TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
*** KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG BÁN LẺ CHÂU Á
VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI VIỆT NAM Sinh viên thực hiện : Đỗ Thu Trang
Lớp : Anh 8
Khóa : 45B
Giáo viên hướng dẫn :ThS.Nguyễn Thị Xuân Hường
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ I.1: Phân loại hệ thống bán lẻ truyền thống
7
Biểu đồ II.1: Thị phần (%) của hệ thống bán lẻ truyền thống và hiện đại ở Châu Á
(trừ Nhật Bản)
16
Biểu đồ II.2: Số lượng các cơ sở bán lẻ và doanh thu của Tesco trên thị trường
châu Á 2000-2008
23
Biểu đồ II.3: Tỷ lệ tăng trưởng FMCG (%) tính đến tháng 3 năm 2009
28
Biểu đồ II.4: Giá trị các hợp đồng M&A theo khu vực (6/2008-6/2009)
36
Biểu đồ III.1: Số lượng dân cư sống ở các đô thị lớn ở Việt Nam 2004-2009
61
Biểu đồ III.2: Thu nhập khả dụng/đầu người và chi tiêu người dân Việt Nam
2002-2012
62
Management
Quản lý quan hệ với khách
hàng
ENT
Economic Needs Test
Kiểm tra nhu cầu kinh tế
FMCG
Fast moving consumer goods
Hàng hóa tiêu dùng nhanh
GATS
General Agreement on Trade
in Services
Hiệp định chung về thương
mại dịch vụ
GRDI
Global Retail Development
Index
Chỉ số phát triển bán lẻ toàn
cầu
KFTC
Korean Fair Trade
Commission
Ủy ban thương mại lành
mạnh Hàn Quốc
M&A
Merger and Acquisition
Mua lại và sáp nhập
RFID
Radio-Frequency
Identification
hóa khu vực bán lẻ mới thực sự bước sang một trang mới.
Thị trường bán lẻ Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế chung. Đây là
thị trường luôn được đánh giá cao và thường xuyên nhận được những dự báo khả
quan về mức độ cũng như tốc độ phát triển trong thời gian tới. Tuy nhiên, thị
trường bán lẻ vẫn đang ở giai đoạn đầu phát triển. Vì vậy, thị trường bán lẻ Việt
Nam vẫn rất cần những định hướng phát triển chi tiết, hợp lý.
2
Xuất phát từ thực tế đó, em chọn đề tài: “Thực trạng thị trường bán lẻ
châu Á và những kiến nghị đối với Việt Nam”.
2. Mục đích nghiên cứu
Thứ nhất, khái quát về mặt lý luận, phân tích những đặc điểm chính của
thị trường châu Á hiện nay cũng như những xu thế phát triển mới trong tương lai.
Một số thị trường tiêu biểu cũng được phân tích nhằm rút ra những bài học cho
những thị trường phát triển sau. Bên cạnh đó, khóa luận cũng đưa ra những đánh
giá về những tập đoàn bán lẻ lớn đến từ châu lục khác hay những tập đoàn bán lẻ
mạnh nhất châu Á thông qua việc tìm hiểu những yếu tố quyết định thành công
của những tập đoàn này.
Thứ hai, từ những phân tích đánh giá rút ra trên thị trường châu Á, rút ra
những kinh nghiệm cho sự phát triển của thị trường bán lẻ Việt Nam trong quá
trình quy hoạch, phát triển thị trường theo hướng hiện đại hóa.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài khóa luận là các hoạt động, xu hướng bán lẻ
đang diễn ra trên thị trường châu Á nói chung và thị trường bán lẻ Việt Nam nói
riêng. Đặc biệt trên thị trường Việt Nam, các nghiên cứu dành sự chú ý cho
những ảnh hưởng từ việc trở thành thành viên của WTO đến thị trường Việt
Nam.
Phạm vi nghiên cứu tập trung nhiều vào thị trường Đông Á và Đông Nam
Á, bao gồm 10 quốc gia ASEAN, Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan và Hàn
Quốc. Nghiên cứu của bài khóa luận không bao gồm Nhật Bản do thị trường bán
4
CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỊ
TRƢỜNG BÁN LẺ
I. KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM VÀ PHÂN LOẠI THỊ TRƢỜNG BÁN LẺ
1. Các khái niệm về bán lẻ
1.1 Thị trƣờng bán lẻ
Thị trường bán lẻ: được hiểu là thị trường trên đó người bán (cá nhân hay
các công ty, gọi chung là nhà bán lẻ) bán sản phẩm trực tiếp đến người mua
(người tiêu dùng cuối cùng).
Dịch vụ bán lẻ: Theo tài liệu số MTN.GNS/W/120 được xây dựng trong
vòng đàm phán Urugoay dựa trên hệ thống phân loại sản phẩm của Liên Hợp
Quốc thì bán lẻ là một trong bốn nhóm dịch vụ chính của dịch vụ phân phối.
Dịch vụ phân phối được quy định bao gồm:
Dịch vụ đại lý hoa hồng
Dịch vụ bán buôn
Dịch vụ nhượng quyền thương mại
Dịch vụ bán lẻ
1.2 Nhà bán lẻ
1.2.1 Nhà bán lẻ:
Nhà bán lẻ là người bán sản phẩm (hàng hóa hay dịch vụ) đến khách hàng.
Khách hàng mua sản phẩm vì mục đích tiêu dùng của cá nhân hay gia đình mình.
Bán lẻ là khâu kinh doanh cuối cùng trong chuỗi phân phối hàng hóa/dịch vụ của
nhà sản xuất đến người tiêu dùng. Nhà sản xuất tạo ra sản phẩm và phân phối đến
cho các nhà bán buôn. Nhà bán buôn lại phân phối sản phẩm nhận từ nhà sản
xuất đến các nhà bán lẻ khác. Cuối cùng, nhà bán lẻ sẽ bán lại sản phẩm đến
Từ những khía cạnh đã phân tích ở trên, chúng ta có thể định nghĩa hoạt
động bán lẻ là hoạt động kinh doanh làm gia tăng giá trị đối với hàng hóa hay
dịch vụ bán cho người tiêu dùng vì mục đích sử dụng của cá nhân hay gia đình.
Hoạt động bán lẻ không chỉ diễn ra trong các cửa hàng mà còn bao gồm các hoạt
động bán hàng qua điện thoại, qua mạng Internet, các dịch vụ chăm sóc, làm đẹp,
v.v.
2. Những đặc điểm của thị trƣờng bán lẻ
Trên thị trường bán lẻ, hàng hóa được bán đến tay người tiêu dùng cuối
cùng. Người này mua hàng theo nhu cầu và sử dụng cho bản thân hay gia đình
mà không bán lại nhằm mục đích kinh doanh hay bất cứ mục đích sinh lời nào
khác. Đây được coi là đặc điểm cơ bản phân biệt thị trường bán lẻ với các thị
trường giao dịch hàng hóa khác.
Thị trường bán lẻ cung cấp hàng hóa với những chủng loại đa dạng, nhãn
hiệu và có thể phục vụ mọi đối tượng khách hàng sinh sống ở các vùng địa lý
khác nhau. Hàng hóa trên thị trường bán lẻ có thể được phân thành hai loại:
Nhóm các sản phẩm lương thực, thực phẩm và các loại hàng hóa liên quan
(food sector), bao gồm: lương thực (gạo, ngũ cốc, bột mì,…); thực phẩm (tươi
sống hay đã qua chế biến); đồ uống (rượu, bia, nước giải khát); .v.v.
Nhóm các sản phẩm phi thực phẩm (non-food sector), bao gồm: đồ điện tử
dân dụng hay gia dụng; hóa mỹ phẩm, sản phẩm chăm sóc sức khỏe hay sắc
đẹp; các sản phẩm thời trang: hàng dệt, may, da giày…; văn phòng phẩm;
sách báo; đồ chơi; máy tính và các phần mềm máy tính; .v.v.
3. Phân loại các loại hình thức bán lẻ trên thị trƣờng
Cách phân chia cơ bản nhất và được sử dụng nhiều nhất khi phân tích hay
nghiên cứu thị trường bán lẻ là phân loại dựa vào mô hình kinh doanh. Theo đó
thị trường bán lẻ bao gồm hai hình thức kinh doanh chính:
7
3.1 Hệ thống bán lẻ truyền thống
3.2.2 Đại siêu thị (hypermarket)
Đại siêu thị là các mô hình kinh doanh bán lẻ có quy mô lớn nhất với tổng
diện tích sàn vào khoảng 30.000 mét vuông. Số mặt hàng bày bán có thể lên tới
25.000. Các mặt hàng lương thực, thực phẩm chiếm từ một phần ba đến hai phần
ba tổng số sản phẩm bày bán. Tại các đại siêu thị, người tiêu dùng có thể mua
sắm các mặt hàng khác không nằm trong nhóm lương thực, thực phẩm như mỹ
phẩm, các sản phẩm chăm sóc sức khỏe.
3.2.3 Siêu thị (supermarket)
Siêu thị được xây dựng trên mô hình người mua sắm tự phục vụ. Diện tích
sàn của các siêu thị nằm trong khoảng từ 5.000 đến 30.000 mét vuông. Số loại
sản phẩm bày bán vào khoảng 15.000. Khoảng hai phần ba các sản phẩm bày bán
trong siêu thị là lương thực, thực phẩm. Thông thường các siêu thị còn cung cấp
thêm quầy đồ ăn sẵn và hiệu bánh mỳ.
3.2.4 Cửa hàng tiện ích (convenience store)
Các cửa hàng tiện ích là các mô hình cửa hàng bán lẻ quy mô nhỏ. Diện
tích mỗi cửa hàng thường dưới 3000 mét vuông, số các mặt hàng bày bán dưới
5000 loại. Các cửa hàng này thường mở ở những nơi giao thông thuận lợi, tập
trung dân số, giờ hoạt động thường muộn hơn các loại hình khác. Sản phẩm bày
bán chủ yếu là các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày và giá cả thường cao hơn so
với hàng hóa trong siêu thị.
3.2.5 Cửa hàng giảm giá (discount store):
Là hệ thống các cửa hàng cho phép khách hàng tiếp cận với những chủng
loại hàng hóa giá rẻ, ở vị trí khá thuận lợi về giao thông. Đặc điểm của mô hình
kinh doanh này là chi phí mặt bằng thấp, số lượng nhân lực giới hạn, tiết kiệm
đầu tư vào marketing. Hàng hóa được trưng bày với số lượng khá đa dạng. Mỗi
thời điểm, cửa hàng sẽ giảm giá một số loại mặt hàng nhất định. Diện tích mỗi
9
cửa hàng loại này thường từ 300 đến 1000 mét vuông sản. Mô hình kinh doanh
này có thể được tìm thấy ở những khu vực cho thuê diện tích sàn với giá rẻ hay
hàng hóa gián tiếp lại thể hiện rõ ưu thế của mình. Bằng việc đưa hàng hóa do
doanh nghiệp mình sản xuất đến tay người tiêu dùng cuối cùng thông qua các
trung gian, doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí và thời gian. Nhà bán lẻ
đóng vai trò là người trung gian cuối cùng trong khâu phân phối hàng hóa đến
tay người tiêu dùng. Tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của sản phẩm, quy mô
của doanh nghiệp sản xuất, nhà bán lẻ có thể đóng vai trò là trung gian duy nhất
hay là một trong các trung gian trong quá trình phân phối hàng hóa từ khi xuất
kho nhà sản xuất đến khi bán được cho người tiêu dùng cuối cùng.
2. Thị trƣờng bán lẻ giúp cung cấp thông tin từ ngƣời tiêu dùng đến nhà sản
xuất và ngƣợc lại
Trên thị trường bán lẻ, người bán và người mua có mối quan hệ trực tiếp.
Họ gặp gỡ và giao dịch với nhau. Nhờ đó, người bán lẻ thu được những thông tin
sơ cấp về khách hàng của mình. Nhà bán lẻ có cơ hội tìm hiểu và nghiên cứu
những nhu cầu của người tiêu dùng qua đó tìm cách đáp ứng được những nhu cầu
đó. Thông qua việc bán hàng đến người tiêu dùng cuối cùng, nhà bán lẻ có thể
thu thập được những phản hồi của khách hàng về chất lượng sản phẩm, mẫu mã,
bao bì đóng gói,… Từ đó họ có thể truyền tải đến người sản xuất
Trong quá trình tiếp cận trực tiếp với người tiêu dùng cuối cùng, nhà bán
lẻ hoàn toàn có khả năng tìm hiểu những nhu cầu có thể xuất hiện trong tương lai
và giúp nhà sản xuất bắt kịp được những xu hướng thị trường để lên chiến lược
mở rộng sản xuất.
Ngược lại, nhà sản xuất cũng có thể thông qua thị trường bán lẻ để nghiên
cứu thái độ của thị trường khi đón nhận một sản phẩm hay kế hoạch sản xuất mới
trong tương lai.
11
Tóm lại, thông tin chính là chìa khóa dẫn đến thành công cho bất cứ doanh
nghiệp trong bất cứ ngành nào. Và nhờ vào những thông tin trên thị trường bán
lẻ, nhà sản xuất có thể điều chỉnh kế hoạch sản xuất, cải tiến sản phẩm theo
hướng thỏa mãn tối đa thị hiếu người tiêu dùng. Người tiêu dùng, nhờ vào việc
13
CHƢƠNG II: THỰC TRẠNG THỊ TRƢỜNG BÁN LẺ
CHÂU Á
I. CÁC XU THẾ NỔI BẬT TRÊN THỊ TRƢỜNG BÁN LẺ CHÂU Á HIỆN
NAY
1. Hệ thống bán lẻ hiện đại dần thay thế các cửa hàng truyền thống
1.1 Thay đổi trong hành vi tiêu dùng của ngƣời dân châu Á
Sự phát triển của hệ thống bán lẻ hiện đại xuất phát từ những thay đổi sâu
sắc trong xã hội các quốc gia châu Á.
Thứ nhất, thu nhập trung bình của châu lục này đã tăng lên một cách đáng
kể kéo theo sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu và thượng lưu với số lượng ngày
càng lớn.
Thứ hai, và cũng là nguyên nhân quan trọng hơn cả chính là sự thay đổi về
vai trò của người phụ nữ trong xã hội. Nếu những năm đầu của thế kỷ 20, tỷ lệ
phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động trên cả châu Á chưa đến 20% thì trong
thập kỷ đầu của thế kỷ 21, số lượng phụ nữ làm việc đã xấp xỉ số lượng nam giới.
Ở một số nước Đông Á như Hàn Quốc, Đài Loan, … trung bình tỷ lệ nữ giới trên
nam giới trong lực lượng lao động là khoảng 91-93/100. Chính vì sự thay đổi
mang tính cách mạng đó, xu hướng tiêu dùng trong xã hội châu Á cũng thay đổi
mạnh mẽ. Khi ngày càng nhiều phụ nữ đi làm, họ có khuynh hướng tiết kiệm thời
gian mua sắm và nấu nướng của mình. Do vậy, những thực phẩm đã qua chế biến
ngày càng trở nên phổ biến.
Bên cạnh đó, việc sử dụng rộng rãi của tủ lạnh và các dụng cụ điện tử hiện
đại khác trong gia đình cho phép người dân có thể đi chợ hàng tuần, thay vì hàng
ngày như thời kỳ trước đây. Hơn nữa, do sự phát triển của các phương tiện cá
nhân và hệ thống đường xá, cơ sở hạ tầng được xây dựng và nâng cấp đã tạo điều
số cửa hàng mua sắm hiện đại như Wing On và Sincere ở Thượng Hải mở cửa từ
trước năm 1949 vẫn duy trì hoạt động đến thời điểm này. Các trung tâm mua sắm
hiện đại bắt đầu được xây dựng với số lượng lớn trên khắp châu lục vào khoảng
những năm 1980 và bùng nổ vào khoảng những năm 1990 của thế kỷ trước.
Số lượng các cửa hàng bán lẻ hiện đại xuất hiện ở châu Á ngày một tăng.
Đặc biệt, cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập, các nền kinh tế châu Á đã
và đang đón nhận những làn sóng đầu tư nước ngoài mạnh mẽ vào khu vực bán
lẻ hiện đại. Trong ba mô hình kinh doanh bán lẻ hiện đại là đại siêu thị, siêu thị
và cửa hàng tiện ích thì mô hình thứ ba được ghi nhận là tăng trưởng mạnh nhất
trong những năm vừa qua và được dự đoán sẽ tiếp tục tăng trong tương lai gần.
1.2.2 Vị trí của hệ thống bán lẻ hiện đại trên thị trường hiện nay
Hệ thống bán lẻ hiện đại ngày một thể hiện ưu thế vượt trội so với hệ
thống bán lẻ truyền thống. Tính đến thời điểm tháng 3 năm 2009, theo Nielsen
2009, số lượng các cửa hàng bán lẻ hàng tiêu dùng truyền thống trên khắp châu
Á chỉ tăng 1% lên khoảng hơn 12.3 triệu. Số lượng các cửa hàng bán lẻ hiện đại
tăng đến 16% trong năm 2009. Tốc độ tăng trưởng về số lượng chuỗi cửa hàng
bán lẻ truyền thống và hiện đại ở một số quốc gia được thể hiện trong bảng sau:
QUỐC GIA
HỆ THỐNG
BÁN LẺ
TRUYỀN
THỐNG
HỆ THỐNG
BÁN LẺ
HIỆN ĐẠI
Hàn Quốc
-10
+7
Đài Loan
-9,5
ngày càng lớn
2.1 Tình hình mở rộng của các tập đoàn bán lẻ toàn cầu ra khắp châu Á
Châu Á vươn lên là khu vực phát triển nhanh nhất và năng động nhất thế
giới. Khu vực này ngày càng thu hút được sự chú ý của các nhà đầu tư nước
ngoài, đặt biệt là các nền kinh tế được coi là những con rồng châu Á (Hàn Quốc,
Singapo, Đài Loan, Hồng Kông). Ngành công nghiệp bán lẻ châu Á trong những
năm gần đây luôn phát triển với tốc độ nhanh hơn tốc độ phát triển trung bình
35
39
41
44
46
48
50
52
53
65
61
59
56
54
52
50
48
47
2000
2001
2002
2003
2004
từ châu Âu và Bắc Mỹ cũng ngày càng chú trọng hơn đến thị trường Đông Nam
Á đầy tiềm năng. Khu vực này được coi là một trong những khu vực năng động
nhất trong châu lục và nhanh chóng phục hồi sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu
năm 2008. Tập đoàn bán lẻ lớn nhất thế giới là Wal-mart hiện đã lên kế hoạch
xâm nhập thị trường này trong khoảng thời gian 5 năm tới. 18
2.2 Lợi thế của các tập đoàn lớn từ Âu, Mỹ
2.2.1 Tài chính
Các tập đoàn bán lẻ lớn nhất của thế giới hiện diện trên thị trường châu Á
đều có lợi thế vượt trội về vốn. Chỉ tính riêng 4 đại gia đứng đầu danh sách 250
nhà bán lẻ toàn cầu là Wal-mart, Carrefour, Metro và Tesco đã có tổng doanh thu
vào khoảng gần 730 tỷ đô la trong năm 2008 với lợi nhuận thuần khoảng 20,6 tỷ
đô. Chỉ riêng Wal-mart đã có doanh thu bán lẻ năm 2008 là hơn 407 tỷ đô la.
Trong khi đó, tập đoàn bán lẻ AS Watson của Hồng Kông là tập đoàn bán lẻ
đứng đầu châu Á xét về quy mô doanh số thu được từ hoạt động bán lẻ cũng chỉ
đạt 15 tỷ đô la (Deloitte 2010, tr.13). Bên cạnh lợi thế vượt trội về mặt tài chính,
các tập đoàn bán lẻ toàn cầu này còn sở hữu hàng chục năm kinh nghiệm hoạt
động trên thị trường quốc tế. Đây là điểm mà phần lớn nhà bán lẻ châu Á chưa có
được.
Tài chính và kinh nghiệm là những lợi thế cạnh tranh ban đầu mà những
đại gia bán lẻ trên thế giới sở hữu khi thâm nhập vào thị trường châu Á. Nguồn
vốn khổng lồ là điều kiện ban đầu giúp các tập đoàn bán lẻ này xây dựng các
chiến lược thôn tính các thị trường châu Á. Tiềm lực tài chính hùng hậu cho phép
những tập đoàn này có thể xác định thua lỗ từ 5 đến 7 năm, thậm chí là 10 năm
khi bắt đầu hoạt động ở một thị trường mới. Bên cạnh đó, nguồn vốn khổng lồ
giúp các tập đoàn này có thể đầu tư lớn vào các hoạt động marketing xúc tiến bán
hàng, đầu tư cho nguồn nhân lực chất lượng cao do có khả năng chi trả những
mức lương hết sức cạnh tranh và xây dựng các chương trình chăm sóc khách
trong việc đưa ra các chiến lược, chương trình hướng tới đội ngũ khách hàng
thân thiết, một nguồn mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp trong bất cứ hoàn
cảnh nào. Ưu điểm của hệ thống này là nó thích hợp với mọi loại hình kinh
doanh, từ các hàng bán đồ ăn nhanh bình dân tới các trung tâm thương mại xa xỉ.
Ngoài ra, các tập đoàn bán lẻ toàn cầu liên tục lắp đặt các thiết bị ngay
trong các khu bán hàng của mình để hỗ trợ khách hàng và nhân viên. Ở một số
địa điểm bán hàng tại châu Á, Metro đã lắp đặt những máy scan tinh vi cho phép
20
khách hàng thanh toán không cần sự có mặt của nhân viên thu ngân và tiết kiệm
thời gian chờ đợi trong những thời điểm quá đông khách đến mua sắm. Sắp tới,
tập đoàn bán lẻ lớn nhất của Đức này đang lên kế hoạch sẽ thử nghiệm hỗ trợ
khách hàng trong khi mua sắm bằng cách cung cấp cho họ một máy tính nhỏ
giúp họ nhanh chóng tìm được mặt hàng cần mua và nơi đặt món hàng đó.
2.3 Sự hiện diện của một số tập đoàn bán lẻ Âu Mỹ lớn nhất tại châu Á
2.3.1 Carrefour
Người khổng lồ đến từ Pháp Carrefour là tập đoàn bán lẻ phương Tây đầu
tiên thâm nhập thị trường châu Á. Vào năm 1989, tập đoàn này đã bắt tay với
một công ty cổ phần của Đài Loan là Uni President Enterprises Corporation. Sau
khi gặt hái được những kinh nghiệm từ các hoạt động kinh doanh ở thị trường
Đài Loan, Carrefour nhanh chóng mở rộng phạm vi sang các quốc gia châu Á
khác, bao gồm các quốc gia tiểu vương quốc Ả Rập và một số nước Nam Á như
Pakistan (Wikipedia 2010).
Năm 2007 đánh dấu một cột mốc trong lịch sử phát triển của đại gia bán lẻ
lớn thứ hai thế giới này ở châu Á khi tập đoàn cho ra đời 36 đại siêu thị ở châu
lục này. Tính riêng ở Trung Quốc con số đại siêu thị được xây dựng trong năm
2007 đã là 22. Đây là số lượng lớn chưa từng thấy trong một năm (Wikipedia
2010).
Nhân tố dẫn đến thành công của nhà bán lẻ này khi mở rộng hoạt động
sang các nước khác nói chung và châu Á nói riêng chính là ở cách quản lý linh
trường có sức mua lớn nhất toàn cầu này là đã biết kết hợp những ưu điểm của
mô hình kinh doanh siêu thị và các khu trung tâm mua sắm. Loại hình trung tâm
bán lẻ của Wal-mart ở Trung Quốc tạo cho khách hàng sự thuận lợi trong việc
mua sắm hàng hóa tiêu dùng hàng ngày cũng như những thiết bị lâu bền sử dụng
trong gia đình chỉ với việc đi đến một địa điểm trong cùng một khoảng thời gian.
Các trung tâm bán lẻ này còn giúp Wal-mart tiết kiệm được chi phí nhân công
một cách đáng kể. Thay vì phải thuê số lượng lao động tương ứng với một siêu
thị và một trung tâm mua sắm, bằng việc thiết lập các trung tâm bán lẻ, số lượng