1
MỤC LỤC
Trang
-2-
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
“Bảo vệ môi trường là một vấn đề sống còn của đất nước, của nhân loại,
là nhiệm vụ có tính xã hội sâu sắc, gắn liền với cuộc đấu tranh xoá đói giảm
nghèo ở mỗi nước, với cuộc đấu tranh vì hoà bình và tiến bộ xã hội trên phạm
vi toàn thế giới”. Đó là lời mở đầu của chỉ thị số 36- CT/TW ngày 25/6/1998
của Bộ Chính trị trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII về tăng
cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.
Quán triệt tinh thần và nội dung của chỉ thị trên, các ngành, các cấp
trong cả nước đã và đang đẩy mạnh công tác bảo vệ môi trường, chống ô
nhiễm và suy thoái môi trường. Để giữ cho được sự phát triển cân bằng kinh
tế - xã hội và bảo vệ môi trường, hay nói một cách khác, phát triển kinh tế -
xã hội tạo tiềm lực để BVMT, còn BVMT tạo ra tiềm năng tự nhiên và xã
hội mới cho công cuộc phát triển kinh tế xã hội trong tương lai. Chính vì
vậy, việc BVMT nói chung và công tác quản lý môi trường nói riêng góp
phần vô cùng quan trọng và rất cần thiết trong thời kỳ hiện nay. Tuỳ thuộc
vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, hệ thống pháp lý, mục tiêu phát triển
mà lựa chọn phương pháp quản lý môi trường cho phù hợp với điều kiện của
từng quốc gia, từng địa phương. Nên cùng với cả nước, ban lãnh đạo tỉnh
Lai Châu trong những năm gần đây đã có những chủ trương chính sách, biện
pháp giải quyết các vấn đề về môi trường như: đấy mạnh công tác tuyên
truyền giáo dục về bảo vệ môi trường; ứng dụng khoa học công nghệ tiên
tiến trong sản xuất sạch hơn
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết bảo vệ môi trường và được sự phân công
của ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên và Môi trường, Trường Đại học Nông
- Luật số 52/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của nước cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ môi trường (Luật Bảo vệ môi trường).
- Luật tài nguyên nước 1998/QH, 20/05/1998. Nxb Chính trị Quốc gia.
- Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, ngày 09/8/2006 của Thủ tướng Chính
phủ “Hướng dẫn thi hành Luật BVMT 2005”.
- Nghị định số 81/2006/NĐ-CP, ngày 09/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ
“Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường”.
- Nghị định số 21/2008/NĐ-CP, ngày 28/02/2008 của Thủ tướng Chính
phủ “Về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP, ngày
09/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về quy định chi tiết và hướng dẫn thi
hành một số điều của Luật BVMT”.
- Nghị quyết số 41/NQTW của Bộ Chính trị “Về tăng cường công tác
BVMT trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”.
- Quyết định số 277/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ “Về việc
phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia nước sạch và vệ sinh môi trường
nông thôn giai đoạn 2006 - 2010”.
- Quyết định số 81/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt
chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020.
- Nghị định số 117/2007/NĐ-CP của Chính phủ “Về sản xuất, cung cấp
và tiêu thụ nước sạch”.
- Quyết định số 59/2006/QĐ-BTC của Bộ tài chính “Về việc quy định
mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định, lệ phí cấp phép
thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước và
hành nghề khoan”
- Quyết định số 159/2008/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
Đề án “Đổi mới và hiện đại hóa công nghệ trong ngành công nghiệp khai
khoáng đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2025".
-5-
- Quyết định số 256/2003/QĐ- TTg của thủ tướng chính phủ phê duyệt
“Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia năm 2010 và định hướng đến năm
không xét tới tài nguyên (Trương Thành Nam, 2006)[5]
2.2.2. Những vấn đề trong quản lý môi trường.
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có
tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ
thống và các kỹ năng điều phối thông tin.
Quản lý môi trường là một hoạt động trong lĩnh vực quản lý xã hội, có
tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự tiếp cận có hệ
thống và các kỹ năng điều phối thông tin, đối với các vấn đề môi trường có
liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới sự
phát triển bền vững và sử dụng hợp lý tài nguyên (Nguyễn Ngọc Nông và cs,
2006)[7].
Quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường là một nội dung cụ thể của
quản lý Nhà nước. Đó là việc sử dụng các công cụ quản lý trên cơ sở khoa
học, kinh tế, luật pháp để tổ chức các hoạt động nhằm bảo đảm giữ cân bằng
giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Tổng hợp biện pháp luật
pháp, chính sách, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi
trường sống và phát triển bền vững kinh tế xã hội của quốc gia (Khoa học môi
trường đại cương, Lê Văn Khoa, 2001)[3]
Mục tiêu trong công tác quản lý môi trường hiện nay:
- Khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh
trong các hoạt động sống của con người.
- Hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật bảo vệ môi trường, ban hành
các chính sách về phát triển kinh tế xã hội phải gắn với bảo vệ môi trường,
nghiêm chỉnh thi hành luật BVMT.
- Tăng cường công tác quản lý nhà nước về môi trường từ trung ương
đến điạ phương, công tác nghiên cứu đào tạo cán bộ về môi trường.
- Phát triển đất nước theo các nguyên tắc phát triển bền vững được hội
nghị Rio – 92 thông qua.
- Xây dựng các công cụ hữu hiệu về quản lý môi trường quốc gia, các
vùng lãnh thổ riêng biệt.
- Quan hệ giữa con người và tự nhiên phụ thuộc vào trình độ phát triển
của xã hội loài người. Tự nhiên và xã hội đều có một quá trình phát triển lịch
-8-
sử lâu dài và phức tạp. Con người và xã hội ngày càng phát triển thì những tác
động đến tự nhiên ngày càng gia tăng. Ngược lại, sự phát triển của con người
không tách rời khỏi tự nhiên và mối quan hệ của con người với xã hội loài
người (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2006)[7].
Cơ sở khoa học – kỹ thuật – công nghệ của quản lý môi trường
Quản lý môi trường là việc thực hiện tổng hợp các biện pháp khoa học,
kỹ thuật, kinh tế, luật pháp, xã hội nhằm bảo vệ môi trường sống và phát triển
bền vững kinh tế, xã hội.
Từ những năm 1960 đến nay, nhiều số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi
trường đã được tổng kết và biên soạn thành các giáo trình, chuyên khảo.
Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở, phương pháp luận nghiên cứu môi trường,
các nguyên lý và quy luật môi trường.
Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề ô nhiễm do hoạt
động sản xuất của con người đang được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh,
ngăn ngừa. Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng môi trường
như kỹ thuật viễn thám, tin học, được phát triển ở nhiều nước trên thế giới.
Quản lý môi trường là cầu nối giữa khoa học môi trường với hệ thống “
Tự nhiên - Con người - Xã hội” đã được phát triển trên nền phát triển của các
bộ môn chuyên ngành (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2006)[7].
Cơ sở kinh tế của quản lý môi trường
Quản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh của nền kinh tế thị
trường và thực hiện điều tiết xã hội thông qua các công cụ kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển và sản xuất của cải
vật chất đều diễn ra với sức ép của sự trao đổi hàng hóa theo giá trị. Loại hàng
hóa có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ được tiêu thụ nhanh hơn. Trong khi
loại hàng hóa kém chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng. Vì vậy chúng ta
có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh tế để đánh giá và định hướng
Các văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc tế được nhà nước ta
phê duyệt là cơ sở quan trọng để thực hiện công tác quản lý nhà nước về bảo
vệ môi trường (Nguyễn Ngọc Nông và cs, 2006)[6].
2.2.4. Các công cụ quản lý môi trường
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành động thực hiện công
tác quản lý môi trường của nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi
-10-
một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ
trợ lẫn nhau.
Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo chức năng gồm:
Công cụ điều chỉnh vi mô, công cụ hành động và công cụ hỗ trợ. Công cụ
điều chỉnh vi mô là luật pháp và chính sách. Công cụ hành động là các công
cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động kinh tế – xã hội, như các quy định hành
chính, quy định xử phạt v.v và công cụ kinh tế. Công cụ hành động là vũ
khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường trong công tác bảo vệ môi
trường. Thuộc về loại này có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá,
đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi trường. Công cụ
quản lý môi trường có thể phân loại theo bản chất thành các loại cơ bản sau:
• Công cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật
quốc gia, các văn bản khác dưới luật, các kế hoạch và chính sách môi
trường quốc gia, các ngành kinh tế, các địa phương.
• Các công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào thu nhập bằng tiền
của hoạt động sản xuất kinh doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng có
hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.
• Các công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm soát và giám sát
nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và
phân bố chất ô nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản lý
có thể gồm các đánh giá môi trường, minitoring môi trường, xử lý chất
thải, tái chế và tái sử dụng chất thải. Các công cụ kỹ thuật quản lý có
thể được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế phát triển như
(1,94%), Trung Quốc (1,49%), Đan Mạch 1,09%. Thấp nhất là Ghana
(0,02%). Trong khu vực châu Á, cao nhất là Trung Quốc (1,49%), Nhật
(0,44%), Hàn Quốc (0,39%). Chi cho môi trường của Việt Nam năm 2010 là
0,386%, cao hơn Lào (0,06%) và Thái Lan (0,2%) (Tổng cục môi trường-
Viện Khoa học quản lý môi trường )[12]
2.3.2. Tình hình quản lý môi trường ở Việt Nam
Tại Việt Nam, quan điểm về áp dụng chứng chỉ kỹ thuật trong quản lý
môi trường đó được đề cập trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25/6/1998 của
Bộ Chính trị về tăng cường công tác bảo vệ môi trường (BVMT) trong thời
-12-
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nghị quyết của Bộ Chính trị số
41-NQ/TW ngày 15/11/2004 và gần đây nhất là nghị quyết số
27/BCSĐBTNMT ngày 2/12/2009 của Ban cán sự Đảng Bộ TN&MT về việc
tăng cường chủ trương kinh tế hóa ngành TN&MT.
Thuế và phí môi trường
Thuật ngữ thuế và phí môi trường thường được sử dụng để chỉ khoản
thu với hai mục đích: Tạo động lực giảm phát thải ô nhiễm và tạo nguồn thu
cho ngân sách Nhà nước. Có hai loại thuế/phí môi trường chính: Thuế đánh
vào đơn vị ô nhiễm xả thải ra môi trường (thuế Pigovian), và thuế nguyên
liệu/sản phẩm (hay còn gọi là thuế gián tiếp).
Hiện tại ở Việt Nam, loại thuế/phí đánh vào đơn vị ô nhiễm xả thải ra
môi trường đang được áp dụng dưới hình thức phí BVMT đối với nước thải,
đối với chất thải rắn và khai thác khoáng sản.
Phí BVMT đối với nước thải được quy định tại Nghị định 67/2003/NĐ-
CP ngày 13/6/2003. Tuy nhiên, sau hơn 6 năm thực hiện, phí BVMT đối với
nước thải vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập. Các cơ quan quản lý còn lúng túng
trong cách thu và tính phí. Các doanh nghiệp cũng tìm cách trốn tránh và nợ
phí. Kết quả là tỷ lệ thu phí nước thải công nghiệp còn thấp. Phí BVMT đối
với chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại được quy định trong
nghị định 174/2007/NĐ-CP ngày 29/11/2007. Ngoài ra, phí vệ sinh được áp
Ký quỹ trong hoạt động khai thác khoáng sản theo Quyết định số
71/2008/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ. Ký quỹ môi
trường đã đem lại những kết quả bước đầu đáng khích lệ trong công tác kiểm
soát ô nhiễm đối với các hoạt động khai thác khoáng sản. Tuy nhiên, việc áp
dụng công cụ này trên thực tế chỉ mới dừng lại các dự án quy mô nhỏ hoặc
còn ở giai đoạn thử nghiệm do công thức dự toán chi phí cải tạo, phục hồi môi
trường, chưa cụ thể, khó thực hiện.
Cơ chế hỗ trợ tài chính cho các các hoạt động BVMT được thực hiện
theo quy định tại Nghị định số 04/2009/NĐ - CP ngày 14/1/2009. Ngoài ra,
thuế xuất nhập khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp cũng có những điều khoản
ưu đãi về thuế cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cung cấp dịch
vụ, thiết bị và công nghệ môi trường. Mặc dù đã có cơ chế hỗ trợ tài chính
song chưa có nhiều doanh nghiệp tham gia các hoạt động này vì nhu cầu đầu
tư cho môi trường chưa cao. Nói cách khác, "cầu" cho hoạt động BVMT chưa
đủ cao để kích thích các hoạt động "cung".
-14-
Một cơ chế khác là Quỹ Môi trường đã được hình thành nhằm hỗ trợ
vốn cho các doanh nghiệp đầu tư BVMT như: Quỹ Môi trường cấp quốc gia
(Quỹ BVMT Việt Nam, Quỹ Bảo tồn Việt Nam), Quỹ BVMT các tỉnh/TP,
Quỹ Môi trường ngành. Sau một thời gian hoạt động, các quỹ môi trường đã
góp phần đưa nguồn vốn của Nhà nước để thực hiện dự án môi trường hiệu
quả; bước đầu huy động được một phần nguồn lực từ trong và ngoài nước cho
các hoạt động BVMT. Tuy nhiên các quỹ này chưa phát huy hết hiệu quả do
nguồn vốn chưa đủ, các doanh nghiệp chưa có nhiều thông tin về các thủ tục
vay cũng như chưa có áp lực cần vay vốn đầu tư BVMT.
Công cụ công khai hóa thông tin hoạt động môi trường của doanh
nghiệp nhằm tạo áp lực từ cộng đồng và người tiêu dùng đến việc doanh
nghiệp tuân thủ các qui định môi trường cũng đã được áp dụng nhưng mới chỉ
ở quy mô nhỏ trong khuôn khổ một số dự án thử nghiệm tại Hà Nội, TP Hồ
Chí Minh, Bắc Ninh và Quảng Nam. Chương trình cấp Nhãn sinh thái đã
nóng về môi trường hiện nay như sông Thị Vải, tỉnh Khánh Hoà, lưu vực
sông Nhuệ, sông Đáy ” vậy có nghĩa là 80% các khu công nghiệp hiện vẫn
đang nằm ngoài tầm quản lý chặt chẽ về môi trường.
Tại Việt Nam năm 1993, nhà nước đã ban hành Luật bảo vệ môi trường
và hiện nay có rất nhiều các văn bản dưới luật và các hướng dẫn về quản lý
môi trường được ban hành và điển hình mới đây nhất là TT 08 về hướng dẫn
đánh giá tác động môi trường, QĐ 23 về chất thải nguy hại, các quyết định về
sử dụng tài nguyên thiên nhiên…
Với mục đích xây dựng và đưa vào áp dụng một phương pháp tiếp cận
chung về quản lý môi trường, tăng cường khả năng đo lường được các kết quả
hoạt động bảo vệ môi trường, tạo điều kiện cho việc nâng cao chất lượng môi
trường cũng như nâng cao hình ảnh tổ chức, năm 1993 tổ chức tiêu chuẩn
quốc tế ISO đã xây dựng bộ tiêu chuẩn ISO 14000 hướng đến thống nhất việc
quản lý môi trường trong tổ chức một cách có hệ thống.
Với một số những ưu điểm vượt trội trong công tác giảm thiểu các rủi
ro môi trường thì hiện nay rất nhiều doanh nghiệp đang muốn tiếp cận với
ISO 14000. Thực tế cho thấy để một doanh nghiệp nằm trong khu công
nghiệp, chế xuất xây dựng hệ thống xử lý nước thải đôi khi tốn hàng trăm
triệu đồng có khi đến hàng tỷ đồng. Để làm giảm tác động của ô nhiễm doanh
nghiệp có thể có hai lựa chọn, một là đẩy mạnh công tác xử lý đầu ra hai là
kiểm soát thật tốt khâu đầu vào cũng như quá trình sản xuất để giảm thiểu tối
đa chất thải. Thông thường hai cách này được phối kết hợp tuy nhiên do vấn
-16-
đề môi trường chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức dẫn đến việc
kiểm soát ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất đang còn rất yếu kém
kể cả mặt chuyên môn lẫn quản lý. Qua thống kê rất nhiều các đơn vị thực
hiện hệ thống quản lý môi trường ISO 14001 thì thấy rằng doanh nghiệp có
thể không cần đầu tư quá nhiều vào khâu xử lý mà chuyển trọng tâm sang
quản lý thật tốt các quá trình mà có khả năng rủi ro cao về môi trường cũng
như có nguồn thải cao. Việc quản lý như thế sẽ dẫn đến được việc phân loại
trường, có tới 33,9% số người được hỏi cho rằng tài nguyên của Việt Nam là
vô tận; 36,9% cho rằng tài nguyên rừng của Việt Nam là vô tận; 27,55% cho
rằng chỉ nước mặt mới bị ô nhiễm, còn nước ngầm thì không; 29,2% cho rằng
môi trường ở thành phố bị ô nhiễm, còn ở nông thôn thì không. Nhận thức sai
lệch trên là một trong những nguyên nhân khiến cho con người có những
hành vi không thân thiện với môi trường, vi phạm pháp luật BVMT; hiểu biết
của người dân về pháp luật, chính sách BVMT hạn chế, có nhiều quy định về
BVMT mà người dân không biết và cán bộ cũng không biết. Điều này tạo ra
một khoảng cách xa giữa việc ban hành luật và thực thi luật, hình thành nên
tâm lý coi thường luật ở người dân. Việc xóa bỏ tâm lý này không phải là
công việc dễ dàng. Theo kết quả khảo sát ở phạm vi hẹp tại Hà Nội về thái độ
ứng xử của người dân đối với hành vi thải rác không đúng nơi quy định của
người khác, chỉ có 12,2% số người được hỏi tỏ thái độ nhắc nhở, có tới 55,1%
không tỏ thái độ gì và 11,25% không chú ý đến hành vi vi phạm đó. Họ cho
rằng, đây là trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường,
không phải của họ; cộng đồng tham gia hoạt động BVMT một cách thụ động.
Trong khi đó, nhiều cơ quan quản lý nhà nước về môi trường chưa thật sự
mạnh dạn trao quyền cho cộng đồng. Kiểu quản lý này làm cho sự tham gia
của cộng đồng vào hoạt động BVMT trở nên bị động, họ chủ yếu chỉ là lực
lượng thực hiện các quyết định quản lý được đưa từ trên xuống. Điều này dẫn
đến hệ quả là, các quyết định quản lý không sát thực tiễn cuộc sống, còn
người dân trở nên thờ ơ và thiếu trách nhiệm giám sát việc thực thi pháp luật
BVMT; công tác truyên truyền, giáo dục về môi trường và BVMT chưa
tốt. Việc vận động nhân dân tích cực tham gia BVMT, vận động họ tự nguyện
thay đổi những thói quen lạc hậu và hình thành những thói quen, nếp sống
thân thiện với môi trường chưa được quan tâm đầy đủ. Các hoạt động BVMT
do nhà trường tiến hành còn mang nặng tính phong trào, hình thức, không
thường xuyên. Tình trạng nhận thức và ý thức BVMT chưa trở thành trách
nhiệm của nhiều người đã góp phần làm cho môi trường nước ta ngày càng ô
nhiễm nghiêm trọng. Nhận ra những bất cập nêu trên, Đại hội XI của Đảng
ngặt lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường” là việc làm cần thiết và
quan trọng của công tác quản lý nhà nước về BVMT. Nếu không làm tốt công
việc này thì tình trạng vi phạm pháp luật BVMT sẽ vẫn diễn ra và đó là nguyên
nhân dẫn đến môi trường sống bị hủy hoại
-19-
Phần 3
ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Đối tượng phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý môi trường tại thị trấn Tân
Uyên, huyện Tân Uyên, tỉnh Lai Châu.
- Phạm vi nghiên cứu: Tập trung môi trường rác thải, nước thải.
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
- Địa điểm: Thị trấn Tân Uyên
- Thời gian: 01/2012 - 4/2012
3.3. Nội dung nghiên cứu
3.3.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và phát triển của thị
trấn Tân Uyên tới môi trường.
- Điều kiện tự nhiên
- Điều kiện kinh tế - Xã hội
- Các nguồn tài nguyên
- Đánh giá sự phát triển của thị trấn ảnh hưởng đến môi trường
3.3.2. Đánh giá thực trạng môi trường của thị trấn Tân Uyên
- Thực trạng môi trường nước
- Thực trạng môi trường đất và không khí
- Rác thải, nước thải
3.3.3. Đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về môi trường của
thị trấn Tân Uyên
- Bộ máy quản lý môi trường của thị trấn
- Công tác quản lý môi trường của thị trấn trong những năm gần đây
xã hội.
- Phía Bắc giáp xã Phúc Khoa - huyện Tân Uyên - tỉnh Lai Châu.
- Phía Nam giáp xã Trung Đồng và xã Thân Thuộc - huyện Tân Uyên -
tỉnh Lai Châu.
- Phía Đông giáp xã Tả Van - huyện Sa Pa - tỉnh Lào Cai.
- Phía Tây giáp xã Mường Khoa - huyện Tân Uyên - tỉnh Lai Châu.
4.1.1.2. Địa hình
Thị Trấn có địa hình chia cắt phức tạp, cao ở phía Đông Bắc và thấp
dần về phía tây Nam, phổ biến là kiểu địa hình núi cao trung bình có độ dốc
lớn, trên 60% diện tích tự nhiên của thị trấn có độ cao trên 800m, hơn 90%
địa hình có độ dốc lớn hơn 20 - 25
0
và bị chia cắt mạch bởi các dãy núi có độ
cao từ 1500 - 2000m so với mực nước biển.
Điều kiện thời tiết, khí hậu diễn biến bất thường, mùa khô hạn hán kéo
dài, mùa mưa có mưa nhiều, kéo dài gây lũ lụt. Điều này ảnh hưởng không
nhỏ tới sản xuất và đời sống của nhân dân.
4.1.1.3. Khí hậu
Nằm trong vùng khí hậu điển hình của vùng nhiệt đới núi cao Tây Bắc,
ngày nóng đêm lạnh, khí hậu phân chia hai mùa rõ rệt; mùa mưa và mùa khô.
Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, có nhiệt độ độ ẩm cao, mùa khô từ tháng 10
đến tháng 3 năm sau vào mùa này khí hậu lạnh độ ẩm lượng mưa thấp.
Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 22,25
0
C.
-22-
Lượng mưa trung bình 1.800 - 2.200mm/năm, độ ẩm không khí trung
bình 80%.
- Dựa trên điều tra khí hậu,thuỷ văn trong khu vực dựa trên số liệu thống
kê trong niêm giám năm 2006 Cục thống kê Tỉnh Lai Châu cụ thể như sau:
- Đất phi nông nghiệp : 271,91 ha.
- Đất chưa sử dụng : 1.364,97 ha.
- Đất đô thị : 7.020,34 ha.
-23-
Các yếu tố về địa chất thổ nhưỡng :
Tân Uyên có 2 loại đất cơ bản: Feralit đỏ vàng và đất Feralit vàng đỏ
Nhìn chung, đất đai trên địa bàn thị trấn có hàm lượng mùn cao nhưng
thường xuyên bị quá trình Feralit hóa xảy ra, đất được hình thành từ nền đá
trầm tích và thảm thực vật. Điều kiện thuận lợi về đất đai và địa hình đã tạo
nên vùng nguyên liệu chè có tiếng trong khu vực.
4.1.1.6. Tài nguyên nước
Nước là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu
của sự sống và môi trường.
Nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của nhân dân thị trấn
được lấy từ 2 nguồn:
• Nguồn nước mặt
Thị trấn Tân Uyên có nguồn nước mặt khá dồi dào từ các con suối. Trên
địa bàn thị trấn có hệ thống mạng lưới các con suối khá dày đặc, có các con
suối lớn là: Suối Nậm Pầu, suối Nà Cóc, suối Nậm Chăng To, suối Chăng
Luông, suối Nậm Giàng, suối Tát Xôm, suối Nậm Chăng, suối Nậm Pe, suối
Chạm Cả…
Với lượng nước mặt dồi dào để cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của
người dân trong thị trấn. Tuy nhiên, do lượng nước mưa phân bố không đồng
đều trong năm, mùa khô thời tiết khô hanh, hạn hán, mùa mưa có mưa nhiều,
lũ lụt gây ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.
• Nguồn nước ngầm
Do địa hình là đồi núi cao nên nguồn nước ngầm của thị trấn khó khai
thác. Sản xuất và sinh hoạt của người dân trong thị trấn chủ yếu là từ nguồn
nước mặt.
4.1.1.7. Tài nguyên rừng
(tăng 7% so năm 2010).
- Tổng diện tích đất gieo trồng: 1.439 ha/1.401 ha đạt 103% KH.
Trong đó:
- Cây lúa: Thực hiện vụ Đông xuân 178 ha/175 ha đạt 102% KH, năng
suất bình quân 59 tạ/ha; vụ mùa 366/348 ha đạt 105% KH, năng suất bình
-25-
quân 46 tạ/ha; tổng sản lượng 2.733,8 tấn đạt 103% KH (tăng 1,3% diện tích
so với năm 2010). Thực hiện đề án 50 ha "Sản xuất lúa hàng hoá, chất lượng"
giống hương thơm số 1 tại 3 điểm (Khu 24, Chạm Cả, Huổi Luồng), năng suất
bình quân 44 tạ/ha.
- Cây ngô: Thực hiện 107 ha/100 ha đạt 107% (tăng 8% so với năm
2010), năng suất đạt 39 tạ/ha, sản lượng 417,3 tấn.
- Cây lạc: Thực hiện 17 ha/13 ha đạt 131% KH (tăng 31% so với năm
2010), sản lượng đạt 23,8 tấn.
- Cây đậu tương: thực hiện 10 ha/10 ha đạt 100% KH, sản lượng 13 tấn.
- Khoai các loại: Thực hiện 13 ha/KH 8 ha đạt 162,5% KH (tăng 30%
so với năm 2010), sản lượng 221 tấn.
- Cây sắn thực hiện 23 ha/17 ha đạt 135,3% KH (giảm 6% so với năm
2010).
- Các cây trồng khác (măng tre điền trúc, giong giềng, mía, cỏ voi…):
Thực hiện 10 ha/KH 10 ha đạt 100% KH.
- Rau các loại: Thực hiện 45 ha/45 ha đạt 100% KH, sản lượng 185 tấn.
- Cây ăn quả: Tổng diện tích 40 ha/40 ha đạt 100% KH, sản lượng đạt
99 tấn.
- Cây thảo quả tổng diện tích 50 ha/50 ha đạt 100% KH, sản lượng 10 tấn.
* Các hoạt động hỗ trợ sản xuất nông nghiệp.
- Uỷ ban nhân dân thị trấn đã ký hợp đồng với Chi nhánh vật tư Nông
nghiệp Tân Uyên cung ứng cho nhân dân 2 bản Chạm cả, Huổi Luồng vay 17
tấn phân NPK trả chậm để sản xuất.
- Vận động nhân dân thực hiện cây trồng vụ đông: 12 ha (ngô, rau,