NỘI DUNG VÀ CẤU TRÚC CỦA TRƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA HOÁ HỌC
Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG VIỆT NAM
Trích: Phương pháp dạy học Hóa học – Nguyễn Cương
Mục tiêu:
1. Nội dung: SV nắm vững được hệ thống kiến thức về những nguyên tắc cơ bản
trong xây dựng chương trình Hoá học ở trường PT, về nội dung và cấu trúc của
chương trình và sách giáo khoa Hoá học trường THCS và trường THPT ở Việt Nam.
2. Phương pháp: Rèn luyện cho SV năng lực vận dụng lí luận khoa học để phân
tích thực tiễn và bước đầu tập dượt phê phán, cải tạo thực tiễn, nâng cao chất
lượng khoa học của nội dung dạy học Hoá học.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay của PPDHHH là nghiên cứu
và xây dựng nội dung dậy học Hoá học cho trường PT sao cho phù hợp với mục
tiêu đào tạo, phù hợp với sự phát triển khoa học và tình hình đất nước.
Nội dung chương trình và sách giáo khoa Hoá học ở trường PT là thành tố quan
trọng nhất của quá trình dạy học Hoá học. Sự hiểu biết các nguyên tắc lựa chọn
đúng và làm sáng tỏ tài liệu giáo khoa trong các bài lên lớp, xác định các phương
pháp, phương tiện, hình thức tổ chức hoạt động học tập của học sinh một cách
phù hợp.
§1. NHỮNG NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN NỘI DUNG VÀ CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH,
SÁCH GIÁO KHOA HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
Việc lựa chọn nội dung và cấu trúc chương trình Hoá học ở trường PT được dựa
trên các nguyên tắc cơ bản sau đây: bảo đảm tính khoa học, tính tư tưởng, tính
sư phạm, tính thực tiễn và giáo dục kĩ thuật tổng hợp, tính đặc trưng bộ môn.
I. NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM TÍNH KHOA HỌC (bao gồm cả tính cơ bản và tính hiện
đại).
Đảm bảo tính khoa học là nguyên tắc chủ yếu của việc lựa chọn nội dung. Theo
nguyên tắc này, bảo đảm tính cơ bản là phải đưa vào chương trình và sách là
những kiến thức cơ bản về Hoá học. Bảo đảm tính hiện đại của chương trình và
sách tức là phải đưa trình độ của môn học đến gần trình độ của khoa học, sử
dụng trong môn học những ý tưởng và học thuyết khoa học chủ yếu, làm sáng tỏ
trong đó những phương pháp nhận thức Hoá học và các quy luật của nó, đưa vào
khỏi điều chủ yếu; thiếu sự kiện sẽ dẫn đến tính hình thức, làm sai lạc bức tranh
hoá học của thiên nhiên.
c. Nguyên tắc tương quan hợp lí giữa kiến thức lí thuyết và kĩ năng (kĩ năng làm
việc khoa học, kĩ năng xử lí và kĩ năng thực hành thí nghiệm) giúp hình thành
năng lực cho học sinh.
II. NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM TÍNH TƯ TƯỞNG
Nội dung môn học phải mang tính giáo dục, phải góp phần thực hiện mục tiêu chủ
yếu của trường PT.
Nội dung sách giáo khoa Hoá học PT có chứa dựng các sự kiện và các quy luật
duy vật biện chứng của sự phát triển của sự tự nhiên và các tư liệu phản ánh
chính sách của Đảng và Nhà nước về cải tạo tự nhiên. Tính khoa học của nội dung
môn học gắn liền với tính tư tưởng. Tính tư tưởng xã hội chủ nghĩa của nội dung
môn học được thể hiện ở việc làm sáng tỏ một cách liên tục và cụ thể về các tư
tưởng có tính thế giới quan, các chuẩn mực đạo đức xã hội chủ nghĩa của người
lao động ở thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, các chính sách của Đảng và Nhà
nước trong lĩch vực Hoá học và công nghệ hoá học, trong việc hoá học hoá nền
kinh tế quốc dân, trong lĩnh vực phát triển khoa học và kĩ thuật.
Nguyên tắc này cũng đòi hỏi phải trình bày những điều không đúng của các quan
điểm duy tâm về thiên nhiên và xã hội, vạch trần những chính sách phản nhân
dân của những nhà nước đế đã sử dụng vũ khí hoá học, vũ khí hạt nhân, vũ khí vi
trùng chống lại nhân dân; chỉ rõ sự nguy hiểm tuyên truyền dùng ma tuý đầu độc
thanh niên của các thế lực phản động.
Yêu cầu nâng cao mức độ tư tưởng chính trị của nội dung môn học đòi hỏi phải
đưa vào sách giáo khoa những quan điểm của học thuyết Mác-Lênin, tất nhiên ở
trình độ phù hợp với sự hiểu biết của học sinh, những trích đoạn từ các văn kiện
của Đảng và Nhà nước hoặc từ những tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác-
Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
III. NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM TÍNH THỰC TIỄN VÀ GIÁO DỤC KĨ THUẬT TỔNG HỢP
Nguyên tắc này xác định mối liên hệ thiết thực, chặt chẽ của tài liệu giáo khoa và
cuộc sống, với thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta và với việc chuẩn bị
quả sử dụng tích cực lí thuyết vào thực tiễn.
Hầu hết tất cả các lí thuyết chủ yếu được đưa vào phần đầu chương trình. Thực tế
dạy học đã chỉ ra rằng việc đưa các lí thuyết lên gần đầu chương trình và việc
tăng cường các vấn đề lí thuyết trong môn học không gây khó khăn mà trái lại,
làm dễ dàng việc nghiên cứu giáo trình vì nó tăng cường được sự giải thích và
khái quát hoá các sự kiện và khái niệm. Nguyên tắc phân tán các khó khăn đòi
hỏi phải xếp xen kẽ những vấn đề lí thuyết với các tài liệu thực nghiệm, xen kẽ
vấn đề trừu tượng với vấn đề cụ thể. Việc tiếp thu những khái niệm trừu tượng là
khó khăn và phức tạp nhất, nhất là nếu chúng ít được củng cố bằng thí nghiệm và
các phương tiện trực quan. Chẳng hạn, các khái niệm về nguyên tủ, phân tử,
electron, trạng thái của electron trong nguyên tủ, hoá trị, số oxi hoá v v
Cần lưu ý rằng khả năng nhận thức của học sinh ngày nay đã được tăng lên rõ
rệt. Vì vậy sự nghiên cứu thuyết electron về cấu tạo nguyên tủ đã được đưa vào
đầu lớp 10.
Nguyên tắc phân tán các khó khăn có xem xét đến sự vận động của kiến thức từ
đơn giản về mặt nhận thức đến phức tạp, từ quen biết gần gũi đến ít quen biết
hơn, từ riêng lẻ, cụ thể đến khái quát hơn và sâu sắc hơn. Tài liệu học tập quá
phức tạp và không vừa sức sẽ làm giảm hứng thú đối với Hoá học, sinh ra tình
trạng học kém. Nhưng tài liệu giáo khoa quá dễ dàng cũng nguy hiểm, nó gây ra
buồn chán và lười biếng của trí tuệ. Sự dạy học cũng cần tiến hành với sự phức
tạp tăng dần.
Nguyên tắc phân tán các kho khăn còn xét đến mối liên hệ với điều đã học trước
đây, thiết lập những mối liên hệ liên bộ môn (giữa Hoá học với các môn học khác)
và nội bộ môn (giữa các phân môn Hoá học với nhau), khái quát hoá đúng lúc và
hệ thống hoá kiến thức.
2. Nguyên tắc đường thẳng và nguyên tắc đồng tâm.
Cấu trúc chương trình Hoá học PT dựa đồng thời vào nguyên tắc đường thẳng và
nguyên tắc đồng tâm. Đó là nhân tố bảo đảm xây dựng được các kiến thức có hệ
thống, có liên hệ lẫn nhau, phân chia đều tài liệu giáo khoa phức tạp. Kiểu cấu
trúc này xét đến việc mở rộng liên tục, có theo giai đoạn và làm phức tạp dần dần
tính đặc thù của môn Hoá học. Chương trình Hoá học mới THCS sẽ áp dụng đại
trà từ năm học 2004 – 2005 được xây dựng dựa trên các nguyên tắc đảm bảo
tính cơ bản, khoa học hiện đại, thiết thực và đặc trưng bộ môn.
Chương trình Hoá học mới THPT có phân ban, sẽ áp dụng đại trà từ năm học 2006
– 2007, được xây dựng dựa trên các nguyên tắc đảm bảo tính phổ thông, cơ bản,
có hệ thống, tính khoa học, hiện đại, tính thực tiễn và đặc thù của bộ môn Hoá
học.
§2. NHỮNG CƠ SỞ CỦA HOÁ HỌC LÀ NỘI DUNG CHỦ YẾU CỦA CHƯƠNG TRÌNH
VÀ SÁCH GIÁO KHOA HOÁ HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG
I. NHỮNG KIẾN THỨC CƠ BẢN VỀ HOÁ HỌC
1. Thế nào là kiến thức cơ bản?
Chương trình Hoá học bao giờ cũng phải là hệ thống những kiến thức cơ bản về
Hoá học, đã được lựa chọn căn cứ vào mục tiêu đào tạo của nhà trường, vào
những đặc điểm của khoa học Hoá học và những quy luật sư phạm. Chương trình
Hoá học không thể thâu tóm được tất cả các kiến thức Hoá học của thời đại, mà
chỉ có thể chứa đựng những hiểu biết bản chất nhất, mấu chốt nhất, có thể dùng
làm nền tảng để người học có khả năng tiếp tục đi sâu vào ngành khoa học này,
cũng như vào vào các ngành có liên quan. Vì thế có thể nói, kiến thức cơ bản về
Hoá học là hệ thống những hiểu biết quan trọng sống còn nhất về Hoá học mà
không có chúng thì không thể hiểu và học Hoá học được.
Kiến thức cơ bản nhất là những kiến thức mà học sinh buộc phải biết. Bên cạnh
đó còn có những kiến thức cơ bản cần thiết và có những kiến thức có thể biết.
Những kiến thức cơ bản nhất thường giúp học sinh suy ra được những kiến thức
khác và chính nhứng kiến thức cơ bản khác lại giúp đào sâu thêm kiến thức cơ
bản nhất.
Chương trình Hoá học PT không chỉ bao gồm hệ thống những kiến thức cơ bản
nhất mà còn có những kiến thức hỗ trợ về Hoá học và cả về các môn học khác,
nhằm giúp học sinh hiểu bíêt được hệ thống kiến thức cơ bản về Hoá học.
2. Những kiến thức cơ bản nhất về Hoá học.
Đó là những kiến thức Hoá học mà học sinh buộc phải biết và hiểu. Hệ thống
i. Hệ thống kiến thức có tính chất thế giới quan bao gồm những khái niệm về bức
tranh hoá học của thiên nhiên, về ý nghĩa nhận thức và thực tiễn của các lí thuyết
và định luật, đối với các vấn đề vật chất và xã hội, những kết luận có tính chất
thế giới quan.
Hệ thống những kiến thức của chương trình Hoá học PT có thể thay đổi, thêm bớt
về nội dung, khối lượng cũng như trình tự sắp xếp, tuỳ theo mục đích giáo dục và
thực tiễn của từng nước.
II. TINH THẦN CHỦ ĐẠO VỀ MẶT KHOA HỌC CỦA CHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC PHỔ
THÔNG
Trong chương trình Hoá học của trường PT Việt Nam, cấu tạo nguyên tử, định luật
tuần hoàn và hệ thống tuần hoàn là cơ sở lí thuyết chủ đạo của toàn bộ hệ thống
kiến thức cơ bản về Hoá học.
Chương trình Hoá học của phần lớn các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam,
đã chọn cơ sở của việc cấu tạo chương trình Hoá học PT là quan điềm cấu trúc.
Theo quan điểm này, hệ thống các kiến thức về chất, sự phụ thuộc tính chất của
các chất vào cấu tạo của chúng được coi là chủ yếu. Quan điểm này đã trở thành
tinh thần chủ đạo của việc làm sáng tỏ các tài liệu giáo khoa trong chương trình
Hoá học vô cơ và Hoá học hữu cơ ở trường PT.
III. NGUYÊN TẮC LỰA CHỌN HỆ THỐNG KIẾN THỨC VỀ CÁC CHẤT VÀ VỀ CÁC
PHẢN ỨNG HOÁ HỌC
Chương trình Hoá học PT bao gồm hệ thống kiến thức cơ bản về các chất và hệ
thống kiến thức cơ bản về phản ứng hoá học. Các kiến thức này được lựa chọn
phù hợp với những mục đích dạy học và những nguyên tắc cấu tạo chương trình
Hoá học trường PT.
1. Hệ thống kiến thức về các chất.
Do thời gian và khả năng nhận thức của học sinh bị hạn chế nên chỉ có thể lựa
chọn một số nhỏ các chất đưa vào chương trình PT để nghiên cứu. Căn cứ để lựa
chọn là dựa vào ý nghĩa về mặt nhận thức và thực tiễn của chúng. Theo tiêu
chuẩn này, sẽ chọn các chất sau đây:
a. Các chất có ý nghĩa to lớn về mặt nhận thức. Dựa trên các chất này sẽ hình
thiên tuần hoàn tính chất các nguyên tố hoá học.
Ngoài những nguyên tố đặc trưng, còn cần đưa vào chương trình trường PT các
nguyên tố thuộc các phân nhóm chính của bảng tuần hoàn các nguyên tố hoá học
và chú ý tới những tính chất của chúng, những quy luật biến thiên các tính chất
đó ở trong nhóm. Không cần nghiên cứu sâu các nguyên tố này, vì có thể dùng
phép so sánh với các nguyên tố đặc trưng đã được nghiên cứu tỉ mỉ để giúp học
sinh hiểu được tính chất các nguyên tố tương tự (trong cùng phân nhóm chính) và
quy luật biến thiên của những tính chất này trong giới hạn của các nhóm tự
nhiên.
Khi hình thành khái niệm về các nhóm tự nhiên và quy luật biến thiên tính chất
các nguyên tố và hợp chất của chúng trong các nhóm đó, không cần nghiên cứu
kĩ tất cả các phân nhóm chính của hệ thống tuần hoàn mà chỉ nghiên cứu tính
chất một số nguyên tố hệ thống tuần hoàn mà chỉ nghiên cứu tính chất một số
nguyên tố các phân nhóm chính VII và I. Trên cơ sở những ví dụ về các nguyên
tố của những phân nhóm này, học sinh thấy được quy luật biến thiên tính chất
các nguyên tố hoá học nằm trong các nhóm tự nhiên.
Với các phân nhóm chính thuộc nhóm VI và II, V và III, có thể trình bày gọn đủ
để chứng minh rằng quy luật biến thiên tính chất của các nguyên tố trong các
phân nhóm này cũng tương tự như trong phân nhóm chính thuộc hai nhóm VII và
I. Riêng với canxi và nhôm cùng các hợp chất của chúng, do ý nghĩa quan trọng
của chúng trong kĩ thuật và đời sống, có thể nghiên cứu kĩ hơn.
Sắt thuộc phân nhóm phụ nhóm VIII cũng cần được nghiên cứu kĩ, vì nguyên tố
này có tầm quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân.
Đối với những nguyên tố thuộc các phân nhóm phụ, không yêu cầu nghiên cứu tỉ
mỉ. Về kẽm, đồng, bạc, vàng, platin, crôm, mângn, vonfam và những kim loại
khác có ý nghĩa quan trọng trong đời sống, chỉ cần cho học sinh học nghiên cứu
tính chất chung của kim loại. Về uran và radi, có thể giới thiệu khi nghiên cứu sự
phóng xạ và cấu tạo nguyên tử.
Muốn xác định được khối lượng và chiều sâu của việc nghiên cứu các nguyên tố
hoá học, còn cần phải xác định xem cần chọn những hợp chất nào của các
hiện tiếp tục khi nghiên cứu các phi kim, kim loại, hợp chất hữu cơ. Ở đây, kiến
thức của học sinh về phản ứng hoá học được làm giàu thêm bằng những khái
niệm về tốc độ phản ứng hoá học, xúc tác, cân bằng hoá học.
Thuyết điện li là trình độ cao hơn của sự nhận thức về các chất và phản ứng hoá
học. Dựa trên thuyết này cần khái quát hoá các tài liệu về các loại hợp chất vô cơ,
về phản ứng hoá học xảy ra trong dung dịch nước, làm sáng tỏ những quy luật
của chúng và bản chất của các phản ứng trao đổi và phản ứng oxi hoá – khử.
§3. CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH HOÁ HỌC TRƯỜNG PHỔ THÔNG
I. VỊ TRÍ CỦA ĐỊNH LUẬT VÀ BẢNG TUẦN HOÀN, CẤU TẠO NGUYÊN TỬ VÀ LIÊN
KẾT HOÁ HỌC
Xác định vị trí của việc nghiên cứu định luật tuần hoàn, bảng tuần hoàn và cấu
tạo nguyên tử trong chương trình Hoá học PT là một vấn đề then chốt.
1. Vị trí hợp lí của định luật tuần hoàn và hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hoá
học, cấu tạo nguyên tử và liên kết hoá học, theo kinh nghiệm thực tiễn nhiều
năm, là được đưa vào khoảng gần đến giữa chương trình. Trước đó học sinh đã
được tiếp thu một số kiến thức cơ sở để chuẩn bị. Khi học định luật tuần hoàn,
bảng tuần hoàn và cấu tạo nguyên tử, học sinh được hệ thống hoá những tài liệu
đã tích luỹ. Sau đó học sinh lại có dịp nghiên cứu các tài liệu khác dưới ánh sáng
của những lí thuyết cơ bản vừa học. Như vậy là logic và biện chứng. Có như thế,
định luật tuần hoàn, cấu tạo nguyên tử và liên kết hóa học mới thực sự là mục
đích khoa học và phương tiện sư phạm trong việc nghiên cứu Hoá học ở trường
PT.
2. Trong trực tiễn đã thấy thể hiện ba quan điểm khác trong việc sắp xếp vị trí
của định luật tuần hoàn và cấu tạo nguyên tử trong chương trình Hoá học trường
PT.
Quan điểm 1: Việc nghiên cứu định luật tuần hoàn, cấu tạo nguyên tử được đưa
vào cuối chương trình Hoá học. Trước hết nghiên cứu các nguyên tố hoá học – đó
là những sự kiện cụ thể – rồi kết thúc bằng lí thuyết, đó là định luật tuần hoàn,
bảng tuần hoàn và thuyết cấu tạo nguyên tử. Quan điểm này làm giảm giá trị của
định luật tuần hoàn. Định luật này không được sử dụng nhiều để soi sáng cho việc
(nhóm thứ 3).
class="bi x0 y3c w3 h4"
class="bi x0 y3d w3 h5"
Chương trình Hoá học các lớp quy định rõ mục tiêu của việc học bộ môn, những
nội dung cơ bản và các chuẩn kiến thức đối với mỗi lớp mà người giáo viên phải
tìm mọi cách cho học sinh nắm vững.
Sách giáo khoa Hoá học các lớp trình bày nội dung dạy và học các chủ đề Hoá học
của mỗi lớp. Người giáo viên phải tổ chức, chỉ đạo việc học tập của học sinh để
các em nắm vững được những nội dung cơ bản, quan trọng. Sách giáo viên (sách
hướng dẫn) sẽ giúp giáo viên xác định đúng các nội dung cơ bản, quan trọng, bắt
buộc đối với mọi học sinh và phương pháp dạy- học các nội dung tương ứng.
Sách bài tập cho học sinh và các tài liệu tham khảo (như tủ sách “Để dạy tốt, học
tốt bộ môn…”) sẽ giúp các giáo viên có thêm tư liệu để bồi dưỡng học sinh khá,
giỏi hoặc cung cấp những tư liệu thực tiễn hoặc tư liệu về địa phương có liên quan
đến bộ môn giúp cho việc bồi dưỡng năng lực ứng dụng kiến thức Hoá học vào
thực tiễn đời sống sản xuất.
Cần rèn luyện thói quen cho học sinh biết sử dụng phối hợp sách giáo khoa, sách
bài tập và tài liệu tham khảo, và tăng dần yêu cầu đó theo các lớp từ thấp đến
cao.
TÓM TẮT
1. Những nguyên tắc cơ bản trong xây dựng chương trình Hoá học trường phổ
thông Việt Nam là bảo đảm tính khoa học, tính tư tưởng, tính thực tiễn và giáo
dục kĩ thuật tổng hợp, tính sư phạm, tính đặc trưng bộ môn Hoá học.
2. Những kiến thức cơ bản nhất về Hoá học cần đưa vào chương trình Hoá học
trường PT là hệ thống các kiến thức về nguyên tố hoá học, phản ứng hoá học, cấu
tạo các chất và các định luật Hoá học, các hệ phân tán, về các phương pháp
nghiên cứu hoá học và phương pháp học tập Hoá học, các kiến thức có tính chất
thế giới quan.
3. Nộidung, cấu trúc chương trình và sách giáo khoa Hoá học trường THCS hiện
hành (xem mục lục sách giáo khoa Hoá học lớp 8, 9).