TÊN ĐỀ TÀI:
KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ CÒN TỒN TẠI
TRONG LĨNH VỰC XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG
CỦA VIỆT NAM VÀ ĐỀ ÁN KHẮC PHỤC
Thành phố Hồ Chí Minh
Mở đầu
Trong thời đại toàn cầu hoá, lao động di chuyển từ nước này
sang nước khác đã trở thành hiện tượng khá phổ biến. Tuy
không nhộn nhịp như tư bản và công nghệ, lao động cũng là
một yếu tố sản xuất ngày càng vượt biên giới tìm nơi có mức
thù lao cao hơn. Theo ông Bruson McKinley, Tổng Giám đốc
của Tổ chức di trú thế giới (IOM), lực lượng lao động xuất
khẩu càng ngày càng đóng vai trò thiết yếu và có nhiều đóng
góp không thể phủ nhận được đối với đời sống kinh tế-chính trị
của nhiều quốc gia và khu vực. Ngoại tệ do lực lượng lao động
này đem về cho những nước đang phát triển tiếp tục là một
trong những động lực chính thúc đẩy phát triển kinh tế trên
toàn thế giới. Mỗi năm các nước đang phát triển đã thu về 160 tỉ USD từ việc xuất khẩu lao
động, cao hơn nhiều so với tiền viện trợ nhận được từ các nước phát triển (100 tỉ
USD/năm). Cùng với xu hướng đó, xuất khẩu lao động đang dần trở thành một thế mạnh
của VN ta - đất nước được biết đến với nguồn nhân lực trẻ, cần cù và thông minh. VN đã có
lịch sử hơn 30 năm đưa lao động và chuyên gia đi làm việc ở nước ngoài và hiện đã hoàn
thiện hệ thống pháp luật về quan hệ lao động ngoài nước. Chính phủ VN coi trọng hoạt
động đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài, coi đây là một kênh trọng điểm giải quyết nạn
thất nghiệp cũng như “tham vọng” nâng cao trình độ tay nghề của lao động sau khi đi làm
việc ở các nước tiên tiến trở về. Vì vậy để phát triển tối đa nguồn lực quan trọng này, cần
phải thường xuyên tìm hiểu, đánh giá những hạn chế còn tồn đọng và đưa ra những đề án
khắc phục hợp lý.
Số người lao động xuất
khẩu liên tục tăng từ năm
1960 đến năm 2005.
quy mô lớn không có kế hoạch đến các thành phố
II. Những vấn đề tồn tại trong lĩnh vực xuất khẩu lao động của Việt Nam
2.1. Lao động thiếu tay nghề
Hiện nay, xuất khẩu lao động được đánh giá là một trong những ngành dịch vụ đem lại
hiệu quả cao về mặt kinh tế cho xã hội nói chung và đất nước nói riêng. Tuy nhiên, người
lao động trong điều kiện hiện nay không chỉ đơn thuần có thể làm việc mà phải biết làm
đúng cách nghĩa là người lao động phải có kỹ năng, và phải có kiến thức. Hay nói một cách
khác, người lao động cần phải được đào tạo một cách bài bản trước khi tham gia vào thị
trường lao động.
Việt Nam với ưu thế là một nước có nguồn nhân lực dồi dào (85.789.573 triệu người –
theo số liệu của Tổng Cục Dân số ngày 1.4.2009); trong đó lực lượng lao động trẻ chiếm tỷ
lệ lớn. Theo kết quả khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu thị trường lao động, Đại học
Leicester (CLMS), kết hợp với VCCI và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thì 3,5% lực
lượng lao động nằm trong độ tuổi 16 - 18 và 39% trong độ tuổi 19 - 25. Điều này có nghĩa
là một bộ phận lớn lực lượng lao động Việt Nam là lao động trẻ. Nhưng theo Phòng Thương
mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố ngày 30/6/2009 chỉ có gần 15% lao động
trẻ Việt Nam được đào tạo và hầu như rất ít lao động có tay nghề cao. Vì vậy, để có thể sử
dụng triệt để ưu thế về lao động, Việt Nam cần phải xem xét và thực hiện công tác đào tạo
cho người lao động càng sớm càng tốt.
Theo số liệu được lấy từ Dữ kiện thế giới của CIA bản 2005 và được cập nhật từ tháng 2
năm 2005, hiện nay trên thế giới có 193 quốc gia/ vùng lãnh thổ với tổng dân số là
6.372.797.742 người. Hiện tại Việt Nam đã thực hiện xuất khẩu lao động sang tổng số là
gần 40 quốc gia/vùng lãnh thổ tương đương với 21% thị phần của Việt Nam trên thị trường
xuất khẩu lao động. Như vậy, ta có thể thấy lợi thế một nước đông dân chưa được khai thác
triệt để.
Biểu đồ 1: Thị phần xuất khẩu lao động của Việt Nam trên thế giới
Nếu ta hình dung 193 quốc gia và vùng lãnh thổ là một thị phần lớn tương đương với
100% thì thị phần của Việt Nam chiếm lĩnh trong lĩnh vực xuất khẩu lao động là 40 quốc
gia/vùng lãnh thổ, tương đương với 21%. Nhìn trên biểu đồ hình tròn có thể thấy thị phần
của Việt Nam chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ. Điều này đồng nghĩa với việc 79% thị phần còn
kinh tế bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính của Mỹ, nên tốc độ tăng của năm 2008
chậm hơn 5,6% so với tốc độ tăng của năm 2007. Tuy nhiên, trong bối cảnh nhiều công ty
phá sản, nền kinh tế đình trệ thì con số trên đã thể hiện những nỗ lực hết mình của chính
phủ và các ban ngành đối với sự phát triển ngành xuất khẩu lao động. Cho đến nay, khủng
hoảng kinh tế vẫn còn đang là một rào cản đối với sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam
thì ngành xuất khẩu lao động vẫn vươn lên để hoàn thành chỉ tiêu năm 2009 xuất khẩu
90.000 người lao động. Theo báo cáo 8 tháng năm 2009 của Cục quản lý lao động ngoài
nước, tổng số lao động đi xuất khẩu lao động đạt 45.634 người tương đương với 50,2% so
với định mức đặt ra của năm 2009.
Bảng 2: Lao động xuất khẩu trong 8 tháng năm 2009
Đơn vị: người
Nhật
Bản
Hàn
Quốc
Đài
Loan
Malaysia Nga UAE Li Bi Ma
Cao
Khác Tổng
Lao
động
3793
5549 13202 1666 1484 3051 2660 2349 11880 45634
Lao
động nữ
999 785 4782 1015 658 2310 219 2144
Nguồn: Cục Quản lý lao động ngoài nước
Con số này cũng đánh dấu những bước tiến của ngành xuất khẩu lao động trong quá trình
nền kinh tế suy thoái. Đó là thành quả của quá trình nỗ lực không ngừng tìm đầu ra cho thị
Hàn Quốc
Công nghiệp 8205 10462 14219 32886
Thuyền viên tàu cá 1219 1409 2380 5008
Vận tải biển 90 82 68 240
Xây dựng 1031 152 783 1966
Ngành nghề khác 32 82 691 805
Lao động lành nghề
(TDC)
1255 1579 8428 11262
Cộng 10577 12187 18141 40905
Thị
trường
Ngành nghề
Số LĐXK đã qua đào tạo
Tổng
2006 2007 2008
Đài Loan
Khán hộ công, giúp việc
gia đình
1419 8734 7430 17583
Công nghiệp 10980 12980 21492 45452
Vận tải biển 252 71 55 378
Thuyền viên tàu cá 1376 1812 1890 5078
Xây dựng 12 15 21 48
Ngành nghề khác 88 28 743 859
Lao động lành nghề
(TDC)
4325 8033 9534 21892
Cộng 14127 23640 31631 69398
Malaysia
Công nghiệp (SXCT) 22 457 708 1187
Vận tải 17 41 61 119
Giúp việc gia đình 0 452 986 1438
Lao động lành nghề
(TDC)
74 955 1293 2322
Cộng 98 1620 2987 4705
CH Séc Công nghiệp 0 338 1370 1708
Dệt may 0 85 47 132
Xây dựng 0 0 15 15
Dịch vụ 7 0 0 7
Thị
trường
Ngành nghề
Số LĐXK đã qua đào tạo
Tổng
2006 2007 2008
Lao động lành nghề
(TDC)
0 406 1127 1533
Cộng 7 423 1432 1862
Ma Cao
Giúp việc gia đình 0 1169 2474 3643
Dịch vụ 0 836 446 1282
Công nghiệp 0 2 3 5
Khác 7 125 102 234
Lao động lành nghề
(TDC)
0 869 548 1417
Cộng 0 2132 3025 5157
Đài Loan. Kể từ khi những người di cư làm việc bất hợp pháp, họ không nhận được bảo vệ
từ chính quyền. Hầu hết không có hợp đồng hoặc giấy phép lao động và đặc biệt dễ bị tổn
thương để giam giữ. Có hai lý do chính. Thứ nhất, hầu hết các công nhân di cư Việt vay tiền
với lãi suất cao để trả tiền các cơ quan xuất khẩu lao động để sắp xếp cho họ đi ra nước
ngoài. Do đó họ bị áp lực rất lớn để kiếm được đủ tiền chi trả các khoản vay. Họ cũng ít ở
tuân thủ theo các quy tắc, tìm kiếm công việc khác nếu họ không hài lòng với những điều
kiện mà họ đã ký kết với công ty sử dụng lao động. Trả lương cao hơn cũng cám dỗ họ làm
như vậy. Nhưng kể từ khi họ làm việc bất hợp pháp, họ không nhận được bảo vệ từ chính
quyền. Hầu hết không có hợp đồng hoặc giấy phép lao động, và đặc biệt dễ bị tổn thương.
Với hy vọng cải thiện đời sống của mình, nhiều người lao động nông thôn đặt ngôi
nhà của mình như tài sản thế chấp để vay vốn để nộp lệ phí của cơ quan xuất khẩu lao động.
Chi phí trung bình khoảng 5.000-6.000 USD. Những người muốn sang Nhật Bản cần ít nhất
là 10.000 US $, một khoảng tiết kiệm cả đời đối với một gia đình ở nông thôn. Nếu họ may
mắn, họ sẽ kiếm đủ tiền để trả nợ vay của họ. Nếu không, họ sẽ không thể thoát khỏi các
khoản nợ rất lớn và sẽ trở thành "nạn nhân" của xuất khẩu lao động. Ngoài ra, những người
đi làm việc ở Trung Đông, Malaysia và Hàn Quốc không hiểu rõ các nền văn hóa của các
quốc gia này. Nhiều khi vi phạm pháp luật và bị trục xuất trước khi họ kiếm được đủ tiền để
trả nợ của họ. Cơ quan lao động xuất khẩu bỏ qua vấn đề này. Các khóa học đào tạo cho
người lao động xuất khẩu không cung cấp thông tin cần thiết về người sử dụng lao động,
pháp luật địa phương, hoặc các quyền và nghĩa vụ của họ trong thời gian làm việc của họ.
Chính phủ gần đây đã ban hành pháp luật về xuất khẩu lao động, nhằm tiêu chuẩn hóa và
hợp thức hóa quá trình. Cụ thể, quy định của pháp luật đòi hỏi trách nhiệm từ cả hai công
nhân và các doanh nghiệp xuất khẩu lao động, và là một phần của một nỗ lực gia tăng của
chính phủ Việt Nam nâng cao khả năng cạnh tranh của xuất khẩu lao động của mình trong
thị trường lao động quốc tế.
Có một số của các nước trong khu vực Đông Nam Á và Đông Á đang làm việc chặt
chẽ hơn với chính phủ của các nước liên quan để đảm bảo rằng các kênh di cư có thể truy
cập theo pháp lý, và rằng họ cung cấp sự bảo vệ đầy đủ cho người di cư. Vì vậy, chính phủ
rộng rãi thừa nhận rằng để tạo ra các kênh cho những người di cư hợp pháp, chúng ta phải
đảm bảo rằng các tùy chọn quy phạm pháp luật trở nên hấp dẫn hơn. Các ưu đãi cho người
LĐ Việt Nam dù được chủ sử dụng đánh giá cao và khá ưu ái về tính cần cù, chăm
chỉ nhưng không có nghĩa là họ có thể dễ dàng bỏ qua, nhất là khi người LĐ có hành vi vi
phạm pháp luật. Ông Đào Công Hải, Phó Cục trưởng Cục Quản lý LĐ ngoài nước (Bộ LĐ-
TB&XH) cho biết: "Ở các thị trường như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia…
thống kê cho thấy, đối tượng cư trú bất hợp pháp và vi phạm pháp luật chủ yếu tập trung ở
số 80% LĐ có trình độ phổ thông". Với những LĐ bỏ trốn thì càng phải chịu nhiều thiệt thòi
hơn. "Ngay từ khi đi xuất khẩu, người LĐ đã ký vào biên bản cam kết hoàn thành nghĩa vụ
LĐ thì về nước, nhưng nhiều LĐ vẫn cố tình trốn ở lại. Nước sở tại xếp các LĐ này vào
"danh sách đen", tức là mất hết các quyền lợi, kể cả chế độ bảo hiểm, nếu xảy ra bất cứ vấn
đề gì".
Tình trạng lao động bỏ trốn cũng là một trong những “tì vết” khiến ngành xuất khẩu
lao động thêm khó khăn trong việc mở rộng thị trường những năm qua. Có những nguyên
nhân cơ bản dẫn đến hiện tượng này. Việc Hàn Quốc đã tạm dừng các đợt thi tuyển tiếng
Hàn nhằm tiếp nhận lao động Việt Nam sang quốc gia này, hồi tháng 9 vừa qua cũng xuất
phát từ nguyên nhân: số lượng người lao động nước ngoài, đặc biệt là lao động Việt Nam cư
trú bất hợp pháp tại quốc gia này đang ở mức cao (trong tổng số trên 60.000 lao động Việt
Nam hiện đang làm việc, có gần 8.800 người đang cư trú bất hợp pháp, đứng đầu về số
lượng so với các quốc gia phái cử). Theo thông kê, trong vài năm trở lại đây tình trạng lao
động Việt Nam bỏ trốn diễn ra ở hầu hết các thị trường, nhiều nhất là ở Nhật Bản, Hàn
Quốc (chiếm 30%-40%), Đài Loan (10%-15%). Ngoài thiệt hại về kinh tế đối với các công
ty xuất khẩu lao động vì bị phạt, người lao động nếu bị phát hiện sẽ bị trục xuất về nước
sớm. Hơn thế, thiệt hại lớn nhất mà không thể đo lường được là hình ảnh lao động Việt
Nam bị xấu đi trong mắt bạn bè quốc tế.
Thông tin từ Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho thấy, qua khảo sát nhanh
một số chuyên gia và người tham gia xuất khẩu lao động trở về, những nguyên nhân chủ
yếu dẫn đến lao động bỏ trốn gồm: Kinh tế, tình trạng lừa đảo và hiểu biết về luật pháp.
Trên thực tế, không ít lao động Việt Nam sẵn sàng phá vỡ hợp đồng ra ngoài làm để có thu
nhập cao hơn và để ở lại nước ngoài bất hợp pháp lâu hơn, cho dù việc làm này có thể gặp
rủi ro và bị trục xuất về nước. Như tại thị trường Nhật Bản, có tỷ lệ lao động bỏ trốn cao vì
quốc gia này nhận lao động Việt Nam dưới dạng “tu nghiệp sinh”. Thực chất là một hình
người trẻ trong thị trường lao động. Di cư được coi là một trong những cách để đảm bảo
rằng họ sẽ có công việc, và gửi về nhà rất nhiều kiều hối, góp phần rất nhiều tiền để phát
triển nền kinh tế. Ngoài kiều hối gửi, khi người di cư đang ở nước ngoài, họ có thể phát
triển các kỹ năng mới và phát triển các mối quan hệ mới. Nhưng làm thế nào để người di cư
mang về nhà những kỹ năng và áp dụng chúng ở Việt Nam sau khi hoàn thành công việc
của họ tại nước ngoài. Xuất khẩu lao động chỉ là một chương trình di cư tạm thời. Sau một
số năm, họ phải trở về nhà . Làm thế nào chúng ta có thể chắc chắn rằng khi họ trở về nhà
việc đầu tiên họ nghĩ rằng không phải là để di chuyển một lần nữa? Làm thế nào chúng ta có
thể chắc chắn rằng khi người di cư trở về nhà với một số tiền, với một số kỹ năng bổ sung,
họ có thể bắt đầu một số doanh nghiệp và tạo ra các cơ hội việc làm hơn ở nhà?
Hàng chục ngàn công nhân Việt Nam đã trở về nhà sau khi hoàn thành hợp đồng
xuất khẩu lao động của họ từ các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, và Đài Loan. Họ đại diện
cho một nguồn tài nguyên có giá trị của con người đối với nền kinh tế của Việt Nam. Tuy
nhiên, nhiều người thất nghiệp sau khi trở về quê nhà của họ. Mặc dù không có số liệu
chính thức nhưng những bằng chứng đã được thu thập cho thấy tỷ lệ thất nghiệp trong công
nhân trả về là khá cao. Ông Hùng từ Vân Đình, Hà Nội làm việc tại Hàn Quốc. Ông khỏe
mạnh, nhiệt tình, và nói tiếng Anh và tiếng Hàn thành thạo. Ông thậm chí còn nhận được
một giải thưởng từ Hiệp hội Doanh nghiệp Hàn Quốc cho ý tưởng kinh doanh để nâng cao
năng suất sử dụng lao động của mình - Công ty đóng tàu Busan. Tuy nhiên, ông không thể
tìm thấy một công việc phù hợp tại Việt Nam, và sống bằng cách lái xe ôm. Đáng buồn
thay, tình hình của ông không phải là hiếm và chính quyền vẫn không có chính sách để giải
quyết vấn đề. Công nhân trở lại phải tự xoay sở và nhiều người không thể tìm thấy một công
việc phù hợp mặc dù họ có trình độ và kinh nghiệm. Kết quả là, nhiều người đã đi xuất khẩu
lao động nước ngoài lần thứ hai.
III. Giải pháp
Để sớm khắc phục những vấn nêu trên, phát triển bền vững và mở rộng việc làm của
lao động Việt Nam ở các thị trường trên thế giới, cần triển khai thực hiện quyết liệt các giải
pháp chủ yếu sau:
Một là, bám sát yêu cầu thị trường, đầu tư chuẩn bị nguồn lao động có trình độ nghề
cao, đáp ứng yêu cầu các chủ sử dụng. Doanh nghiệp XKLĐ cần hợp tác chặt chẽ với hệ
Năm là, để bổ sung được lực lượng lao động có chất lượng cao hơn đi theo con
đường chính thống, đề nghị cơ quan Nhà nước hai bên có sự phối hợp tháo gỡ khó khăn
trong việc cấp visa lao động, đồng thời siết chặt hơn việc cấp visa kinh doanh, đảm bảo thực
hiện đúng mục đích, không để tình trạng một lực lượng lớn người lao động chất lượng hạn
chế đi theo visa kinh doanh để nhập vào đội quân lao động trong nhà máy như hiện nay.
Kết luận
Quá trình hội nhập toàn cầu nhanh chóng của Việt Nam đã đưa ra một loạt các cơ hội
cho người lao động Việt Nam. Để giải quyết tình trạng thất nghiệp chắc chắn sẽ gia tăng khi
lực lượng lao động đạt tối đa, xuất khẩu lao động đã đóng một vai trò quan trọng trong việc
lập kế hoạch kinh tế - xã hội của đất nước. Tuy nhiên, để tối đa hóa lợi ích của nó, chính
phủ phải tạo ra một khuôn khổ pháp lý và các chính sách giám sát phù hợp. Ngoài ra, lực
lượng lao động phải có tay nghề cao và cạnh tranh nên được coi là một ưu tiên hàng đầu
trong kế hoạch thúc đẩy xuất khẩu lao động của chính phủ. Hầu hết người Việt Nam làm
việc ở nước ngoài là lao động chân tay và thường thiếu kỹ năng. Nếu điều này có thể được
giải quyết, xuất khẩu lao động sẽ là một lợi thế cạnh tranh thật sự cho Việt Nam và kéo theo
sự tăng trưởng dài hạn của nó. Về lâu dài, một cái gì đó như (Nam) Hàn Quốc (có thể xảy
ra), chuyển đổi từ một quốc gia lao động gửi tới một quốc gia tiếp nhận lao động như nó đã
trở thành một nền kinh tế phát triển. Việt Nam là một thị trường lao động gửi do chính sách
di trú của chính phủ xúc tiến. Tuy nhiên, khi nền kinh tế phát triển hơn nữa, Việt Nam có
thể trở thành một nước tiếp nhận lao động, nhận người lao động làm công việc khai thác mỏ
và xây dựng. Ngay cả Lào, một trong những nền kinh tế kém phát triển, cũng là một nước
tiếp nhận người lao động từ Việt Nam và Trung Quốc.
Chúc các bạn thành công.
Tài liệu tham khảo
http://www.baobinhdinh.com.vn/thegioi/2006/12/36915/
http://tamnhin.net/tieu-diem/11826/Vai-tro-dong-luc-tang-truong-cua-xuat-khau html
http://tsc.edu.vn/Pages/ArticleDetail.aspx?siteid=1&sitepageid=57&articleid=92
http://translate.google.com.vn/translate?hl=vi&langpair=en|
vi&u=http://www.vfr.vn/index.php%3Foption%3Dcom_content%26task%3Dview%26id
%3D1157%26Itemid%3D21