh ĐTĐ tại
Bệnh viện nhằm đem lại lợi ích cho người dân.
5
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
I. TỔNG QUAN
1. 1. Định nghĩa
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), “ĐTĐ là một hội chứng có đặc tính biểu
hiện bằng sự tăng đường máu do hậu quả của việc mất hoàn toàn insulin hoặc là do có
liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc hoạt động của insulin".
Tháng 1/2003, các chuyên gia thuộc Uỷ ban chẩn đoán và phân loại bệnh ĐTĐ
Hoa Kỳ, lại đưa ra một định nghĩa mới về ĐTĐ: “ĐTĐ là một nhóm các bệnh chuyển
hoá có đặc điểm là tăng glucose máu, hậu quả của sự thiếu hụt bài tiết insulin; khiếm
khuyết trong hoạt động của insulin hoặc cả hai. Tăng glucose máu mạn tính thường kết
hợp với sự hủy hoại, sự rối loạn chức năng của nhiều cơ quan đặc biệt là mắt, thận, thần
kinh, tim và mạch máu” .
1. 2. Chẩn đoán ĐTĐ
Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định:
Theo ADA năm 1997 và được Tổ chức Y tế Thế giới công nhận năm 1998, tuyên bố
* Biến chứng tim - mạch
Bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ là biến chứng thường gặp và nguy hiểm.
Nhiều nghiên cứu cho thấy nồng độ glucose máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh mạch
vành và các biến chứng tim mạch khác.
Người ĐTĐ có bệnh tim mạch là 45%, nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 2 – 4 lần
so với người bình thường.
Nguyên nhân tử vong do bệnh tim mạch chung chiếm khoảng 75% tử vong ở
người bệnh ĐTĐ, trong đó thiếu máu cơ tim và nhồi máu cơ tim là nguyên nhân gây tử
vong lớn nhất.
* Biến chứng thận
Biến chứng thận do ĐTĐ là một trong những biến chứng thường gặp, tỷ lệ biến
chứng tăng theo thời gian. Bệnh thận do ĐTĐ khởi phát bằng protein niệu; sau đó khi
chức năng thận giảm xuống, ure và creatinin sẽ tích tụ trong máu.
Bệnh thận do ĐTĐ là nguyên nhân thường gặp nhất gây suy thận giai đoạn cuối.
7
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
Với ĐTĐ type 1, 10 năm sau khi biểu hiện bệnh thận rõ ràng, khoảng 50% tiến
triển đến suy thận giai đoạn cuối và sau 20 năm sẽ có khoảng 75% số bệnh nhân trên cần
chạy thận lọc máu chu kỳ. Khả năng diễn biến đến suy thận giai đoạn cuối của bệnh
nhân ĐTĐ type 2 ít hơn so với bệnh nhân ĐTĐ type 1, song số lượng bệnh nhân ĐTĐ
type 2 chiếm tỷ lệ rất lớn nên thực sự số bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối chủ yếu là
bệnh nhân ĐTĐ type 2.
+ Biến chứng mắt
Biến chứng mắt do ĐTĐ là nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa ở người bệnh ĐTĐ.
Nhiều số liệu thống kê cho thấy: có đến 20% người bệnh ĐTĐ type 2 bị biến chứng này
ngay tại thời điểm phát hiện bệnh.
Bệnh lý võng mạc ĐTĐ biểu hiện nhẹ bằng tăng tính thấm mao mạch, ở giai đoạn
muộn hơn bệnh tiến triển đến tắc mạch máu, tăng sinh mạch máu với thành mạch yếu dễ
xuất huyết. Sau khoảng 5 – 10 năm mắc bệnh, tới 90% ở người tiểu đường type 1 và
60% người tiểu đường type 2 bị biến chứng võng mạc mắt, trong đó 50% dẫn đến mù
ta xem đã có rối loạn lipid máu ngay từ khi tỷ lệ các thành phần của lipid trong máu có
sự thay đổi.
Người ĐTĐ type 2 thường có tăng triglycerid máu và giảm HDL - C (loại
lipoprotein được xem là có chức năng bảo vệ thành mạch), đôi khi không phụ thuộc vào
mức độ kiểm soát đường máu. Người bệnh mới mắc ĐTĐ type 2 thường có mức HDL -
C thấp ở nam từ 20 - 50%, nữ 10 - 25%. Chuyển hoá LDL - C cũng bị rối loạn ở người
ĐTĐ type 2, chỉ cần LDL - C tăng nhẹ cũng đã là yếu tố nguy cơ làm bệnh mạch vành
tăng rõ rệt.
1.5. Một số yếu tố liên quan đến bệnh ĐTĐ
1.5.1. Tuổi tác
Qua nhiều nghiên cứu thấy tuổi có sự liên quan đến sự xuất hiện bệnh ĐTĐ type
2. Tuổi càng tăng, tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ càng cao. Ở châu Á, ĐTĐ type 2 có tỷ lệ cao ở
những người trên 30 tuổi; từ 65 tuổi trở lên, tỷ lệ bệnh ĐTĐ lên tới 16%. Người trên 45
tuổi có vòng eo to và trong gia đình từng có người bị ĐTĐ thì nguy cơ mắc bệnh này
9
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
cao hơn 2 – 5 lần so với người bình thường.
1.5.2. Giới tính
Tỷ lệ mắc ĐTĐ ở hai giới nam và nữ thay đổi tuỳ thuộc vào các vùng dân cư khác
nhau. Ảnh hưởng của giới tính đối với bệnh ĐTĐ không theo quy luật, nó tuỳ thuộc vào
chủng tộc, độ tuổi, điều kiện sống, mức độ béo phì.
Một kết luận của tiến sĩ An Pan – chuyên gia dinh dưỡng của Trường Đại học
Harvard (Mỹ) về y tế công cộng tại Boston. Nghiên cứu này còn cho thấy tỷ lệ phụ nữ
mắc bệnh tiểu đường do làm ca đêm tăng lên hàng năm và những chỉ số này được đánh
giá thông qua các chỉ số trung gian BMI (chỉ số về trọng lượng cơ thể), con số này chỉ
đứng sau căn bệnh béo phì. Thêm 6% phụ nữ thường xuyên làm việc ca đêm từ 3 - 9
năm sẽ phải đối mặt với căn bệnh này, tăng thêm 9% đối với người làm ca đêm từ 10 -
19 năm và con số này sẽ tăng thêm 20% cho phụ nữ làm ca đêm từ 20 năm trở lên.
Theo cuộc điều tra năm 2012 của Bệnh viện Nội tiết TW tại 06 vùng sinh thái
trong cả nước tỷ lệ nữ giới mắc ĐTĐ nhiều hơn nam giới gần 5%.
Thuốc lá và bia rượu là những chất gây hại cho cơ thể, làm nặng thêm các rối loạn
chuyển hoá. Những người hút thuốc có xu hướng hình thành những thói quen không có
lợi khác, chẳng hạn như không tập thể dục thể thao hoặc ăn những thực phẩm không có
lợi cho sức khỏe.
Rượu có tác động rất xấu đến sức khỏe con người, gây ảnh hưởng đến toàn bộ các
cơ quan trong cơ thể. Những người bệnh ĐTĐ nếu uống nhiều rượu thì hậu quả thường
nặng hơn so với người bình thường.
1.6. Tình hình bệnh ĐTĐ trên thế giới và Việt Nam
1.6.1. Tình hình bệnh ĐTĐ trên thế giới
Trên phạm vi toàn cầu, theo ước tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) số người
bị ĐTĐ tăng từ 30 triệu người (năm 1985) lên 98.9 triệu người (năm 1994) và 243 triệu
người (năm 2010), đến nay có hơn 346 triệu người mắc ĐTĐ, dự báo tới năm 2030 con
số này có khả năng tăng gấp đôi nếu không có biện pháp can thiệp hữu hiệu, báo động
vấn đề nghiêm trọng này trên toàn thế giới.
11
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
Theo Viện nghiên cứu ĐTĐ quốc tế (năm 2010) có khoảng 215,6 triệu người bị
ĐTĐ nhập viện liên quan tới bệnh ĐTĐ.
Theo một thông báo của Hiệp hội ĐTĐ quốc tế, năm 2006 ước tính khoảng 246
triệu người mắc bệnh, trong đó bệnh ĐTĐ type 2 chiếm khoảng 85 - 95 % tổng số bệnh
nhân ĐTĐ ở các nước phát triển và thậm chí còn cao hơn ở các nước đang phát triển.
Tỷ lệ bệnh đái tháo đường thay đổi theo từng nước có nền công nghiệp phát triển
hay đang phát triển và thay đổi theo từng vùng địa lý khác nhau. Trong đó, nơi có tỷ lệ
ĐTĐ cao nhất là khu vực Bắc Mỹ (7.8%), khu vực Địa Trung Hải và khu vực Trung
Đông (7.7%), châu Âu (4.9%) và châu Phi (1.2%).
Tỷ lệ ĐTĐ ở châu Á cũng gia tăng mạnh mẽ, đặc biệt ở khu vực Đông Nam Á
(5.3%). Nguyên nhân của sự gia tăng bệnh nhanh chóng do mức độ đô thị hóa nhanh, sự
di dân từ khu vực nông thôn ra thành thị nhiều, sự thay đổi nhanh chóng về lối sống
công nghiệp, giảm hoạt động chân tay, sự tăng trưởng kinh tế nhanh và chế độ ăn không
cân đối, nhiều mỡ.
76% số người được hỏi có kiến thức rất thấp về chẩn đoán và biến chứng của bệnh, chỉ
có 0,5% có kiến thức tốt.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Những bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ được khám và điều trị nội trú, ngoại trú tại BVĐK
2.2. Thời gian – Địa điểm nghiên cứu
2.2.1. Thời gian: Từ tháng 10/2012 đến tháng 10/2013
2.2.2. Địa điểm: Khoa Khám bệnh, Khoa Nội tại BVĐK Chơn Thành
2.3. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Phương pháp nghiên cứu:Nghiên cứu mô tả - Thiết kế nghiên cứu hồi cứu
2.3.2. Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích.
2.3.3. Tiêu chuẩn chọn đối tượng nghiên cứu
13
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
Bệnh nhân được chẩn đoán xác định ĐTĐ khi có 1 trong 3 tiêu chuẩn :
- Tiêu chuẩn 1: Glucose máu bất kỳ ≥ 11,1 mmol/l.
- Tiêu chuẩn 2: Glucose máu lúc đói ≥ 7,0 mmol/l, xét nghiệm lúc bệnh nhân đã
nhịn đói sau 6 - 8 giờ không ăn.
- Tiêu chuẩn 3: Glucose máu ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp tăng
glucose máu ≥ 11,1 mmol/l.
2.3.4. Chỉ tiêu nghiên cứu
- Thông tin chung:
+ Tuổi
+ Giới tính
+ Nghề nghiệp
+ Địa chỉ
- Chỉ tiêu lâm sàng:
+ Huyết áp.
+ Triệu chứng lâm sàng chính của bệnh: Ăn nhiều, uống nhiều, tiểu nhiều,
gầy sút cân.
động mạch cánh tay ở tư thế nằm. Trước khi đo bệnh nhân đượcnghỉ 15 phút, không
dùng thuốc ảnh hưởng HA.
+ Phân loại tăng HA theo JNC VI (Ủy ban phòng chống THA Hoa Kỳ)
Bảng B. Bảng phân loại tăng HA
Mức độ HA tâm thu (mmHg) HA tâm trương (mmHg)
Bình thường < 130 < 85
Tiền tăng HA 130 - 139 85 - 89
Tăng HA:
Giai đoạn 1 ( Độ I )
Giai đoạn 2 ( Độ II )
Giai đoạn 3 ( Độ III )
140 - 159
160 - 179
≥ 180
90 - 99
100 - 109
≥ 110
* Khám cận lâm sàng
- Các xét nghiệm sinh hoá máu được tiến hành tại Bệnh viện
15
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
+ Xét nghiệm glucose máu lúc đói
- Cách lấy máu và nước tiểu làm xét nghiệm:
+ Bệnh nhân được lấy máu tĩnh mạch vào buổi sáng lúc đói
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU - BÀN LUẬN
3.1. Kết quả nghiên cứu
Bảng 3a. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi, giới
Nhóm tuổi
Nam Nữ Tổng cộng
Số mắc n Tỷ lệ % Số mắc n Tỷ lệ % Số mắc n Tỷ lệ %
Hưu trí 57 11.40
17
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
Khác 22 4.40
Nhận xét: Làm nông mắc ĐTĐ cao nhất, chiếm 76.40%; cán bộ hưu trí là 11.40%;
CBCCVC 7.80%.
Bảng 3d. Một số triệu chứng lâm sàng ở đối tượng nghiên cứu (khai thác từ 100 HSBA
nội trú)
Triệu chứng Số trường hợp Tỷ lệ (%)
Uống nước nhiều 72 72,00
Đi tiểu nhiều 67 67,00
Gầy sút cân 52 52,00
Mệt mỏi 34 34,00
Tê tay, chân 6 5,67
Ăn nhiều 41 41,00
Mắt nhìn mờ 8 8,00
Tình cờ phát hiện 7 7,00
Nhận xét: Các triệu chứng cổ điển gặp với tỷ lệ tương đối cao: Uống nước nhiều
72,00%; đi tiểu nhiều 67,00%; gầy sút cân 52,00%; ăn nhiều 41,00%.
18
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
Bảng 3e. Tỷ lệ tăng huyết áp ở đối tượng nghiên cứu
Phân loại HA Số trường hợp (người) Tỷ lệ (%)
Bình thường 245 49,00
Tiền tăng HA 115 23,00
Tăng HA:
Giai đoạn 1 ( Độ I )
Giai đoạn 2 ( Độ II )
Giai đoạn 3 ( Độ III )
140
- Thể trạng thừa cân và béo phì cao nhất, chiếm 44%
- Thể trạng gầy chiếm 19,40%.
3.2. Bàn luận
ĐTĐ đang là đại dịch của các bệnh không lây nhiễm và được coi là “kẻ giết người
thầm lặng”. Ngày nay, tỷ lệ tử vong do những biến chứng cấp tính và mạn tính ở người
bệnh đái tháo đường đã giảm đáng kể, chất lượng cuộc sống của người bệnh đã phần nào
được nâng cao. Đó là nhờ có những tiến bộ trong chẩn đoán, phát hiện sớm, đặc biệt là
áp dụng các biện pháp chăm sóc, điều trị tích cực. Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh vẫn ngày càng
tăng, không chỉ ở khu vực thành phố mà còn phát triển nhanh ở khu vực nông thôn.
Chơn Thành là một huyện nằm ở phía Tây của tỉnh Bình Phước, địa bàn dân cư
bao gồm 08 xã và 01 thị trấn. Cùng với sự tăng trưởng về kinh tế, xã hội, bệnh ĐTĐ
đang tăng lên nhanh chóng. Chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu hồi cứu 400 bệnh nhân
đái tháo đường điều trị ngoại trú và 100 HSBA của bệnh nhân tiểu đường điều trị nội trú
tại BVĐK Chơn Thành. Từ kết quả thu được, chúng tôi xin đưa ra một số nhận xét sau:
3.2.1. Đặc điểm bệnh nhân ĐTĐ
a) Đặc điểm lâm sàng
- Về tuổi và giới tính
Trong nghiên cứu của chúng tôi, theo (Bảng 3.a) tuổi trung bình của bệnh nhân là
57.2. Bệnh nhân ít tuổi nhất là nam 27 tuổi, cao tuổi nhất là nam 91 tuổi. Tỷ lệ nam là
44.60%, tỷ lệ nữ tương đương là 55.40%. Số đối tượng nghiên cứu ≥ 60 tuổi chiếm
40.80%, nhóm tuổi (40 – 60) có tỷ lệ cao nhất 51.60%.
Tuổi có liên quan với sự phát triển bệnh ĐTĐ. Hầu hết các nghiên cứu đều thấy
độ tuổi càng cao thì tỷ lệ mắc ĐTĐ càng tăng và tỷ lệ gia tăng nhiều nhất là nhóm tuổi
từ 50 trở lên.
21
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
Cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội, tuổi thọ của con người ngày càng cao và
bệnh tật thường gia tăng với tuổi già, nhất là ĐTĐ. Khi cơ thể già chức năng tụy bị suy
giảm; đồng thời những thay đổi về chuyển hoá glucose cũng tiến triển song hành với
tuổi. Quá trình lão hoá là nguyên nhân quan trọng nhất của sự đề kháng insulin, cơ chế
triệu chứng lần lượt là uống nước nhiều 72%; đi tiểu nhiều 67%; gầy sút cân 52%; ăn
nhiều 41%; dấu hiệu gặp chủ yếu là uống nước nhiều, đi tiểu nhiều, gầy sút cân, trong
đó dấu hiệu uống nước nhiều chiếm tỷ lệ rất cao.
Ngoài các triệu chứng chính của bệnh, 79 % bệnh nhân có triệu chứng kèm theo.
Trong đó, triệu chứng mệt mỏi thường gặp nhất (chiếm 41 %). Các triệu chứng khác có
thể gặp là đau ngực, mắt nhìn mờ, tê tay chân, rối loạn giấc ngủ
Trong bệnh ĐTĐ, tiến triển bệnh thường âm thầm, khi có biểu hiện trên lâm sàng
bệnh thường đã ở giai đoạn muộn. Như vậy, không thể chỉ dựa vào các triệu chứng lâm
sàng để chẩn đoán phát hiện bệnh. Đối với bệnh ĐTĐ, xét nghiệm glucose máu cần
được xem là một xét nghiệm cơ bản.
* Một số biến chứng: ĐTĐ là yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch. Người ta
cho rằng đây là một quá trình xảy ra lâu dài và liên tục với hai yếu tố xơ vữa mạch và
tăng HA. Chúng vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của nhau, thúc đẩy nhau tiến triển.
Tăng HA ở người mắc bệnh ĐTĐ do rất nhiều yếu tố phối hợp với nhau. Người
bệnh ĐTĐ khi có tăng HA đều làm tiên lượng bệnh xấu đi rõ rệt.
Bệnh nhân ĐTĐ có tăng HA đều được phát thuốc ngoại trú điều trị tăng HA. Có
thể vì điều này mà đối tượng nghiên cứu của chúng tôi chủ yếu là tăng HA độ I (18%,
Theo Bảng 3.e).
Theo Liên Uỷ ban quốc gia lần thứ 7 (JNC VII) đã đưa ra khuyến cáo, đối với
những bệnh nhân ĐTĐ có tăng HA trong điều trị phải đạt mục tiêu HA dưới 130/80
mmHg. Có 28% bệnh nhân của chúng tôi có HA được phân loại là cao HA. Theo
khuyến cáo của JNC VII, đây đã là mức huyết áp nguy hiểm. Nếu tăng HA được can
thiệp, có thể ngăn ngừa hoặc làm chậm sự tiến triển và biến chứng cho cả bệnh mạch
máu.
23
Khảo sát tình hình bệnh nhân ĐTĐ đến khám và điều trị tại BVĐK năm 2013
Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng trong điều trị bệnh ĐTĐ , ngoài việc kiểm
soát glucose máu cũng cần phải lưu ý nhiều hơn tầm quan trọng của việc kiểm soát HA
ở người ĐTĐ để quản lý tốt HA của bệnh nhân và phải có thái độ điều trị đúng đắn ngay
ở mức tiền cao HA.
nhất với chỉ số glucose máu trung bình là 9.2 mmol/l
- Thể trạng thừa cân và béo phì cao nhất chiếm 44.60 %
- Một số yếu tố liên quan đến bệnh ĐTĐ:
+ ĐTĐ là căn bệnh thường gặp, ngày càng tăng nhanh trong cộng đồng dân cư, có
liên quan đến lối sống hiện đại ngày nay như thừa cân, béo phì, ít vận động do cơ thể đề
kháng với insulin.
+ Thường gặp ĐTĐ type 2 chiếm 85-95%. Bệnh có thể xảy ra với mọi lứa tuổi
nhưng đa số từ 50-60 tuổi, hiện nay đang tăng nhanh ở người trẻ tuổi.
+ ĐTĐ là một bệnh không lây, phải điều trị suốt đời và có nhiều biến chứng, gây
hậu quả nặng nề, thậm chí tử vong.
+ Ngày nay, đã có thể kiểm soát được bệnh ĐTĐ khi bệnh nhân kiểm soát tốt
đường huyết, duy trì mức đường huyết ổn định hàng ngày, chữa trị tốt HA cao thì bệnh
25