Bảo hiểm nông nghiệp ở các nước mỹ la tinh và bài học kinh nghiệm cho việt nam - Pdf 14

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
  
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐỀ TÀI:
BẢO HIỂM NÔNG NGHIỆP Ở CÁC NƯỚC MỸ LA TINH VÀ
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM Họ và tên sinh viên
Lớp
Khoá
Giáo viên hướng dẫn
: Ph¹m ThÞ Th¶o Linh
:
: 44
: Ph¹m Thanh Hµ
Bảng 6: Thiệt hại do thiên tai ở Mexico trong giai đoạn 1990-2005
Bảng 7: Phí tái bảo hiểm trung bình của các công ty tái bảo hiểm
nông nghiệp
Bảng 8: Phí bảo hiểm trung bình cho một số loại cây trồng
Bảng 9: Tổng số phí bảo hiểm nông nghiệp năm 2006-2007
Bảng 10: Tổng số tiền bồi thường trong năm 2006-2007
Bảng 11: Tình hình kinh doanh bảo hiểm chỉ số ở khu vực Mỹ Latinh
Bảng 12: Chính sách trợ cấp bảo hiểm nông nghiệp của chính phủ Mỹ Latinh
Bảng 13: Cơ cấu thị trường bảo hiểm nông nghiệp Mỹ Latinh
Bảng 14: Tổng quan thị trường bảo hiểm nông nghiệp Mỹ Latinh vụ mùa
2006 – 2007
Bảng 15: Diện tích đất nông nghiệp được bảo hiểm
Bảng 16: Đóng góp của ngành nông nghiệp vào GDP
Bảng 17: Giá trị nông sản xuất khẩu
Bảng 18: Số lượng gia súc, gia cầm ở Việt Nam
Bảng 19: Doanh thu bảo hiểm nông nghiệp chín tháng đầu năm 2008
Bảng 20: Tỷ trọng tham gia bảo hiểm nông nghiệp Việt Nam năm 2007

3
Danh mục biểu đồ:
Biểu đồ 1: Giá trị nông nghiệp đóng góp vào GDP của các khu vực
Biểu đồ 2: Tỷ trọng sản lượng nông nghiệp ở các thị trường cung cấp chính
Biểu đồ 3: Số lượng trạm dự báo thời tiết ở Mexico
Biểu đồ 4: Tỷ lệ phí bảo hiểm nông nghiệp đóng góp trên tổng GDP
Biểu đồ 5: Thiệt hại bình quân do thiên tai gây ra theo phân vùng (Giai đoạn
2003-2007)
Biểu đồ 6: Thiệt hại về người do thiên tai giai đoạn 1995-2007

4


1. Nền nông nghiệp Mỹ Latinh…………………………………………………24
2. Sự cần thiết của bảo hiểm nông nghiệp đối với nền nông nghiệp Mỹ
Latinh………………………………………………………………………… 29
II. Thực trạng phát triển dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp ở các nước Mỹ
Latinh………………………………………………………………………… 30
1. Những rủi ro được bảo hiểm thường gặp trong nông nghiệp các nước Mỹ
Latinh………………………………………………………………………… 30
2. Nghiệp vụ bảo hiểm nông nghiệp tại các nước Mỹ Latinh………………… 31
2.1. Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp phổ biến…………………………… 31
2.2. Các loại hình doanh nghiệp tham gia thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở Mỹ
Latinh………………………………………………………………………… 33
2.3. Vai trò của các công ty tái bảo hiểm đối với thị trường bảo hiểm nông
nghiệp ở Mỹ Latinh…………………………………………………………….36
2.4. Các kênh phân phối sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp…………………… 37
2.5. Phí bảo hiểm……………………………………………………………… 39
2.6. Trị giá bảo hiểm, số tiền bảo hiểm…………………………………………40
2.7. Giám định tổn thất…………………………………………………………41
2.8. Bồi thường………………………………………………………………….42
2.9. Công tác đề phòng, hạn chế tổn thất……………………………………….43
3. Khả năng tiếp cận với các dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp của người
dân………………………………………………………………………………45

6
4. Chính sách phát triển bảo hiểm nông nghiệp từ phía chính phủ…………… 47
III. Những thành tựu các nước Mỹ Latinh đã đạt được trong quá trình triển khai
dịch vụ bảo hiểm nông nghiệp………………………………………………….50
IV. Những vấn đề còn tồn tại trong quá trình phát triển bảo hiểm nông nghiệp ở
các nước Mỹ Latinh………………………………………………………… 54

Chơng III: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam…………………………… 59

với các sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp chính thống, những sản phẩm giúp họ
chia sẻ, di chuyển một phần rủi ro sang cho đối tượng khác là các nhà bảo hiểm.
Bảo hiểm nông nghiệp hiện nay đang trở thành vấn đề nóng hổi, được
nhiều quốc gia và tổ chức quan tâm, đặc biệt là trước yêu cầu nâng cao năng lực
cạnh tranh cho ngành nông nghiệp trên thị trường tự do.

2. Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Khoá luận tốt nghiệp tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển của một
thị trường bảo hiểm nông nghiệp cụ thể, phạm vi nghiên cứu nằm trong khu vực
Mỹ Latinh. Sở dĩ thị trường bảo hiểm nông nghiệp ở các nước Mỹ Latinh được
chọn làm đối tượng nghiên cứu là do:
- Việt Nam và các nước Mỹ Latinh có khá nhiều điểm tương đồng. Cũng
giống như nước ta, những quốc gia này hầu hết là các nước đang phát triển, tỷ lệ

8
dân số tham gia vào ngành sản xuất nông nghiệp tương đối lớn. Hàng năm giá trị
xuất khẩu hàng nông sản chiếm một phần lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu
toàn khu vực.
- Mỹ Latinh là một trong những khu vực đi đầu trong việc áp dụng bảo
hiểm nông nghiệp cho các hộ sản xuất. Tuy nhiên, do chính sách về bảo hiểm
nông nghiệp ở các quốc gia còn nhiều bất cập nên chương trình triển khai dịch
vụ bảo hiểm này đã có thời gian bị gián đoạn. Trong những năm gần đây, bảo
hiểm nông nghiệp lại một lần nữa trở thành một trong những ưu tiên hàng đầu
của chính phủ ở các quốc gia này. Mỹ Latinh hiện nay đã và đang trở thành thị
trường bảo hiểm nông nghiệp hấp dẫn cho các công ty bảo hiểm quốc tế.

3. Mục đích nghiên cứu
Thông qua các phân tích về thực trạng bảo hiểm nông nghiệp ở Mỹ
Latinh, đề tài nhằm mục đích rút ra những bài học kinh nghiệm về các chính
sách, điều kiện áp dụng bảo hiểm nông nghiệp. Thông qua đó, đề tài đặt ra

nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuất vật chất quan trọng, cung cấp lương
thực và thực phẩm cho con người, là nguyên liệu cho các ngành công nghiệp
nhẹ, công nghiệp thực phẩm và hàng hoá để xuất khẩu. Nông nghiệp cũng là
ngành thu hút nhiều lao động trong xã hội, góp phần giải quyết công ăn việc làm,
đồng thời còn là ngành đóng góp một phần không nhỏ vào tổng sản phẩm quốc
nội (GDP). Nhưng sản xuất nông nghiệp thường không ổn định, bởi lẽ ngành này
có nhiều đặc điểm khác biệt so với nhiều ngành sản xuất khác trong nền kinh tế
quốc dân. Những đặc điểm cơ bản đó là:
- Sản xuất nông nghiệp thường trải trên phạm vi rộng lớn và hầu hết lại
được tiến hành ở ngoài trời, vì thế nó chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện tự
nhiên. Mặc dù trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng tiên tiến và hiện đại, con
người ngày càng chế ngự được những ảnh hưởng xấu của hiện tượng tự nhiên
nhưng mâu thuẫn giữa con người và lực lượng tự nhiên vẫn tồn tại trong sản xuất
nông nghiệp. Hàng năm, điều kiện tự nhiên luôn đe doạ và gây tổn thất lớn cho
quá trình sản xuất nông nghiệp.
- Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là những cá thể sống như: cây trồng,
vật nuôi. Chúng không chỉ chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên mà còn chịu
sự tác động của các quy luật sinh học. Đó là các quy luật: đồng hóa, dị hoá, biến
dị, di truyền; quy luật về thời gian sinh trưởng và cho sản phẩm v.v…Vì vậy, xác
suất rủi ro trong nông nghiệp đã lớn lại càng lớn hơn so với nhiều ngành sản xuất
khác.

11
- Chu kỳ sản xuất trong nông nghiệp thường kéo dài, chẳng hạn như cây
lúa khoảng 4 tháng, cây cà phê khoảng 20 đến 30 năm; cây cao su trên 50 năm;
thêm vào đó, thời gian lao động và thời gian sản xuất lại không trùng nhau, do
đó việc đánh giá, kiểm soát và phòng ngừa rủi ro là rất khó khăn.
- Trong nông nghiệp có hàng trăm cây trồng vật nuôi khác nhau. Thậm
chí, có những loại rủi ro, mà hậu quả của chúng mang tính chất thảm hoạ. Từ đó

- Trong điều kiện kinh tế thị trường, mô hình tổ chức và quản lý nông
nghiệp rất đa dạng và phong phú, trong lúc đó mô hình trang trại diễn ra khá phổ
biến và mang tính quy luật. Tổ chức quản lý kiểu trang trại đã làm cho lao động,
đất đai và tiền vốn được tích tụ và tập trung. Vì vậy, nhu cầu ổn định sản xuất,
bảo toàn và tăng trưởng đồng vốn luôn là vấn đề bức xúc, được các chủ trang trại
quan tâm hàng đầu.
Những đặc điểm trên cho thấy, tính ổn định trong sản xuất nông nghiệp là
rất thấp. Vì vậy, để chủ động đối phó và có quỹ dự trữ, dự phòng nhằm bồi
thường kịp thời những tổn thất do thiên tai gây ra, biện pháp tốt nhất và hữu hiệu
nhất là phải tiến hành bảo hiểm cho nông nghiệp.
Do đó, bảo hiểm nông nghiệp là cần thiết, nhưng trong quá trình triển
khai, các công ty bảo hiểm phải tính đến tất cả những đặc điểm của ngành này.
Có như vậy mới giúp cho công ty triển khai bảo hiểm được đúng định hướng,
tính phí bảo hiểm chính xác, dễ dàng đánh giá, kiểm soát và quản lý được rủi ro.
Đồng thời đòi hỏi công ty bảo hiểm phải luôn chú‎ ý và quản lý tốt nguồn dự trữ
dự phòng, bên cạnh đó phải luôn đặt ra vấn đề tái bảo hiểm để tránh phá sản.

13
II. Lịch sử ra đời và phát triển của bảo hiểm nông nghiệp
Từ thời xa xưa, khi khái niệm bảo hiểm còn chưa xuất hiện thì con người
đã phải chống chọi với những rủi ro trong cuộc sống. Đối với người nông dân,
họ luôn có ý thức tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau mỗi khi gặp thiên tai, địch hoạ,
mất mùa… Hình thức “Hội tương hỗ” ra đời được coi là hình thức bảo hiểm đầu
tiên ở nông thôn.
Năm 1898 đánh dấu sự ra đời của bảo hiểm nông nghiệp. Nước Phổ đã
tiến hành bảo hiểm mọi rủi ro cho cây trồng thông qua hoạt động của các công ty
tương hỗ nhỏ. Nhưng các công ty này không tồn tại và phát triển được trước các
thảm hoạ lớn.
Ở Mỹ, vào những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, một số công ty
bảo hiểm tư nhân đã tiến hành bảo hiểm mọi rủi ro cho cây trồng nhưng đều thất

hành
Nguồn hình
thành quỹ BH
Hình
thức
1
Jamaica
1946
Bão
Cây chuối
Chính
phủ
Từ phí BH
nông dân đóng
góp và sự hỗ
trợ của chính
phủ
Bắt buộc
2
Canada
1917
Mưa đá
Tất cả các
cây trồng
Chính
phủ,
công ty
tư nhân
Từ phí BH
nông dân đóng
-Cháy,
mưa đá

những
rủi ro
thảm
hoạ
không
được
BH
-Cháy,
mưa đá -Mọi cây
trồng

-Lúa
mạch, lúa
mỳ -Tự
nguyện

4
Nhật Bản
1938
Mọi rủi
Cây ngũ
Hội BH
Từ phí BH
Bắt buộc

16
1947
ro
cốc, cây
ăn quả,
dâu tằm
tương hỗ
có sự
giúp đỡ
của
chính
quyền
nông dân đóng

1978
Mọi rủi
ro
Ngô, lúa,
lạc, đậu
tương,
bông,
hướng
dương
Công ty
bảo
hiểm
nhà
nước
Phí nông dân
đóng góp
Bắt buộc
với
người
vay tiền
(Nguồn: PGS - TS Nguyễn Văn Định (2005), Giáo trình Bảo Hiểm, nhà xuất
bản Thống Kê)
Hiện nay Nhật Bản là quốc gia có thị trường bảo hiểm nông nghiệp phát
triển nhất thế giới, với 79% diện tích đất canh tác được mua bảo hiểm, tiếp theo
là Mỹ với 72%, Canada là 55 % và Tây Ban Nha 43%.
Bảng 2: Thị phần thị trƣờng bảo hiểm nông nghiệp trên thế giới
Khu vực
Thị phần phí bảo hiểm
(Đơn vị: %)
Bắc Mỹ ( Hoa kỳ và Canada)

Thứ hai: Góp phần giảm nhẹ và ổn định ngân sách, ổn định đời sống xã
hội và giữ vững an ninh lương thực cho quốc gia. Ở các nước, ngân sách nhà
nước và quỹ lương thực dự trữ quốc gia luôn dành một phần để hỗ trợ cho nhân
dân những vùng bị lũ lụt, mất mùa. Nhưng thiên tai thường xảy ra bất ngờ không
ai lường trước được. Vì vậy, việc trợ cấp ngân sách thường bị động, hơn nữa

18
những khoản trợ cấp này còn có thể làm cho ngân sách nhà nước bội chi. Để
khắc phục hậu quả này phải tính đến vai trò của quỹ bảo hiểm.
Thứ ba: Nông nghiệp còn là thị trường rộng lớn cho các công ty bảo hiểm.
Mặc dù triển khai bảo hiểm trong nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, song với
đối tượng là hàng trăm loại cây trồng và gia súc khác nhau sẽ giúp các công ty
bảo hiểm dễ dàng khai thác, hạn chế được sức ép của cạnh tranh. Đồng thời nó
còn phát huy tối đa quy luật số lớn trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Mặt
khác, quỹ này dùng để bồi thường và dự trữ là chủ yếu, nhưng khi chưa sử dụng
đến sẽ góp phần đầu tư phát triển sản xuất. Hơn nữa, nếu triển khai bảo hiểm
đồng loạt các loại cây trồng và vật nuôi trong cả nước các công ty bảo hiểm sẽ
thu hút được một lực lượng lao động đáng kể vào làm việc, góp phần tạo thêm
công ăn việc làm cho người lao động, hạn chế tình trạng thất nghiệp trong xã hội
v.v…
Với những tác dụng trên, bảo hiểm nông nghiệp đã được triển khai ở rất
nhiều nước trên thế giới. Và trong tương lai, nó hứa hẹn là một trong những sản
phẩm bảo hiểm phi nhân thọ tiềm năng trong ngành bảo hiểm thế giới.

IV. Các loại hình bảo hiểm nông nghiệp phổ biến
Bảo hiểm nông nghiệp thường được chia ra làm hai nghiệp vụ:

1. Bảo hiểm cây trồng
1.1. Đối tƣợng và phạm vi bảo hiểm
Đối tượng bảo hiểm cây trồng: có thể là bản thân cây trồng trong suốt quá


21
1.2. Giá trị bảo hiểm và số tiền bảo hiểm
Bảo hiểm cây trồng cũng là loại hình bảo hiểm tài sản, vì thế, để xác định
được phí bảo hiểm và số tiền bồi thường nếu gặp rủi ro được chính xác, phải xác
định chính xác được số tiền bảo hiểm. Giá trị bảo hiểm của cây trồng là giá trị
của bản thân cây trồng hoặc giá trị sản lượng của cây trồng trên một đơn vị bảo
hiểm.
+ Giá trị bảo hiểm cây hàng năm được xác định căn cứ vào sản lượng thu
hoạch thực tế của từng loại cây trong một số năm trước đó và giá trị một đơn vị
sản phẩm trong những năm đó.
+ Giá trị bảo hiểm cây lâu năm là giá trị của từng cây, từng lô cây hoặc
từng đơn vị bảo hiểm. Nhưng cây lâu năm là tài sản cố định, giá trị ban đầu của
loại tài sản này được xác định tại thời điểm vườn cây đưa vào kinh doanh. Vì
thế, giá trị bảo hiểm chính là giá trị ban đầu của cây trừ đi khấu hao cơ bản.
1.3. Các chế độ bảo hiểm cây trồng
Trong sản xuất nông nghiệp, năng suất, chất lượng sản phẩm và ngay cả
giá trị của bản thân cây trồng phụ thuộc rất lớn vào sự cố gắng chủ quan của
người trồng trọt. Sự cố gắng chủ quan này bao gồm cả việc đầu tư thâm canh,
trình độ áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác và cả ý thức bảo vệ cây khi gặp
rủi ro Vì thế, các công ty bảo hiểm thường áp dụng một số chế độ bảo hiểm
sau:
- Chế độ bảo hiểm bồi thường theo tỷ lệ: Khi tổn thất xảy ra, người bảo
hiểm chỉ bồi thường cho người trồng trọt theo một tỷ lệ nhất định so với toàn bộ
giá trị tổn thất. Mục đích áp dụng chế độ này là nhằm nâng cao tinh thần trách
nhiệm của người tham gia bảo hiểm. Tỷ lệ được bồi thường là do các bên thoả
thuận, cao hay thấp phụ thuộc vào:
+ Trình độ phát triển của sản xuất nông nghiệp

22

4

Trong đó:

23
P : Phí bảo hiểm cây trồng
f
1
: Phí bồi thường tổn thất
f
2
: Phí đề phòng hạn chế tổn thất
f
3
: Phí dự phòng
f
4
: Phí quản lý và lãi dự kiến của công ty bảo hiểm
Tuy nhiên đối với cây hàng năm việc xác định tỷ lệ phí bồi thường khá
phức tạp do tính chất mùa vụ và tính bất ổn định của loại cây này cao hơn. Chính
vì vậy để xác định được tỷ lệ phí bồi thường bình q‎uân ta phải tính toán qua các
bước sau.
- Bước 1: xác định sản lượng thu hoạch thực tế bình quân trên một đơn vị
diện tích bảo hiểm.





n

i
i
tt
s
sww
q
1
)(
(điều kiện
ww
t

)

24
t: năm có tổn thất
t
q
: sản lượng tổn thất bình quân tính trên 1 đơn vị diện tích bảo hiểm
t
s
: diện tích gieo trồng năm t
t
w
: sản lượng thu hoạch thực tế năm t tính trên một đơn vị diện tích bảo
hiểm.
- Bước 3: xác định tỷ lệ phí bồi thường bình quân
100
w
q

và xác định quy mô, mức độ tổn thất phải theo những phương pháp khoa học
phù hợp với đối tượng bảo hiểm và tình hình thực tế. Lập biên bản giám định tổn
thất phải có đầy đủ các bên hữu quan tham gia và phải ký vào biên bản để xác
nhận.
Phương pháp xác định tổn thất được chia ra như sau:
- Đối với cây hàng năm:
Giá trị tổn Giá trị sản Giá trị Giá trị tổn thất
thất được = lượng tổn – tận thu – không được bồi thường
bồi thường thất thực tế (nếu có) (nếu có)
Năm hoặc vụ có tổn thất là năm hoặc vụ có giá trị sản lượng thu hoạch
thực tế thấp hơn GTBH. Giá trị sản lượng tổn thất thực tế được xác định căn cứ
vào năng suất bình quân được bảo hiểm, năng suất thực tế thu hoạch, giá cả một
đơn vị sản phẩm tính bình quân và diện tích bị tổn thất của từng loại cây. Giá trị
tận thu bao gồm: Thân, lá, quả Giá trị tổn thất không được bồi thường thường
gặp phải khi áp dụng các chế độ bảo hiểm khác nhau hoặc những tổn thất không
thuộc diện phạm vi bảo hiểm.
Trong nông nghiệp, tổn thất xảy ra trước khi thu hoạch là phổ biến. Lúc
này, chưa thể xác định được giá trị tổn thất thực tế, mà chỉ là tổn thất ước tính.
Để xác định được số tiền bồi thường phải chia ra các trường hợp:
+ Đối với những diện tích mất trắng trước khi cây trồng cho thu hoạch, giá
trị tổn thất là toàn bộ chi phí thực tế chi ra từ thời điểm gieo trồng đến thời điểm
xảy ra tổn thất. Các khoản chi phí này thường bao gồm: Chi phí cây giống, phân
bón, vật tư, lao động

26
+ Đối với những diện tích chưa bị huỷ hoại toàn bộ, có thể chăm sóc tiếp
vẫn cho thu hoạch sản phẩm, giá trị tổn thất tính theo tỷ lệ phần trăm tổn thất so
với toàn bộ chi phí tính đến thời điểm xảy ra tổn thất.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status