1
BẢNG KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Viết tắt Viết đầy đủ
CBQL Cán bộ quản lý
CNH Công nghiệp hóa
CNTT Công nghệ thông tin
CSVC Cơ sở vật chất
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GV Giáo viên
GVCN Giáo viên chủ nhiệm
HĐH Hiện đại hóa
HĐNGLL Hoạt động ngoài giờ lên lớp
HS/hs Học sinh
MTHTTT Môi trường học tập thân thiện
NV Nhân viên
NXB Nhà xuất bản
PPDH Phương pháp dạy học
PTCS Phổ thông cơ sở
TH Tiểu học
THCS Trung học cơ sở
THPT Trung học phổ thông
TW Trung ương
UBND Ủy ban nhân dân
UNESCO Tổ chức văn hóa thế giới
UNICEF Quỹ Nhi đổng Liên hợp quốc
XHCN Xã hội chủ nghĩa
1
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
2
3
liên hệ quy luật và phù hợp với các điều kiện môi trường là quan trọng. Môi
trường học tập nó các tác động to lớn đến việc hình thành và phát triển nhân
cách của học sinh, đặc biệt là học sinh tiểu học. Môi trường học tập tốt, lành
mạnh, thân thiện làm cho học sinh có thái độ động cơ học tập tích cực; môi
trường học tập thân thiện tạo điều kiện cho việc hình thành nhân cách của học
sinh toàn diện hơn, năng động hơn, sáng tạo hơn.
Trong giai đoạn hiện nay, khi mà kinh tế thế giới đã và đang bước vào
nền kinh tế tri thức, trình độ khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ, khối
lượng tri thức khoa học ngày càng lớn đòi hỏi người học phải được trang bị
khối lượng kiến thức, kỹ năng ngày càng nhiều thì việc xây dựng môi trường
học tập thân thiện, tích cực là hết sức cần thiết tạo điều kiện cho việc đổi mới
phương pháp dạy và học tạo điều kiện cho học sinh tiếp cận nhiều hơn với tri
thức, khoa học của nhân loại.
Đặc biệt trong nền kinh tế hội nhập, mở cửa của nước ta hiện nay và sự
bùng nổ của công nghệ thông tin có nhiều luồng tư tưởng, văn hoá tràn vào
với những diễn biến phức tạp. Học sinh ở mọi lứa tuổi trong đó có học sinh
tiểu học, lứa tuổi nhậy cảm với những tác động của ngoại cảnh, có thể lây
nhiễm nhanh với những thói hư tật xấu, đi lệch chuẩn mực đạo đức, những
thuần phong, mỹ tục làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới quá trình tu dưỡng và
học tập của học sinh. Đây chính là những băn khoăn, trăn trở không chỉ đặt ra
cho ngành giáo dục mà là vấn đề của toàn xã hội. Chính vì vậy xây dựng môi
trường học tập lành mạnh thân thiện với bầu không khí ấm áp ở đó các em
được chia sẻ suy nghĩ, quan điểm, chính kiến của mình, được tranh luận tìm
ra tri thức mới, được vui chơi trong vòng tay ấm áp của thầy cô, bạn bè sẽ là
tấm lá chắn hữu hiệu cho các em ươm mầm, nuôi dưỡng ước mơ của mình.
Thực trạng giáo dục Bắc Kạn hiện nay và đặc biệt là giáo dục vùng khó
khăn là chất lượng giáo dục thấp so với mặt bằng chung của cả nước và khu
4
5
vực miền núi phía Bắc, nguyên nhân cơ bản do Giáo dục nói chung và giáo
khăn tỉnh Bắc Kạn.
- Đề xuất các biện pháp xây dựng môi trường học tập thân thiện ở trường
tiểu học vùng khó khăn tỉnh Bắc Kạn.
5. Giả thuyết khoa học
Chất lượng và hiệu quả quá trình học tập của học sinh tiểu học vùng khó
khăn tỉnh Bắc Kạn phụ thuộc nhiều vào môi trường học tập của các em. Nếu
đề xuất được biện pháp xây dựng môi trường học tập thân thiện phù hợp với
đặc điểm tâm lý học sinh, phong tục tập quán, điều kiện thực tế của địa
phương thì sẽ góp phần nâng cao tỷ lệ huy động học sinh ra lớp và nâng cao
chất lượng học tập của học sinh.
6. Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng môi trường học tập của học sinh tiểu học vùng khó
khăn và khảo sát trên 8 trường tiểu học ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó
khăn của tỉnh Bắc Kạn.
7. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, tác giả đã sử dụng các
nhóm phương pháp sau đây:
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phân tích, hệ thống hoá các tài liệu, các công trình nghiên cứu khoa học,
tạp chí có liên quan làm rõ những biện pháp chỉ đạo xây dựng môi trường học
tập thân thiện.
- Sử dụng phương pháp dự báo khoa học để dự báo về phong trào xây
dựng môi trường học tập trong thời gian tới.
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng về
giáo dục và đào tạo; Luật giáo dục, Điều lệ trường tiểu học, quy định của
ngành giáo dục về xây dựng môi trường học tập.
6
7
7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, theo dõi phong trào xây dựng môi trường học tập thân thiện ở
1.1. VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
Môi trường là hoàn cảnh sống xung quanh, luôn có ảnh hưởng trực tiếp
hay gián tiếp đến sự phát triển mọi mặt đời sống con người. Vì vậy môi trường
đang là vấn đề thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học.
Nhận thức được môi trường có ảnh hưởng đến năng xuất lao động, các
nhà tâm lý học lao động tập trung nghiên cứu môi trường vĩ mô, những điều
kiện như: Nhiệt độ, mầu sắc, âm thanh, ánh sáng, khung cảnh, mối quan hệ
liên nhân cách của nhóm nhỏ; những yếu tố, điều kiện, hoàn cảnh tác động
mạnh đến chất lượng công việc.
Nhà tâm lý học Mỹ Kenloc (1923) đã nuôi trong cùng một môi trường
con khỉ 10 tháng tuổi và cậu bé trai 8 tháng tuổi của mình để so sánh ảnh
hưởng của môi trường đến con khỉ và con người. Đã có nhiều ví dụ để chúng ta
hiểu về vai trò của môi trường sống đối con vật hoặc con người, không thể làm
thay đổi bản năng của con vật. Ngược lại môi trường của loài vật có thể tác
động mạnh vào bản chất của con người. Nhà xã hội học Mỹ R.E Pác - cơ đã
nói: “Người không đẻ ra người, đứa trẻ chỉ trở nên người trong quá trình giáo
dục”. Điều này khẳng định vai trò của yếu tố môi trường văn hóa, môi trường
giáo dục có tính quyết định đối với sự hình thành nhân cách con người.
Cuối thế kỷ XIX, khi xuất hiện phương pháp xác định trẻ sinh đôi cùng
trứng, đã xuất hiện nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường và di truyền đối
với sự hình thành nhân cách con người. Ở Liên Xô cũ có công trình của I.I
Canaev (1959), kết quả nghiên cứu đó được công bố trong tác phẩm Trẻ sinh
đôi. Sau đó vấn đề được tiếp tục bởi Đ.B. Enconhin.
8
9
Nhiều nhà tâm lý học Mỹ với các công trình nghiên cứu đã chỉ ra ảnh
hưởng rất quan trọng của môi trường đến sự hình thành và phát triển nhân
cách cá nhân. Những kết quả nghiên cứu có hệ thống đã dần hình thành một
chuyên ngành tâm lý học mới: Tâm lý học môi trường và thường được khái
nghi đó chính là hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác liên quan đến
môi trường.
Từ đầu thế kỷ XX, Dimitri Glinos đã viết “…Giáo dục phải thích ứng
với những hoàn cảnh luôn thay đổi, đối phó với những vấn đề mới, những nhu
cầu mới và thường xuyên đòi hỏi những kỹ năng mới… Trong một thời gian
dài, nền giáo dục đã không thể thích ứng được với các hoàn cảnh mới và gắn
với các nhu cầu thực tế. Khoảng cách giữa giáo dục và cuộc sống ngày càng
lớn và bây giờ, điều chúng ta cần không chỉ là một cuộc cách mạng để tái lập
lại mối tương quan giữa giáo dục và cuộc sống[4;tr.206].
Emile DurKheim quan niệm môi trường học đường bao hàm cả lớp học
và việc tổ chức lớp học, như một sự liên kết có phạm vi rộng hơn gia đình và
không trìu tượng như xã hội. Một lớp học không đơn thuần chỉ là một khối
kết dính các cá nhân độc lập với nhau mà còn là một xã hội thu nhỏ. Trong
lớp học, học sinh suy nghĩ, hành động và cảm nhận khác với khi chúng tách
rời nhau… Những quan niệm trên đây đã có trước hàng thế kỷ, hiện nay đang
trở thành vấn đề thời sự của khoa học giáo dục.
Ở Việt Nam
Môi trường giáo dục không phải đến ngày nay mới được quan tâm. Câu
chuyện “Mạnh mẫu giáo tử” phải 3 lần chuyển chỗ ở tìm đến nơi tốt để định
cư nhằm cho con mình được hưởng một môi trường giáo dục thuận lợi. Nhiều
người Việt Nam biết đến và vận dụng câu tục ngữ “gần mực thì đen, gần đèn
thì rạng” cũng muốn nói đến một mặt mối quan hệ với con người trong một
10
11
môi trường giáo dục trẻ. Giá trị của câu chuyện và câu tục ngữ trên ở chỗ đã
đề cao môi trường sống trong quá trình phát triển của trẻ. Với trẻ em ba môi
trường: nhà trường - gia đình - xã hội có vai trò quan trọng trong quá trình
học tập, trưởng thành và hoàn thiện nhân cách.
PGS.TS. Phạm Hồng Quang đã nghiên cứu về môi trường văn hóa giáo
dục, mối quan hệ của nó với môi trường kinh tế và chỉ ra những tiêu chí để
quốc tế, của chính phủ đã hỗ trợ tích cực cho nhiệm vụ này.
Tác giả Vũ Thị Sơn cũng đề cập tới môi trường học tập trong lớp học
đăng trên tạp chí giáo dục số 102/2004. Dự án Việt Bỉ nâng cao chất lượng
đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiểu học các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam
(VIE 04 019 11).
Gần đây có một số đề tài, khóa luận tốt nghiệp của học viên và sinh viên
đã nghiên cứu các vấn đề như: Môi trường giáo dục, môi trường văn hóa giáo
dục, môi trường học tập,
Nghiên cứu về môi trường học tập ở trường tiểu học vùng khó khăn của
tỉnh Bắc Kạn là vấn đề chưa có công trình nào nghiên cứu.
1.2. KHÁI NIỆM CÔNG CỤ
1.2.1. Khái niệm thân thiện
Thân thiện là khái niệm nói về tình cảm thân ái, gần gũi, sự đùm bọc
giữa con người với con người trong cộng đồng xã hội, về cách sống, cách đối
xử bình đẳng, dân chủ giữa mọi người.
Thân thiện còn được mở rộng để diễn đạt mối quan hệ của con người với
môi trường sống, trong đó có môi trường tự nhiên. Con người sống thân thiện
với môi trường, con người sẽ sống tốt hơn và môi trường được bảo vệ và phát
triển tốt hơn.
Thân thiện bắt nguồn từ yêu cầu cuộc sống của mỗi con người, của cả
cộng đồng dân cư. Xã hội càng phát triển con người càng phải thân thiện hơn
12
13
với nhau, thân thiện với đồng bào trong nước và với cộng đồng quốc tế. Nhà
quản lý thân thiên với giáo viên, học sinh, giáo viên thân thiện với đồng
nghiệp và người học. Xây dựng môi trường làm việc, học tập thân thiện trong
nhà trường là nhiệm vụ của các nhà quản lý và giáo viên.
1.2.2. Khái niệm môi trường học tập
Môi trường học tập là các yếu tố có tác động đến quá trình học tập của
học sinh, bao gồm:
động của nhà trường, trong mối quan hệ này biểu thị ở những hoạt động có
liên quan đến nhà trường, cộng đồng có sự hỗ trợ lẫn nhau.
- Cuộc cách mạng trong xây dựng trường học: Một tòa nhà sinh động,
năng nổ có thể thể hiện một trung tâm học tập chủ động sáng tạo. Khi xem xét
khuôn viên, các khoảng không gian ưu tiên có thể đoán ra được triết lý giáo
dục của nhà trường. Không gian hấp dẫn vui vẻ, đầy màu sắc, sân trường
được sử dụng rộng rãi cho nhiều hoạt động…
- Không gian lớp học: Cách truyền thống là sắp xếp phòng học để cho tất
cả cái nhìn và sự chú ý đều tập trung vào người thầy, các hoạt động trùng
khớp với cách sắp xếp của đồ đạc. Khả năng khác là sắp xếp lớp học tạo ra
những khoảng không gian nhiều mục đích, tạo ra sự di chuyển có thể có trong
sự kiểm soát của giáo viên. Sự khác nhau trong không gian lớp học được phát
triển từ cơ cấu phức tạp đến cơ cấu linh hoạt.
Lớp học: Sự sắp xếp chỗ ngồi đồng nhất trong phòng đến bàn ghế lớp
học cùng kiểu như cấn đối đến bàn ghế được sắp xếp cho mỗi hoạt động do
vậy không gian lớp học được sử dụng cho nhiều mục đích đến không gian bên
ngoài được sử dụng để học tập.
Sự di chuyển trong lớp học: Di chuyển bị giới hạn trong phòng do giáo
viên kiểm soát hoàn toàn đến sự di chuyển của học sinh tùy thuộc tình huống
được tự do di chuyển trong giới hạn và học sinh di chuyển tùy ý.
14
15
Sở hữu lớp học: Không gian lớp học được quản lý bởi giáo viên, giáo viên
quản lý vùng không gian của học sinh đến lớp học có vùng không gian của học
sinh đến lớp học có vùng không gian cho sự tiếp cận qua lại và chỉ có khu vực
quy định - mở cho tất cả, toàn bộ không gian lớp học có thể tiếp cận với nhiều
người [34, tr 68 - 79]. Học sinh được học trong mối quan hệ hợp tác với thầy,
với bạn.
Toàn bộ hệ thống môi trường học tập, môi trường dạy học, môi trường
giáo dục trong trường học phải được tiếp cận hệ thống, đó là các quan hệ thầy
học cũng cần được thiết kế phù hợp với lứa tuổi và tâm sinh lý học sinh. Cảnh
quan và môi trường trong trường cũng cần được quan tâm khi thiết kế để tạo
một môi trường thân thiện và an toàn cho học sinh khi ra chơi và các hoạt
động ngoài trời. Các cơ sở phục vụ cho học tập như thư viện, phòng thực
hành - thí nghiệm, căng - tin, khu giáo dục thể chất, các loại hình câu lạc bộ
theo sở thích cũng cần được đầu tư trang bị hiện đại, đầy đủ và phù hợp để
học sinh có thể thường xuyên đến vui chơi, học tập ngoài giờ.
Một trường học tập thân thiện cần có nhà vệ sinh hợp vệ sinh mà cần hệ
thống nhà tắm, phòng để đồ dùng cá nhân và nơi thay quần áo an toàn, kín
đáo, tiện lợi cho học sinh. Khi học môn thể dục và chơi thể thao ngoài giờ,
học sinh rất cần nơi thay trang phục và đồ dùng riêng. Sau khi chơi thể thao
hay các hoạt động vận động nhiều em đã bị lấm bẩn và ra mô hôi thì nhà tắm
và nhà vệ sinh dành cho học sinh nam riêng và nữ riêng là cần thiết.
1.2.4. Khái niệm xây dựng môi trường học tập thân thiện
Xây dựng MTHTTT được hiểu là nhà quản lý tiến hành một hệ thống
các biện pháp nhằm tạo ra một môi trường học tập an toàn, hiệu quả, thu hút
người học tích cực tham gia, giúp người học có cơ hội được trải nghiệm được
phát huy và khẳng định mình.
16
17
Xây dựng môi trường học tập thân thiện là hệ thống những tác động
của nhà quản lý nhằm tạo ra môi trường vật chất, môi trường tinh thần và
môi trường xã hội an toàn, thu hút người học tự giác tham gia, đồng thời tạo
cơ hội cho người học được bày tỏ thái độ và quan điểm của mình trong môi
trường nhóm lớp để học tập có hiệu quả và đem đến sự hài lòng cho cộng
đồng, xã hội. Đồng thời thu hút được cộng đồng tham gia nâng cao chất
lượng giáo dục của nhà trường.
1.3. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VIỆC XÂY DỰNG MTHTTT Ở CẤP
TIỂU HỌC
1.3.1. Đặc điểm tâm lý của học sinh cấp Tiểu học
hướng ghi nhớ máy móc, chúng thường học thuộc lòng tài liệu theo đúng từng
câu, từng chữ. Dần dần cùng với quá trình học tập, ở học sinh tiểu học thuộc
các lớp cuối cấp việc ghi nhớ có ý nghĩa được hình thành và phát triển, các
em dần dần hiểu được những mối liên hệ có ý nghĩa bên trong các tài liệu cần
ghi nhớ. Do đó, giáo viên phải bằng mọi cách kích thích phát triển ghi nhớ có
ý nghĩa đối với học sinh tiểu học để trẻ nắm được ý nghĩa của tài liệu ghi nhớ
được tốt hơn. Tạo môi trường làm việc thân thiện sẽ kích thích học sinh nhớ
tốt hơn, bèn hơn.
Tư duy của trẻ em mới đến trường là tư duy cụ thể, dựa vào những đặc
điểm trực quan của đối tượng và hiện tượng cụ thể. Trong sự phát triển tư duy
ở học sinh tiểu học, tính trực quan cụ thể vẫn còn thể hiện ở các lớp đầu cấp
và sau đó chuyển dần sang tính khái quát ở các lớp cuối cấp. Trong quá trình
dạy học và giáo dục, giáo viên cần nắm chắc đặc điểm này. Vì vậy, trong dạy
học, giáo viên cần đảm bảo tính trực quan thể hiện qua dùng người thực, việc
thực, qua dạy học hợp tác hành động để phát triển tư duy cho học sinh. Giáo
viên cần hướng dẫn học sinh phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, trừu
tượng hóa, khái quát hóa, khả năng phán đoán và suy luận qua hoạt động với
18
19
thầy, với bạn bằng tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học theo nhóm,
phương pháp dạy học bằng tình huống.
Học sinh tiểu học thường có nhiều nét tính cách tốt như hồn nhiên, ham
hiểu biết, lòng thương người, lòng vị tha. Giáo viên nên tận dụng đặc tính này
để giáo dục học sinh chia sẻ tình cảm và kinh nghiệm trong môi trường lớp
học. Tình cảm là một mặt rất quan trọng trong đời sống tâm lý, nhân cách của
mỗi người. Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó là khâu
trọng yếu gắn nhận thức với hoạt động của trẻ em. Tình cảm tích cực sẽ kích
thích trẻ em nhận thức và thúc đẩy trẻ em hoạt động. Tình cảm học sinh tiểu
học được hình thành trong đời sống và trong quá trình học tập của các em. Vì
vậy giáo viên cần quan tâm xây dựng môi trường học tập nhằm tạo ra xúc
+ Trong nhà trường: do nội dung, tính chất, mục đích của các môn học
đều thay đổi so với cấp mầm non đã kéo theo sự thay đổi ở các em về phương
pháp, hình thức, thái độ học tập. Các em đã bắt đầu tập trung chú ý và có ý
thức học tập tốt.
+ Ngoài xã hội: các em đã tham gia vào một số các hoạt động xã hội mang
tính tập thể (đôi khi tham gia tích cực hơn cả gia đình). Đặc biệt là các em muốn
thừa nhận mình là người lớn, muốn được nhiều người biết đến mình.
Khi xây dựng môi trường học tập thân thiện nhà quản lý cần quan tâm
đến những đặc điểm trên để có những biện pháp chỉ đạo sát thực.
1.3.2. Mục tiêu, ý nghĩa của xây dựng MTHTTT ở trường tiểu học
1.3.2.1. Mục tiêu của xây dựng môi trường học tập thân thiện
Mục tiêu của xây dựng môi trường học tập thân thiện là nhằm tạo điều
kiện, tạo phương tiện, tạo động lực cho hoạt động dạy và học phát triển. Giúp
nhà quản lý không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học, chất lượng giáo
dục toàn diện học sinh. Nhà trường là nơi tiếp nhận tất cả các em trong độ
20
21
tuổi quy định đến trường. Thực hiện tốt công tác huy động, vận động học sinh
ra lớp, duy trì sĩ số, đảm bảo công tác phổ cập giáo dục có chất lượng. Tạo
mọi điều kiện để thực hiện bình đẳng về quyền học tập cho trẻ em.
Môi trường học tập thân thiện góp phần tạo nên chất lượng giáo dục
không ngừng được nâng cao. Các thầy, cô giáo phải thân thiện trong dạy học,
thân thiện trong đánh giá kết quả rèn luyện, học tập của học sinh, đánh giá
công bằng, khách quan với lương tâm và trách nhiệm của nhà giáo giúp các
em tự tin ngay từ những năm đầu cắp sách đến trường.
Môi trường học tập thân thiện giúp học sinh được học tập, rèn luyện
trong môi trường lành mạnh, an toàn, tránh được những bất trắc, nguy hiểm
đe dọa. Môi trường học tập có đầy đủ các điều kiện về CSVC đảm bảo các
quyền tự nhiên thiết yếu của con người: đủ nước sạch, ánh sáng, phòng y tế,
nhà vệ sinh, sân chơi, bãi tập, không gian cây xanh,… tạo điều kiện cho học
học mà trẻ còn được thừa nhận, được tin tưởng, được ủy thác các nhiệm vụ
quan trọng. Như thế, mỗi ngày trẻ đến trường là một ngày vui. Môi trường
học tập thân thiện gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tích cực của học sinh.
Trong môi trường phát triển toàn diện đó, học sinh học tập hứng thú,chủ động
tìm hiểu kiến thức dưới sự dìu dắt của thầy cô giáo, gắn chặt giữa học và
hành, biết thư giãn khoa học, rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập,
trong đó những yếu tố hết sức quan trọng là khả năng tự tìm hiểu, khám phá,
sáng tạo.
Xây dựng MTHTTT là điều kiện để từng bước xây dựng đội ngũ giáo
viên có phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý, đáp ứng yêu cầu của giáo dục
trong thời kỳ phát triển mới. Theo đó, các thế hệ học sinh năng động, tích cực
dưới sự dạy dỗ của các thầy cô giáo được học tập trong MTHTTT, sẽ là nhân
tố quyết định sự phát triển bền vững cho địa phương, cho đất nước.
22
23
- Xây dựng nhà trường trở thành trung tâm văn hóa, gương mẫu trong
việc gìn giữ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội ở địa phương. Xây
dựng hình ảnh tốt đẹp cho nhà trường, nêu cao đạo lý tôn sư trọng đạo, tôn
vinh nghề dạy học.
Để trường học là nơi học sinh thích đến, tự nguyện, tự nhiên “không
đến trường thấy nhớ, nghỉ học lâu thấy buồn” Nói cách khác, trường học đó
trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc đời. Giáo dục đó trở thành mục
đích sống, lẽ sống của học sinh.
- Xây dựng MTHTTT góp phần nâng cao năng lực của cộng đồng và gia
đình, giúp học sinh phát triển tối đa tiềm năng, trong đó chú trọng đến sự phát
triển về thể chất, nhân thức và tâm lý xã hội, góp phần làm thay đổi hẳn
những thói quen, tập quán của đồng bào các dân tộc thiếu số cũng như cuộc
sống của các em.
Xây dựng môi trường học tập thân thiện là một nội dung quan trọng
trong xây dựng văn hóa nhà trường, đối với trường tiểu học vùng khó khăn,
sinh và những khó khăn trong cuộc sống, tạo nên môi trường làm việc cộng
đồng trách nhiệm với triết lý vì sự tiến bộ của học sinh, người học là lý do tồn
tại của nhà trường. Thầy tận tâm với nghề, trách nhiệm với đồng nghiệp hết
lòng vì học sinh thân yêu.
Thân thiện trong tập thể sư phạm với nhau. Điều này rất quan trọng, vì
nó là cái lõi để thân thiện với mọi đối tượng khác. Tại đây, vai trò của hiệu
trưởng, của tổ chức Đảng và các đoàn thể là cực kỳ quan trọng. Muốn vậy,
trong quan hệ quản lý, phải thực thi và thực hiện bằng được quy chế dân chủ
ở cơ sở. Trong quan hệ tài chính, phải trong sáng, công khai, minh bạch đối
với mọi thành viên trong nhà trường. Về mặt tâm lý, phải thực sự tôn trọng
lẫn nhau, từ chú bảo vệ, chị lao công đến hiệu trưởng. Không thể có thân
thiện, nếu trong trường mất dân chủ, bất bình đẳng, nếu thiếu tôn trọng lẫn
24
25
nhau, hiệu trưởng hống hách, quát nạt nhân viên dưới quyền. Cũng không thể
có thân thiện, nếu mọi khoản thu chi trong nhà trường cứ “mờ mờ nhân ảnh
như người đi đêm”.
Giáo viên chia sẻ với học sinh những khó khăn trong học tập, rèn luyện.
Quan hệ thầy trò là quan hệ cộng đồng hợp tác cùng chung một mục đích đó
là vì sự tiến bộ của người học và quán triệt triết lý “Thầy ra thầy, trò ra trò”.
Thân thiện giữa tập thể sư phạm, nhất là các thầy, cô với các em học
sinh. Thầy cô cùng các bộ phận khác trong nhà trường đều hoạt động theo
phương châm: “Tất cả vì học sinh thân yêu”. Từ đó, trò sẽ quý mến, kính
trọng thầy cô chứ không là “kính nhi viễn chi”. Sự thân thiện của các thầy, cô
với các em là “khâu then chốt”, và Hiệu trưởng phải chỉ đạo giáo viên thực
hiện tốt các nhiệm vụ sau đây:
- Tận tâm trong giảng dạy và giáo dục các em. Muốn vậy, hãy mạnh dạn
chuyển lối dạy cũ thụ động “thầy đọc, trò chép”, “thầy giảng, trò nghe” sang
lối dạy “thầy tổ chức, trò hoạt động”. “thầy chủ đạo, trò chủ động”, thầy trò
tương tác với quan điểm “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” và “dạy học