Hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các ngân hàng thương mại Việt Nam; thực trạng và một số giải pháp phòng ngừa rủi ro - Pdf 13

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Đề tài:
Hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng
thƣơng mại Việt nam: Thực trạng và một số giải
pháp phòng ngừa rủi ro

Sinh viên thực hiện : Hoàng Tú Anh
Lớp : Anh 1
Khoá : 45
Giáo viên hướng dẫn : TS. Đặng Thị Nhàn Hà Nội, tháng 05/2010
i
LỜI CẢM ƠN

Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Tài Chính Ngân Hàng với đề tài
“Hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng thƣơng mại Việt nam:
Thực trạng và một số giải pháp phòng ngừa rủi ro” là thành quả đúc kết từ
những kiến thức đã thu nhận được sau 4 năm học tập tại khoa Tài Chính Ngân

2.2.3. Các nghiệp vụ cơ bản trong kinh doanh ngoại hối. 11
2.2.4. Vai trò của hoạt động kinh doanh ngoại hối đối với các Ngân hàng
thương mại. 15
3. Các rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng thƣơng mại.
16
iii
3.1. Một số rủi ro thường gặp trong kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng
thương mại. 16
3.1.1. Rủi ro tỷ giá. 16
3.1.2. Rủi ro lãi suất 16
3.1.3. Rủi ro do môi trường thông tin 17
3.1.4. Rủi ro hoạt động 17
3.1.5. Rủi ro đạo đức. 17
3.2. Nguyên nhân phát sinh rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các Ngân
hàng thương mại 18
3.3. Một số biện pháp phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngoại hối tại các
Ngân hàng thương mại. 20
4. Một số bài học kinh nghiệm về phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh
ngoại hối 22
CHƢƠNG II. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ RỦI RO TRONG
KINH DOANH NGOẠI HỐI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
VIỆT NAM 26
1. Thực trạng hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng thƣơng
mại Việt Nam 26
1.1. Các yếu tố tác động tới hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các Ngân
hàng thương mại Việt Nam. 26
1.1.1. Yếu tố khách quan 26
1.1.2. Yếu tố chủ quan 30
1.2. Đánh giá chung hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng
thương mại Việt nam. 32

2.5. Nhóm giải pháp về con người 63
3. Các kiến nghị. 64
3.1. Kiến nghị đối với Chính phủ và các Bộ ngành liên quan 64
3.2. Kiến nghị đối với NHNN 65
KẾT LUẬN 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
PHỤ LỤC 73

1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACB
: Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
AUD
: Đồng đôla Australia
CAD
: Đồng đôla Canađa
CHF
: Đồng Frăng Thụy Sỹ
DTT
:Doanh thu thuần
EUR
: Đồng tiền chung Châu Âu euro
Eximbank
: Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập khẩu Việt Nam
GBP
: Đồng bảng Anh
HDK
: Đồng đôla HồngKông
HĐDV
: Hoạt động dịch vụ

Bảng 2.3: Tỷ lệ tăng trưởng các giao dịch ngoại tệ tại các NHTM 39
Bảng 2.4: Doanh thu từ hoạt động KDNH của một số NHTM Việt nam 40
Bảng 2.5. Các khoản doanh thu chính của Saccombank từ 2007 - 2009 42
B ảng 2.6: Bảng tỷ trọng doanh số mua bán theo từng loại ngoại tệ tại
Techcombank giai đoạn 2007 – 2009 44
Biểu 2.1: Các khoản doanh thu thuần của Techcombank từ năm 2006 - 2009
43
3
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh doanh ngoại hối là một trong những hoạt động quan trọng của
các Ngân hàng thương mại. Ngoài vai trò hỗ trợ các hoạt động như thanh toán
quốc tế, đầu tư nước ngoài, kinh doanh ngoại hối còn là hoạt động có thể đem
lại nguồn lợi nhuận khổng lồ cho các Ngân hàng thương mại, song ngược lại
cũng là hoạt động tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay,
khi thị trường tài chính quốc tế đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn thì
để có được những nguồn thu lớn từ hoạt động kinh doanh ngoại hối đòi hỏi
các ngân hàng cần phải có những giải pháp hữu hiệu để thúc đẩy phát triển
các nghiệp vụ đồng thời nâng cao công tác quản trị rủi ro đối với hoạt động
này.
Trong những năm qua, hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các Ngân
hàng thương mại Việt Nam đã từng bước phát triển cả về quy mô nghiệp vụ
cũng như đa dạng hóa các sản phẩm kinh doanh. Bên cạnh những kết quả đã
đạt được, hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng thương mại Việt
Nam cũng còn tồn tại nhiều mặt hạn chế về kỹ năng thực hiện nghiệp vụ, cách
thức tổ chức hoạt động quản lý kinh doanh cũng như công tác quản trị rủi ro.
Trước tình hình đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề “Hoạt động kinh
doanh ngoại hối tại các Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam: Thực trạng và
một số giải pháp phòng ngừa rủi ro” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt
nghiệp.

5
CHƢƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ KINH DOANH
NGOẠI HỐI TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI

1. Tổng quan về thị trƣờng ngoại hối
1.1. Khái niệm về thị trường ngoại hối
Quá trình toàn cầu hóa kinh tế với sự luân chuyển hàng hóa và các
nguồn lực giữa các quốc gia đã làm phát sinh nhu cầu mua bán (chuyển đổi)
các đồng tiền khác nhau trên thị trường. Hoạt động mua bán các đồng tiền
khác nhau đó được diễn ra trên thị trường, và thị trường này gọi là thị trường
ngoại hối.
Hiểu một cách khái quát thì thị trường ngoại hối là bất cứ đâu diễn ra
việc mua, bán các đồng tiền khác nhau.
Trong thực tế, do các hoạt động mua bán tiền tệ xảy ra chủ yếu là giữa
các ngân hàng nên theo nghĩa hẹp, thị trường ngoại hối được định nghĩa là nơi
mua bán các đồng tiền khác nhau giữa các ngân hàng, tức là thị trường liên
ngân hàng (Interbank).
Như vậy, với cách hiểu phổ biến nêu trên, đối tượng mua bán trên thị
trường ngoại hối chỉ bao gồm các đồng tiền khác nhau hay là các ngoại tệ mà
không bao gồm các giấy tờ có giá ghi bằng ngoại tệ hay vàng tiêu chuẩn quốc
tế. Trong phạm vi khóa luận này, khi đề cập đến đối tượng mua bán trên thị
trường ngoại hối tác giả cũng chỉ giới hạn ở các đồng tiền khác nhau đó.
1.2. Đặc trưng của thị trường ngoại hối
TTNH có những đặc điểm sau:
- TTNH hay còn được gọi là thị trường không gian chính là do tính
chất không giới hạn về không gian của thị trường này. Đây cũng là sự khác
6
biệt của TTNH so với các thị trường tài chính khác trên thế giới. Cứ ở đâu
diễn ra hoạt động mua bán các đồng tiền thì ở đó có thị trường ngoại hối.
Ngày nay, các phương tiện thông tin hiện đại như điện thoại, telex, fax,

các thành viên tham gia thị trường có thể phân loại các thành viên như sau:
- Các Ngân hàng thương mại:
Các Ngân hàng thương mại tham gia vào thị trường này với vai trò:
Thứ nhất là làm cho việc giao dịch giữa hai bên trở nên dễ dàng hơn. Trong
trường hợp này, các NHTM đóng vai trò là người cung cấp dịch vụ cho khách
hàng thông qua việc mua bán hộ cho nhóm khách hàng mua bán lẻ. Khi đó,
các NHTM sẽ thu về một khoản phí từ cung cấp dịch vụ mà không chịu bất
kỳ một rủi ro nào do hoạt động mua bán hộ gây ra. Thứ hai là ngân hàng tiến
hành đầu cơ bằng cách mua bán tiền tệ, tức là kinh doanh cho chính mình.
Trong trường hợp này, các NHTM phải chịu rủi ro do các hoạt động mua bán
đó gây ra.
- Các Ngân hàng Trung ương:
Các NHTW của các quốc gia tham gia vào thị trường ngoại hối để
đảm bảo lợi nhuận tài chính của chính quốc gia họ. Khi Ngân hàng Trung
ương tham gia mua hoặc bán tiền tệ thì mục đích là để giữ vững giá trị đồng
tiền, tác động lên tỷ giá theo hướng mà họ cho là có lợi cho đồng tiền nước
họ.
- Những nhà môi giới ngoại hối:
8
Các nhà môi giới tham gia thị trường với vai trò là người cung cấp
dịch vụ và hưởng hoa hồng hoặc phí dịch vụ chứ không mua bán ngoại hối
cho chính mình. Do vậy mà họ không phải chịu rủi ro do hoạt động môi giới
của mình gây ra.
- Các thành viên khác như các công ty đa quốc gia, các công ty xuất
nhập khẩu, các cá nhân. Các thành viên này tham gia vào thị trường có thể với
mục đích đầu cơ kiếm lời hoặc phục vụ cho hoạt động mậu dịch quốc tế hoặc
để đầu tư hay phục vụ cho những mục đích cá nhân khác.
2. Tổng quan về hoạt động kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng
thƣơng mại.
2.1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại

khác thu khác theo lệnh của họ.
Việc ngân hàng thương mại thực hiện chức năng trung gian thanh toán
có ý nghĩa rất to lớn đối với toàn bộ nền kinh tế. Với chức năng này, các ngân
hàng thương mại cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện
lợi như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín
dụng,…Nhờ có chức năng này, các NHTM đã góp phần thúc đẩy lưu thông
hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tố độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần
phát triển kinh tế.
- Chức năng tạo ra tiền ngân hàng trong hệ thống ngân hàng hai cấp:
10
Xuất phát từ chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian
thanh toán, từ những khoản tiền huy động được ban đầu, các NHTM sử dụng
số vốn huy động được để cho vay, số tiền vay lại được khách hàng sử dụng để
mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản thanh toán
tiền gửi của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được
họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ Với chức năng này, hệ
thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp
ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
2.2. Tổng quan về hoạt động kinh doanh ngoại hối
2.2.1. Khái niệm về hoạt động kinh doanh ngoại hối
Kinh doanh ngoại hối là việc mua bán các loại ngoại tệ khác nhau
nhằm đảm bảo cân đối các nhu cầu về ngoại tệ cho ngân hàng và tìm cách thu
lợi nhuận thông qua chênh lệch về tỷ giá và lãi suất giữa các đồng tiền khác
nhau.
Theo pháp lệnh ngoại hối Việt Nam năm 2005, ngoại hối bao gồm:
Đồng tiền của quốc gia khác hoặc đồng tiền chung châu Âu và đồng tiền
chung khác được sử dụng trong thanh toán quốc tế và khu vực (sau đây gọi là
ngoại tệ); Phương tiện thanh toán bằng ngoại tệ, gồm séc, thẻ thanh toán, hối
phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ và các phương tiện thanh toán khác; Các loại
giấy tờ có giá bằng ngoại tệ, gồm trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ

về những biến động của thị trường để đưa ra những quyết định đúng đắn trong
kinh doanh.
2.2.3. Các nghiệp vụ cơ bản trong kinh doanh ngoại hối.
- Giao dịch ngoại hối giao ngay
12
Giao dịch ngoại hối giao ngay là hoạt động mua bán các đồng tiền
khác nhau, trong đó ngày thanh toán có giá trị trong vòng 2 ngày làm việc tiếp
theo. Trong thời hạn 2 ngày này, các bên tiến hành kiểm tra, hoàn tất giấy tờ
thủ tục thanh toán. Loại giao dịch này thực hiện trên cơ sở tỷ giá giao ngay và
nơi diễn ra được gọi là thị trường ngoại hối giao ngay.
Ví dụ: NHTM X mua 100.000USD vào ngày thứ 2 (1/3/2010) thì sau
đó 2 ngày, tức là ngày thứ 4 (3/3/2010), NHTM X sẽ nhận được giấy báo Có
trên tài khoản số đôla đó.
Đối với những nước nghỉ 2 ngày cuối tuần thì ngày giao nhận ngoại tệ
sẽ được tính vào ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó.
- Giao dịch ngoại hối kỳ hạn
Giao dịch kỳ hạn được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho ngân
hàng tại một thời điểm đã xác định trong tương lai và còn nhằm mục đích
phòng ngừa rủi ro trước những biến động về tỷ giá. Đây là nghiệp vụ kinh
doanh trong đó các yếu tố của giao dịch như tỷ giá, số tiền, ngày giao dịch
được xác định ở thời điểm hiện tại còn việc thực hiện giao dịch lại ở một thời
điểm xác định trong tương lai.
Đối với loại nghiệp vụ này, cách xác định tỷ giá chủ yếu dựa vào 2
yếu tố trên thị trường, đó là:
 Tỷ giá giao dịch
 Lãi suất thị trường của 2 đồng tiền liên quan
Xác định tỷ giá kỳ hạn theo công thức:
Tỷ giá kỳ hạn = Tỷ giá giao ngay + Điểm kỳ hạn
13
Điểm kỳ hạn

động thanh lý hợp đồng với nhà kinh doanh này.
Đối với giao dịch tương lai, khối lượng các loại ngoại tệ giao dịch
được quy định cụ thể, ví dụ đối với GBP là 5.000.000, đối với EUR là
10.000.000…
14
Cũng giống như tỷ giá kỳ han, tỷ giá trong các hợp đồng tương lai
chính là tỷ giá giao ngay dự đoán tại thời điểm hợp đồng đáo hạn.
- Giao dịch hoán đổi ngoại hối (Swap).
Giao dịch hoán đổi ngoại tệ là một công cụ hữu hiệu cho các nhà đầu
tư, những người đi vay ngoại tệ và các Ngân hàng trong việc phòng ngừa rủi
ro tỷ giá hối đoái hoặc kinh doanh thu lợi nhuận.
Giao dịch hoán đổi ngoại hối là việc đồng thời mua vào và bán ra một
đồng tiền nhất định, trong đó ngày giá trị mua vào và ngày giá trị bán ra là
khác nhau, tỷ giá mua vào và tỷ giá bán ra được xác định tại thời điểm ký kết
hợp đồng. Do số lượng tiền mua vào và bán ra là bằng nhau nên giao dịch này
không tạo ra trạng thái ngoại hối ròng cho các ngân hàng tham gia giao dịch,
do đó mà tránh được rủi ro tỷ giá.
Đối với giao dịch hoán đổi ngoại tệ, tỷ giá hoán đổi phản ánh điểm kỳ
hạn hay điểm hoán đổi mà tại đó ngân hàng yết giá sẵn sàng hoán đổi hai
đồng tiền nhất định thông qua giao dịch giao ngay và giao dịch kỳ hạn. Do đó
xét về bản chất thì:
Tỉ giá hoán đổi = Điểm hoán đổi = Điểm kỳ hạn
Tỷ giá hoán đổi chính là điểm kỳ hạn nên có thể viết:
Tỷ giá hoán đổi = Tỷ giá giao ngay - Tỷ giá kỳ hạn
Việc xác định tỷ giá giao ngay trong giao dịch Swap được các đối tác
tham gia thoả thuận. Trong thực tế ngân hàng yết giá có thể áp dụng tỷ giá
giao ngay khác nhau trong hợp đồng. Tuy nhiên, để giảm chi phí và tạo điều
kiện thuận lợi trong giao dịch các bên thường chọn tỷ giá giao ngay trong
giao dịch Swap là tỷ giá trung bình giữa tỷ giá mua và tỷ giá bán.
- Giao dịch quyền chọn ngoại tệ

3.1. Một số rủi ro thường gặp trong kinh doanh ngoại hối tại các Ngân hàng
thương mại.
3.1.1. Rủi ro tỷ giá.
Rủi ro tỷ giá là rủi ro mà NHTM có thể bị thiệt hại do sự biến động
của tỷ giá hối đoái khi NHTM này đang nắm giữ một lượng tiền tệ nhất định.
Rủi ro tỷ giá xuất hiện khi ngân hàng có trạng thái của một ngoại tệ
nào đó dư thừa hoặc thiếu hụt. Khi ngoại tệ này lên giá thì trạng thái ngoại tệ
dư thừa sẽ có lợi, còn trạng thái ngoại tệ thiếu hụt sẽ bị lỗ và ngược lại, khi
ngoại tệ này giảm giá thì trạng thái dư thừa sẽ không có lợi vì làm giảm tài
sản của ngân hàng khi đánh giá lại tài sản. Trong quá trình mua bán hàng
ngày, trạng thái ngoại tệ luôn biến động nên ngân hàng luôn có khả năng gặp
rủi ro do sự biến động của tỷ giá.
3.1.2. Rủi ro lãi suất
Rủi ro lãi suất là loại rủi ro xuất hiện do có sự biến động của lãi suất
trên thị trường. Trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, khi rủi ro lãi suất xuất
hiện, tài sản của ngân hàng sẽ bị biến động. Ví dụ một NHTM A mua USD
của NHTM B bằng đồng EUR, kỳ hạn 6 tháng. Trước ngày đáo hạn hợp
đồng, lãi suất cho vay của đồng USD tăng lên còn lãi suất đồng EUR và tỷ giá
hối đoái USD/EUR không đổi. Khi đó, giao dịch vẫn diễn ra nhưng NHTM B
đã bị lỗ một khoản do quyết định bán USD- đồng tiền sẽ có lợi hơn nếu giữ
lại để cho vay.
17
3.1.3. Rủi ro do môi trường thông tin
Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nhất là đối với hoạt
động kinh doanh ngoại hối, thông tin là một yếu tố rất quan trọng. Thông tin
là nguồn dữ liệu để các NHTM phân tích, dự báo, đo lường sự biến động của
các yếu tố trong kinh doanh. Vì vậy thông tin không đầy đủ, không chính xác
hoặc những tin đồn ác ý cũng có thể dẫn tới những rủi ro cho NHTM. Rủi ro
do môi trường thông tin có thể xảy ra dưới các dạng sau:
- Thiếu thông tin về đối tác nên bị đối tác lừa không thanh toán.

- Sự mất cân đối trong trạng thái ngoại hối
Khi có sự mất cân đối trong trạng thái ngoại hối thực của một đồng
tiền nhất định, NHTM sẽ chịu rủi ro tỷ giá. Vì vậy, lúc này rủi ro tỷ giá còn
được gọi là rủi ro trong trạng thái ngoại hối thực. Nếu trạng thái ngoại hối
thực của NHTM là dư thừa ngoại tệ (tổng tài sản có lớn hơn tổng tài sản nợ
của ngoại tệ đó) thì chắc chắn NHTM sẽ gặp rủi ro khi ngoại tệ đó giảm giá vì
phải chịu một khoản lỗ khi đánh giá lại tài sản. Tương tự, nếu trạng thái ngoại
hối thực là thiếu hụt ngoại tệ (tổng tài sản có nhỏ hơn tổng tài sản nợ của
ngoại tệ đó) thì NHTM cũng sẽ mất đi một khoản lợi nhuận khi giá của ngoại
tệ đó tăng lên.
- Sự biến đổi của môi trường kinh doanh
Theo một số chuyên gia kinh tế, thời kỳ phát triển và tăng trưởng cao
của hệ thống ngân hàng toàn cầu đã thực sự kết thúc. Từ đây hệ thống này
phải đương đầu với vô số những khó khăn như hậu quả tất yếu của chu kỳ
kinh tế, hoạt động thoái hoá lạm dụng thị trường. Vào thời điểm hiện nay, thị
19
trường tài chính đang có nhiều thay đổi bất lợi do đó các ngân hàng phải lựa
chọn cho mình những chiến lược kinh doanh cho phù hợp với từng thời kỳ.
Đặc biệt trong hoạt động kinh doanh ngoại hối, khi mà phạm vi kinh doanh đã
vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, các ngân hàng cần hết sức thận trọng khi lựa
chọn đối tác, khách hàng cho mình để tránh những rủi ro do đối tác, khách
hàng không thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết vào thời điểm phát sinh nghĩa
vụ do chiến tranh, bạo động, hay hệ thống thanh toán của quốc gia bên đối tác
ngừng hoạt động thanh toán ra nước ngoài.
- Vấn đề đạo đức
Xuất phát từ phía ngân hàng, khi một cán bộ ngân hàng làm đúng
chức năng, nhiệm vụ, tuân thủ đúng các quy định của ngân hàng thì sẽ hạn
chế được những rủi ro xảy ra, đặc biệt là loại rủi ro đạo đức. Tuy nhiên trên
thực tế, vì lợi ích của cá nhân hay một nhóm người mà có những cán bộ ngân
hàng đã cố ý tạo điều kiện, kẽ hở cho loại rủi ro này phát triển. Chẳng hạn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status