Trường ĐH Tôn Đức Thắng BÁO CÁO MÔN HỌC
Lớp 06SH1D CÔNG NGHỆ PROTEIN VÀ ENZYME
PHẦN NỘI DUNG
I. TỔNG QUAN
I.1 Nguồn nguyên liệu – Phế liệu dứa
I.1.1 Công dụng
Cây dứa (Ananas comusus) thuộc họ đơn tử diệp, thuộc họ Bromeliaceae có nguồn gốc từ Nam Mỹ.
Hiện nay, ở nước ta loại dứa đang đựơc trồng nhiều nhất là Ananas comusa được dùng làm nguồn
thực phẩm tươi, đóng hộp, là nguồn thu nhận enzyme và được sử dụng trong một số lĩnh vực như mỹ
phẩm, dược phẩm…
Phần thân và lá sau khi thu hoạch có thể làm giấy, lấy sợi, làm phân bón…
I.1.2 Thành phần của dứa
Trong quả dứa chín, nước chiếm đa số, hàm lượng 80- 86%, cacbohyrat chiếm 10- 18% (trong đó
saccharose 60- 67%, glucose và fructose chiếm 30- 40%), protein 2- 3%, axit hữu cơ 0.1- 1.6%( axit
citric chiếm 87% và axit maleic chiếm 13%), tro 0.3%, sắc tố 0.03- 0.6% và các hợp chất phenolic( tạo
màu), các hợp chất tạo mùi, các vitamin: A, B1, C… và enzyme bromelin.
I.2 Enzyme bromelin
I.2.1 Đặc điểm
Bromelin là tên gọi chung của nhóm enzmye thực vật chứa nhóm sulfhydryl, có khả năng phân giải
protein được thu nhận từ cây dứa.
Bromelin chiếm 50% protein trong quả dứa, có khả năng thủy phân khá mạnh và hoạt động tốt ở
pH6-8.
Bromelin có hoạt tính xúc tác sự phân giải protein tương tự như papain trong mủ đu đủ hay ficin
trong cây thuộc họ Sung.
Enzyme bromelin có trọng lựơng phân tử lớn khoảng 33000 Da, lớn 1.5 lần so với papain.
I.2.2 Tính chất của Bromelin
Thành phần chủ yếu của Bromelin có chứa nhóm sulfhydryl, trong dịch chiết Bromelin có chứa một ít
peroxidase, phospatase acid và chất cản protease.
Hiện nay người ta ghi nhận trong thân có chứa 8 thành phần cơ bản có hoạt tính thủy phân protein.
Dịch chiết Bromelin toàn phần hoạt động trong khoảng pH 4,5- 9,8. Bromelin chiết tách từ các bộ
phận khác nhau của cây dứa sẽ có hoạt động sinh lý khác nhau nhưng hoạt tính sinh lý giống nhau.
OH
OH
OH
OH
OH
OH
CH OH
2
CH OH
2
CH OH
2
OH
OH
NHCONH
3
NHCONH
3
NHCOCH
2
C
N
CH
CH
2
Fructose
Maltose
Maltose
Maltose
Xylose
2
Trường ĐH Tôn Đức Thắng BÁO CÁO MÔN HỌC
Lớp 06SH1D CÔNG NGHỆ PROTEIN VÀ ENZYME
trong)
35.500(tính bằng phương pháp Archibald)
I.2.6 Hoạt tính của Bromelin
I.2.6.1 Hoạt tính phân giải
Bromelin có 3 hoạt tính khác nhau: peptidase, amidase, esterase.
Bromelin thân có nhiều cơ chất tự nhiên và có thể phân giải cơ chất tự nhiên lẫn cơ chất tổng hợp.
• Khả năng phân giải cơ chất tự nhiên của Bromelin
Đối với cơ chất là Casein, hoạt tính phân giải của Bromelin thân cao hơn Bromelin quả xanh và Bromelin quả
chín.
Cơ chất Hoạt tính phân giải Casein (UI/mg)
Bromelin thân Bromelin quả xanh Bromelin quả chín
Casein 7.4 4.0 3.0
• Khả năng phân giải cơ chất nhân tạo của Bromelin
Cơ chất Hoạt tính phân giải (UI/mg)
Bromelin thân Bromelin quả xanh Bromelin quả chín
Benzoyl-L-Arginine amid 3.7 9.1 7.2
Ở nhiệt độ 5
O
C, pH= 6
Benzoyl-L-
Arginine amid
Benzoyl-L-Arginine
ethyl ester
Benzoyl-L-Arginine
methyl ester
Bromelin thân 1.2x10
-3
Trường ĐH Tôn Đức Thắng BÁO CÁO MÔN HỌC
Lớp 06SH1D CÔNG NGHỆ PROTEIN VÀ ENZYME
Ví dụ: Muối thủy ngân ảnh hưởng quan trọng đến hoạt tính của Bromelin và mức độ kìm hãm tùy vào
nồng độ muối.
Các ion kim loại: Fe, Cu, Ag, Sb, Zn có xúc tác làm ổn định cấu trúc phân tử của Bromelin.
• Ngoài ra, Bromelin còn bị ức chế bởi các ion hay các hợp chất có ái lực mạnh hơn nhóm –SH, các tác
nhân oxi hóa, halogen, ankyl hóa, …:iodoacetate, bromoacetate, methyl bromur…
• Ảnh hưởng bởi trạng thái và điều kiện bảo quản:
Hoạt tính (UI/mg protein)
Dịch chiết Đông khô
Nguyên liệu tươi 1.600 1.150
Bảo quản ở 4
O
C trong 5 ngày 830 630
Sấy khô ở 4
O
C 1.880 1.360
I.2.7 Cơ chế tác động của Bromelin
Casein và hemoglobin là 2 cơ chất tự nhiên được dùng nhiều nhất.
Đầu tiên, Bromelin kết hợp với protein và thủy phân sơ bộ cho ra polipeptid và axit amin. Proetein kết
hợp với nhóm –SH của enzyme khiến nó bị ester hóa rồi nhóm imidazone khử ester giải phóng enzyme,
axit amin và peptid.
Ở giai đoạn đầu, Zn
2+
kết hợp với nhóm –SH ở trung tâm hoạt động hình thành mercaptid phân li yếu
( nhưng vẫn có khả năng tạo liên kết phối trí bổ sung với các nhóm chức năng khác của protein: amin,
cacboxyl,…)
Enzyme-SH + Zn
2+
Enzyme-S-Zn + H
Khi đồng hóa nguyên liệu ở 20Mpa :
Sản lượng enzyme thu được từ vỏ quả là 0.9g/500mL dịch chiết.
II.2.2. Các phương pháp thu tủa Bromelin thô:
II.2.2.1. Phương pháp kết tủa:
Nguyên tắc : Điểm đẳng điện của đa số protein thấp hơn pH=7 nên trong điều kiện sinh lý, các phân
tử protein tích điện âm thừa kết hợp với các đầu mang điện tích dương của phân tử nước hữu cực (ở
trong dung dịch, protein liên kết với một lượng nước khá lớn) hoặc với các ion dương. Sự kết hợp với
nước tạo ra một lớp nước xung quanh phân tử protein và cản trở sự kết tủa của chúng.
Để có thể kết tủa được enzyme phải phá vỡ lớp nước liên kết bằng cách bổ sung vào dung dịch
protein enzyme các dung môi hoặc các hóa chất có ái lực với nước mạnh hơn protein để lôi kéo nước ra
khỏi phân tử protein, giúp cho protein tủa xuống.
Các dung môi thường được sử dụng để kết tủa bromelin là: Acetone và ethanol,… có tác dụng làm
giảm hằng số điện môi của dung dịch nên làm giảm độ hòa tan của protein.
Các hóa chất khác như muối trung tính ở nồng độ cao ( vì có độ hòa tan rất tốt ). Ở nồng độ muối
thấp, đa số các protein và enzyme có độ hòa tan lớn nên chỉ có một số tạp chất kết tủa. Khi tăng dần
nồng nồng độ muối thì có hiện tượng tranh giành lớp vỏ hirat của prtein làm các protein gắn kết lại
với nhau và tủa xuống. Ở nầng độ muối bão hòa thì toàn bộ các prtein và enzyme bị kết tủa.Muối của
các ion hóa trị II tủa protein tốt hơn các muối của các ion hóa trị I, các muối thường dùng là:
(NH
4
)
2
SO
4
, MgCl
2
vì rẻ tiến và dễ tìm.
II.2.2.1.1.Tủa bằng ethanol:
Làm lạnh dung dịch nước dứa sau li tâm, cho ethanol 96
0
1:5 230342 230.342 1148.41 5.01
1:6 220940 220.94 1097.21 4.97
** Nhận xét và kết luận: Lượng tác nhân tủa càng nhiều thì hàm lượng protein thu được càng nhiều, tủa
bằng tỷ lệ 1:5 hàm lượng prtein cực đại; nhưng sau đó hàm lượng giảm do lượng tác nhân nhiều làm
hẳng số điện môi giảm, các prtein tự tháo gỡ liên kết. Hoạt tính Bromelin cực đại ở tỷ lệ 1:2.
Khảo sát nhiệt độ tối ưu cho hoạt động của Bromelin ở tỷ lệ 1:2:
t
O
C 27 37 47 57 67 77
UI/g 1370.99 1460.58 1530.98 1346.81 1183.26 989.84
GV giảng dạy: Ths. Nguyễn Thị Thu Sang
7
Trường ĐH Tôn Đức Thắng BÁO CÁO MÔN HỌC
Lớp 06SH1D CÔNG NGHỆ PROTEIN VÀ ENZYME
Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt tính Bromelin
** Nhận xét và kết luận: Khi nhiệt độ tăng thì hoạt tính của enzyme tăng nhưng khi nhiệt độ tăng tới
hạn thì hoạt tính Bromelin giảm dần do bị biến tính. Hoạt tính Bromelin cực đại khi tủa bằng cồn 96
O
C tỷ
lệ 1:2 ở nhiệt độ 47
O
C.
Khảo sát pH tối ưu cho hoạt động của Bromelin ở tỷ lệ 1:2:
pH 5 6 7 8 9 10
UI/g 105.24 1460.58 850.47 757.31 717.49 701.14
Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của pH đến hoạt tính Bromelin
** Nhận xét và kết luận: : Khi pH tăng thì hoạt tính của enzyme tăng nhưng khi pH tăng tới hạn thì hoạt
tính Bromelin giảm dần do bị biến tính, tuy nhiên ảnh hưởng không đáng kể như ảnh hưởng của nhiệt
độ. Hoạt tính Bromelin cực đại khi tủa bằng cồn 96
Thể tích cồn (ml) 50 100 150 200 250 300
** Kết quả:
Tỷ lệ Hàm lượng protein Hoạt tínhbromelin Hoạt tính riêng
µ
g/g
mg/g UI/g UI/mg
1:1 200857 200.857 1354.63 6.74
1:2 209402 209.402 1550.18 7.41
GV giảng dạy: Ths. Nguyễn Thị Thu Sang
8
Trường ĐH Tôn Đức Thắng BÁO CÁO MÔN HỌC
Lớp 06SH1D CÔNG NGHỆ PROTEIN VÀ ENZYME
1:3 214106 214.106 1708.75 7.98
1:4 203846 203.846 1806.17 8.87
1:5 200427 200.427 1865.48 9.34
1:6 198291 198.291 1632.67 8.23
** Nhận xét và kết luận: Lượng tác nhân tủa càng nhiều thì hàm lượng protein thu được càng nhiều, tủa
bằng tỷ lệ 1:5 hàm lượng prtein cực đại; nhưng sau đó hàm lượng giảm do lượng tác nhân nhiều làm
hẳng số điện môi giảm, các prtein tự tháo gỡ liên kết. Hoạt tính Bromelin cực đại ở tỷ lệ 1:5.
Khảo sát nhiệt độ tối ưu cho hoạt động của Bromelin ở tỷ lệ 1:5:
t
O
C 27 37 47 57 67 77
UI/g 1316.23 1652.58 1847.42 1654.00 1383.79 936.51
Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt tính Bromelin
** Nhận xét và kết luận: Khi nhiệt độ tăng thì hoạt tính của enzyme tăng nhưng khi nhiệt độ tăng tới
hạn thì hoạt tính Bromelin giảm dần do bị biến tính. Hoạt tính Bromelin cực đại khi tủa bằng aceton tỷ lệ
1:5 ở nhiệt độ 47
O
tủa dễ hòa tan bằng nước và muối có thể được lọai ra khỏi protein bằng cách thẩm tích.
Phương pháp này có thể thực hiện ở nhiệt độ thường.
Những yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu suất và chất lượng của chế phẩm enzyme là:
Nồng độ của ammonium sulfate
pH của dung dịch chiết
Nhiệt độ kết tủa
Thời gian tiếp xúc của các tác nhân đệm và dịch tiết
Thông thường nếu sử dụng phương pháp tủa với (NH
4
)
2
SO
2
thì cứ 60Kg nguyên liệu tươi thì thu được
khỏang 1 Kg Bromelin thô.
Dẫn chứng bằng một số kết quả từ thực nghiệm:
Khảo sát các yếu tố ảnh hưởng:
Khảo sát tỷ lệ dịch enzyme và aceton:
** Cách thực hiện
Dịch enzyme và (NH
4
)
2
SO
4
1:1 1:2 1:3 1:4 1:5 1:6
Thể tích dịch enzyme (ml) 50 50 50 50 50 50
Thể tích cồn (ml) 50 100 150 200 250 300
** Kết quả:
GV giảng dạy: Ths. Nguyễn Thị Thu Sang
Khảo sát nhiệt độ tối ưu cho hoạt động của Bromelin ở nồng độ (NH
4
)
2
SO
4
80% :
t
O
C 27 37 47 57 67 77
UI/g 1323.34 1397.30 1479.07 1383.79 1090.82 1020.42
Đồ thị biểu diễn ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt tính Bromelin
** Nhận xét và kết luận: Khi nhiệt độ tăng thì hoạt tính của enzyme tăng nhưng khi nhiệt độ tăng tới
hạn thì hoạt tính Bromelin giảm dần do bị biến tính. Hoạt tính Bromelin cực đại khi tủa bằng (NH
4
)
2
SO
4
80% ở nhiệt độ 47
O
C.
Khảo sát pH tối ưu cho hoạt động của Bromelin ở nồng độ (NH
4
)
2
SO
4
4
220.51 1465.56 7.69
Trong 3 phương pháp thì tủa bằng Aceton cho hiệu quả cao nhất.
II.2.2.2. Phương pháp hấp phụ:
II.2.2.2.1. Hấp phụ bằng Kaolin:
Kaolin: là một chất có tính hấp phụ tốt
Kích thước hạt nhỏ hơn 1 µm do diện tích tiếp xúc giữa
hạt kaolin và chất bị hấp phụ tăng lên rất nhiều.
Trên bề mặt kaolin có rất nhiều ion OH
-
và O
2-
, những
ion này có khả năng liên kết tương đối bền vững với chất
bị hấp phụ.
Cách thực hiện:
GV giảng dạy: Ths. Nguyễn Thị Thu Sang
12
Cấu tạo của Kaolin
Trường ĐH Tôn Đức Thắng BÁO CÁO MÔN HỌC
Lớp 06SH1D CÔNG NGHỆ PROTEIN VÀ ENZYME
Cho kaolin khô ( hoặc đã ngâm cho trương nở) vào dung dịch nước dứa sau li tâm với tỉ lệ 25 mg
kaolin/ml dung dịch nước dứa.
Khuấy đều bằng máy khuấy từ, sau đó li tâm để thu tủa, tủa được gọi là bromelin-kaolin
II.2.2.2 Hấp phụ bằng Bentonit
Nguyên tắc và cách tiến hành tương tự cách hấp phụ bằng Kaolin
II.2.2.3. Phương pháp siêu lọc:
Định nghĩa:
Siêu lọc là quá trình dung dịch lỏng chảy qua màng lọc dưới mp65t áp suất để tách phân đoạn các thành
) là 7bar (tương đương 102Psi). Áp suất dòng ra nhỏ nhất (PI
2min
) là
0,5bar (tương đương 7,25Psi).
Các kiểu siêu lọc : có ba kiểu hệ thống siêu lọc
Kiểu một bước (single pas operation)
GV giảng dạy: Ths. Nguyễn Thị Thu Sang
13
Trường ĐH Tôn Đức Thắng BÁO CÁO MÔN HỌC
Lớp 06SH1D CÔNG NGHỆ PROTEIN VÀ ENZYME
Kiểu lô (batch operation): Chất lỏng được tuần hoàn qua màng đến nồng độ của dung dịch cô đặc ở
trong chậu chứa đạt được như yêu cầu.
Kiểu thể tích không đổi (constant volume operation) : Dòng chất lỏng được cung cấp liên tục để thể
tích ở trong chậu chứa không thay đổi và chất lỏng được tuần hoàn qua màng đến nồng độ dung dịch cô
đặc ở trong chậu chứa đạt được như yêu cấu.
Ưu điểm của phương pháp siêu lọc
Có thể lựa chọn màng thích hợp với từng mục đích cụ thể:
Đối với enzyme: Có thể cô đặc 25 lần mà không bị mất hoạt tính.
Quá trình siêu lọc vừa làm cô đặc, vừa tinh sạch được enzyme. Trong quá trình thực hiện nếu thêm
nước vào thì độ tinh sạch của enzyme càng cao.
Trong quá trình siêu lọc, nhiệt độ cao có thể làm mất hoạt tính của enzyme, do đó nhiệt độ thích hợp
nhất là 10 – 20
0
C. Quá trình siêu lọc có thể thực hiện tốt ngay ở nhiệt độ thấp (5
0
C).
Cách thực hiện: Sử dụng màng FS 50 PP có giá trị loại trừ (cut of) 30.000, diện tích màng 366 cm
2
.
Đầu tiên dùng phương pháp lọc để loại trừ các chất bẩn.
Vải màn Alcalicellulose Carboxyl methyl cellulose(CMC)
Ưu điểm:
Hiệu suất đạt được 0.1% so với chồi dứa tươi và có hoạt tính 24 nK/mg chế phẩm enzyme.
So với tủa (NH
4
)
2
SO
4
thì độ sạch của chế phẩm enzyme cao hơn 2 lần, thời gian nhanh và tiến hành
thuận lợi hơn.
Cách thực hiện:
CMC vải màn được tẩm ướt bằng dung dịch đệm phosphate 0.005M, pH = 6.1, sau đó cho dịch chiết
dứa vào thỉnh thoảng khuấy trộn.
Sau 2 giờ tháo ra vắt kiệt, vẩy sạch chất bẩn bám vào CMC, rửa protein bằng đệm phosphate 0.05M,
pH = 6.5.
Sau đó tiến hành phản ứng hấp phụ lần thứ nhất, cho dung dịch phản ứng hấp phụ là đệm
phosphate (0.05M, pH 7.1 và NaCl), khuấy trộn 3- 4 lần. Sau 2 giờ lấy ra vắt kiệt thì thu được dung dịch
đậm đặc chứa bromelin.
Tiếp tục phản ứng hấp phụ lần thứ hai như lần thứ nhất. Sau đó gộp cả dịch chiết lại và tủa bằng
acetone hay cồn lạnh để thu tủa enzyme.
Sấy phun thu enzyme thô:
Sấy phun là kỹ thuật chuyển từ 1 dung dịch, huyền phù hay nhũ tương thành dạng bột.
Nguyên tắc hoạt động: quá trình sấy phuntrải qua 4 bước:
* Mẫu dạng lỏng dạng phun sương, các hạt chất lỏng có đường kính 20
µ
m, diện tích bề mặt
3000cm
2
/ml.
nhiệt độ, nhưng nếu sự gia tăng nhiệt độ vượt quá mức cho phép thì protein enzyme sẽ bị biến tính ảnh
hưởng đến những mối tương tác giúp cho sự ổn định cấu trúc enzyme.
II.2.3.2. Tinh sạch bằng cách lọc qua sephadex
II.2.3.2.1. Tinh sạch bằng cách lọc qua sephadex G- 50
Sephadex G- 50 được đun cách thuỷ ở 100
0
C trong 1 giờ và nhồi vào cột (kích thướt cột 23.5x0.9cm).
Đặt một cái phễu thuỷ tinh phía trên cột, cho Sephadex từ từ vào phễu và khuấy liên tục. Các hạt sẽ
lắng xuống cột, phải khuấy từ từ đến khi nhồi xong cột, nhồi sao cho nồng độ hạt đồng nhất và không có
bọt khí. Trong quá trình nhồi cột vẫn phải xả cột trong 1 giờ, với vận tốc khoảng 1ml/7 phút.
Cách thực hiện:
Cân 100 mg enzyme thô hoà vào 1 ml dung dịch đệm sodium phosphate 0.03M, pH 7.2. Khi enzyme
đã hoà tan hoàn toàn thì cho từ từ vào cột.
Sau đó cho dung môi phân li enzyme qua cột và điều chỉnh tốc độ chảy khoảng 2ml/7phút.
Loại bỏ 5 ml đầu tiên rồi mới bắt đầu thu dịch enzyme. Dịch enzyme thu nhận được làm đông khô.
Quá trình lọc enzyme qua sephadex G-50 được tiến hàng 1 giờ trong điều kiện thấp để giảm thiểu sự
biến tính của enzyme.
II.2.3.2.2. Tinh sạch bằng cách lọc qua sephadex G- 100
Sephadex G- 100 được đun cách thuỷ ở 100
0
c trong 5 giờ, sau đó nhồi vào cột kích thước 28x1cm.
Thực hiện nhồi cột tương tự như thực hiện với sephadex G- 50.
Sau khi hoàn tất việc nhồi cột, cho dung dịch đệm sodium phosphate 0.03mg pH 7.2 chảy qua cột
khoảng 3-4 giờ để cân bằng cột.
GV giảng dạy: Ths. Nguyễn Thị Thu Sang
16
Trường ĐH Tôn Đức Thắng BÁO CÁO MÔN HỌC
Lớp 06SH1D CÔNG NGHỆ PROTEIN VÀ ENZYME
Cách thực hiện:
Cân 100 mg enzyme thô hoà vào 1 ml dung dịch đệm như trên rồi cho vào cột. Chỉnh cho tốc độ của
Việc đắp lại tại chỗ bromelin làm gia tăng tiêu hủy các mô hoại tử.
III.4. Giảm đau nhức cơ
Một ngiên cứu công bố vào năm 2002, với 30 đối tượng thử nghiệm đã thực hiện các động tác thể lực
gây đau cơ tay, so sánh giữa việc dùng bromein 900mg/ngày với dùng 1600mg ibuprofen (thuốc trị đau
nhức) cho kết quả tương đương.
III.5. Chống rối loạn tim mạch
GV giảng dạy: Ths. Nguyễn Thị Thu Sang
17
Trường ĐH Tôn Đức Thắng BÁO CÁO MÔN HỌC
Lớp 06SH1D CÔNG NGHỆ PROTEIN VÀ ENZYME
Các quan sát lâm sàng cho phép kết luận rằng việc dùng bromelin với liều 400mg – 1000mg giúp làm
giảm đau thắt ngực sau khi ngưng dùng thuốc trị đau thắt ngực. Việc kết hợp bromelin với potassium và
magnesium làm giảm tai biến nhồi máu cơ tim. Bromelin làm sạch máu giúp giải thích tác động chống
kết tập tiểu cầu. Một nghiên cứu khác trên 73 người tình nguyện bị viêm tĩnh mạch cấp tính thì thấy việc
sử dụng bromelin với thuốc kháng viêm giảm đau giúp làm giảm các triệu chứng của bệnh trên hệ tĩnh
mạch.
III.6. Các nghiên cứu khác
Ngoài ra bromelin còn được dùng để điều trị sung huyết đường hô hấp, cải thiện việc tiêu hóa và hấp
thu một số thuốc. Bromelin dùng cho các bệnh nhân bị rối loạn tiêu hóa do cắt bỏ tụy tạng hoặc thiếu
enzyme tuyến tụy. Từ đó người ta nghĩ đến việc dùng bromelin để gia tăng hấp thu hoạt chất thuốc như
glucosamin, kháng sinh, thuốc an thần làm tăng thời gian tác dụng của thuốc.
Ngoài ra bromelin còn tác động lên hệ miễn dịch, nên có thể giúp gia tăng khả năng phòng chống
một số bệnh do hệ tự miễn yếu kém của con người vì lão hóa cũng như chống lại sự thành lập các khối
u. Các chế phẩm Bromelin còn có tác dụng làm vết thương mau lành dưới dạng kem bôi.
Việc ăn tráng miệng bằng thơm sau các bữa ăn nặng sẽ giúp mau “nhẹ bụng”.
Một số sản phẩm bromelin trên thị trường
GV giảng dạy: Ths. Nguyễn Thị Thu Sang
18