Lời Mở Đầu
I. Sự cần thiết
Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, tính cạnh tranh trong hoạt động
kinh doanh giữa các doanh nghiệp ngày càng cao và khốc liệt. Để tồn tại và duy
trì được sự phát triển bền vững với hiệu quả kinh tế cao, các doanh nghiệp cần
phải tự khẳng định mình. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, ngoài việc sử
dụng các công cụ quản lý khác nhau, các nhà quản trị cần trang bị cho mình
những kiến thức cơ bản về kinh tế và phân tích hoạt động kinh doanh trong đó
yếu tố phân tích báo cáo tài chính là rất cần thiết giúp nhà quản lý có được nhận
chính xác, trung thực, khách quan về thực trạng tài chính của doanh nghiệp, biết
tổng hợp có hệ thống các nhân tố tác động thuận lợi và không thuận lợi đến các
vấn đề kinh tế của doanh nghiệp, từ đó hoạch định ra phương hướng nhằm phát
huy những lợi thế của doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp phát triển các nhân tố
tích cực,hạn chế các nhân tố ảnh hưởng xấu, giảm thiểu rủi ro góp phần nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó chúng ta có
thể hoạch định tài chính tại doanh nghiệp trong tương lai
Chính vì vậy mà em chọn đề tài “Phân tích và lập kế hoạch tài chính tại
công ty Cổ Phần Kinh Đô” nhằm tìm hiểu thực trạng tài chính của công ty, khả
năng sinh lợi cũng như những rủi ro có thể xảy ra trong tương lai của công ty.
Trong quá trình thực hiện bài nghiên cứu, không tránh khỏi những thiếu
sót, kính mong cô hướng dẫn đóng góp ý kiến chân thành giúp nhóm chúng em
hoàn thành tốt bài nghiên cứu này.
II. Mục tiêu nghiên cứu:
Kết hợp với quá trình tìm hiểu thực trạng của công ty, mục tiêu nghiên
cứu bao gồm:
- Tìm hiểu về tình hình tài chính để có cái nhìn khái quát về tình hình
hoạt động của công ty Cổ Phần Kinh Đô
- Dựa vào phân tích tài chính đã lập, sử dụng lý thuyết vào việc hoạch
định kế hoạch cho công ty trong tương lai.
- Đưa ra những kiến nghị và giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính
của công ty.
phép Kinh doanh số 048307 do Trọng tài Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh cấp
ngày 02/03/1993. Những ngày đầu thành lập, Công ty chỉ là một xưởng sản xuất
nhỏ diện tích khoảng 100m2 tại Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh, với 70 công
nhân và vốn đầu tư 1,4 tỉ đồng, chuyên sản xuất và kinh doanh bánh snack - một
sản phẩm mới đối với người tiêu dùng trong nước.Đến năm 1994, sau hơn một
năm kinh doanh thành công với sản phẩm bánh snack, Công ty tăng vốn điều lệ
lên 14 tỷ đồng và nhập dây chuyền sản xuất snack trị giá 750.000 USD từ Nhật.
Thành công của bánh snack Kinh Đô với giá rẻ, mùi vị đặc trưng phù hợp với
thị hiếu của người tiêu dùng trong nước đã trở thành bước đệm quan trọng cho
sự phát triển không ngừng của Công ty Kinh Đô sau này.
Năm 1999, Công ty nâng vốn điều lệ lên 40 tỷ đồng, đồng thời thành lập
trung tâm thương mại Savico - Kinh Đô tại Quận 1, đánh dấu một bước phát
triển mới của Kinh Đô sang các lĩnh vực kinh doanh khác ngoài bánh kẹo. Cũng
trong năm 1999, Công ty khai trương hệ thống bakery đầu tiên, mở đầu cho một
chuỗi hệ thống của hàng bánh kẹo Kinh Đô từ Bắc vào Nam sau này.
Sau 12 năm hoạt động và phát triển, quy mô vốn và quy mô hoạt động
sản xuất kinh doanh không ngừng tăng trưởng đến năm 2005 trở thành doanh
nghiệp sản xuất bánh kẹo hàng đầu ở Việt Nam với vốn điều lệ 250 tỷ đồng và
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
2 . Cơ cấu tổ chức:
3. Hoạt động sản xuất kinh doanh
Ngành nghề kinh doanh chính:
- chế biến nông sản thực phẩm
- sản xuất bánh kẹo, nước uống tinh khiết và nước ép trái cây
Sản phẩm và thị phần:
- Bánh khô các loại: bánh cookies (45% thị phần), bánh cracker (52% thị
phần), bánh quế, bánh Snack, bánh mì công nghiệp
- Bánh trung thu: 75-80% thị phần
- Kẹo các loại
Thị trường tiêu thụ: chủ yếu là tiêu thụ nội địa (là doanh nghiệp sản xuất bánh
nghiệp trong nước dưới sức ép cạnh tranh từ hàng nhập khẩu phải không ngừng
đổi mới về công nghệ. Điều này mở ra nhiều cơ hội hơn là thách thức đối vối
các doanh ngiệp trong nước. Một số doanh nghiệp đã có thương hiệu ở Việt
Nam như bánh kẹo Bibica (BBC), Hải Hà, Tràng An, Hải Châu, Hữu Nghị…
5.2. Một số đối thủ cạnh tranh chính của Kinh Đô:
Ngành bánh kẹo là một ngành có tính cạnh tranh cao. Đặc biệt là
trong thời kỳ hiện nay nước ta đang trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế quốc tế
thì việc cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt hơn, không chỉ với những doanh
nghiệp nội địa mà còn với những doanh nhiêp nước ngoài. Kinh Đô là một trong
những công ty sản xuất bánh kẹo lớn nhất tại thị trường Việt Nam, có nền được
thiết lập vững chắc, bên cạnh đó công ty luôn phải đối mặt với những đối thủ
cạnh tranh. Một số những đối thủ trong ngành là: Bibica, Hà Hải,…
Công ty Cổ Phần Bibica _ công ty sản xuất bánh kẹo được người tiêu dùng
bình chọn là doanh nghiệp nằm trong danh sách năm Công ty hàng đầu của
ngành bánh kẹo Việt Nam. 11 năm liên tiếp đạt được danh hiệu "Hàng Việt Nam
chất lượng cao" (từ 1997-2007) với các chủng loại chính: Bánh quy, bánh
cookies, bánh layer cake, chocolate, kẹo cứng, kẹo mềm, kẹo dẻo, snack, bột
ngũ cốc dinh dưỡng, bánh trung thu, mạch nha Mục tiêu hoạt động là luôn
hướng đến sức khoẻ và lợi ích của người tiêu dùng. Điểm mạnh của Bibica đó
chính là sự phát triển một cách ổn định, có ưu thế về ngành kẹo và bánh bông
lan. Tuy nhiên, công ty này có một số yếu điểm đó là quy mô của công ty vẫn
còn nhỏ. Việc quản lý điều hành còn nhiều mặt hạn chế dẫn đến kết quả kinh
doanh không được tốt đẹp như kế hoạch đề ra cũng như mong muốn của các cổ
đông và các nhà đầu tư. Chính điều này đã gây ra tâm lý nghi ngờ cho các nhà
đầu tư và cổ đông.
Hải Hà : một công ty có bề dày hoạt động trong lĩnh vực sản xuất bánh
kẹo, được thành lập từ năm 1960. Trải qua hơn 40 năm, Công ty đã không
ngừng lớn mạnh và đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm trong sản xuất kinh
doanh. Công ty này chiếm khoảng 6,5% thị phần bánh kẹo cả nước tính theo
doanh thu, Kinh Đô chiếm khoảng 20%, Bibica chiếm khoảng 7%. Và 2 công ty
bằng công nghệ và kĩ thuật mới, chất lượng tươi thật sự, đủ các nhóm yếu tố
dinh dưỡng ( đạm, đường, béo, xơ, vitamin, khoáng chất, ) và đảm bảo an toàn
vệ sinh thực phẩm. Phát triển các dòng bánh mì sandwich cho nhu cầu ăn sang,
ăn dặm.
7.Thuận lợi & khó khăn của công ty:
7.1. Thuận lợi :
Sản phẩm của Kinh Đô đa dạng, nắm bắt tâm lý người tiêu dùng, giá cả hợp
lý.
Công nghệ sản xuất của Kinh Đô vượt trội so với các doanh nghiệp cùng
ngành.
Sản phẩm của Kinh Đô có sự đột phá về chất lượng, được cải tiến, thay đổi
mẫu mã thường xuyên với ít nhất trên 40 sản phẩm mới mỗi năm. Một điểm
khác biệt của Kinh Đô so với các doanh nghiệp khác là ngoài công nghệ hiện
đại, Công ty rất chú trọng vào kỹ thuật chế biến sản phẩm, nhất là công thức pha
chế phụ gia, nhờ đó mà các loại bánh kẹo của Kinh Đô có mùi vị hấp dẫn và
riêng biệt. Đây chính là một lợi thế cạnh tranh lớn của Kinh Đô, ngay cả đối với
những đối thủ trong ngành bánh kẹo có công nghệ tương đương.
Năm 2009, thương hiệu Kinh Đô liên tiếp có mặt trong hầu hết các bảng xếp
hạng danh giá nhất về mức độ nổi tiếng của thương hiệu cũng như mức độ tin
tưởng, đánh giá cao của người tiêu dùng. Kết quả này là phần thưởng xứng đáng
cho nỗ lực phấn đấu không ngừng của tập thể cán bộ công nhân viên trong quá
trình tạo dựng thương hiệu của Công ty thực phẩm hàng đầu Việt nam trong
chặng đường 16 năm phát triển.
• TOP 10 Thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam, xếp hạng nhất trong ngành
thực phẩm. Chương trình này do VCCI & Neilsen Việt Nam phối hợp tổ
chức dựa trên nghiên cứu người tiêu dùng bình chọn cho 500 thương hiệu.
• TOP 500 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam và Top 100 doanh nghiệp tư
nhân lớn nhất Việt Nam (theo doanh thu) năm 2009 do báo VietNamNet
& Công ty VietNam Report bình chọn.
• Cúp vàng “Thương hiệu vàng an toàn vệ sinh thực phẩm”.
Chương 2: Phân tích tình hình tài chính tại công ty cổ phần Kinh Đô
Phân tích khái quát tình hình tài chính doanh nghiệp sẽ cung cấp một cách
tổng quát tình hình tài chính trong kỳ kinh doanh là khả quan hay không khả
quan. Kết quả phân tích này sẽ cho phép nhà quản lý, chủ doanh nghiệp thấy rõ
được thực chất của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Để hiểu rõ hơn về
tình hình hoạt động kinh doanh ta xem xét các báo cáo tài chính của Kinh Đô
qua các năm.
Bảng 1: Bảng cân đối kế toán
TÀI SẢN 2007 2008 2009
A/ TÀI SẢN NGẮN HẠN 1,754,628,537 1,474,433,927 2,510,073,920
I/ Tiền và các khoản tương đương tiền
530,437,846 206,808,170 984,610,642
Tiền 230,437,846 206,808,170 984,610,642
Các khoản tương đương tiền 300,000,000 0
II/ Các khoản đầu tư tài chính ngắn
hạn
522,518,126 584,291,011 518,183,741
Đầu tư tài chính ngắn hạn 527,449,921 643,023,330 533,213,382
Dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn (4,931,795) (58,732,319) (15,029,641)
III/ Các khoản phải thu
560,318,358 489,407,201 825,182,838
Phải thu khách hang 77,627,504 96,532,749 127,092,644
Trả trước cho người bán 141,969,880 93,075,617 34,334,430
Các khoản phải thu khác 340,720,974 300,513,284 664,678,109
Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi 0 (714,449) (922,345)
IV/ Hàng tồn kho
136,271,839 181,656,311 162,475,837
Hàng tồn kho 136,666,690 182,821,067 163,068,864
Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (394,851) (1,164,756) (593,027)
V/ Tài sản ngắn hạn khác
3,724,858 17,012,263 32,318,075
Chí phí trả trước dài hạn 0 12,129,695 15,882,818
Tài sản thuế thu nhập hoãn lại 3,724,858 4,833,063 16,385,752
Tài sản dài hạn khác 0 49,505 49,505
V/ Lợi thế thương mại
0
38,427,506 32,036,205
TỔNG CỘNG TÀI SẢN
3,067,474,483 2,983,409,668 4,247,601,003
NGUỒN VỐN
A/ NỢ PHẢI TRẢ
593,513,094 835,925,921 1,767,439,812
I/ Nợ ngắn hạn
467,800,039 663,884,852 1,632,683,145
Vay và nợ ngắn hạn 263,002,967 335,922,102 407,352,637
Phải trả người bán 156,329,916 106,664,785 127,404,030
Người mua trả tiền trước 3,105,396 9,827,695 35,447,325
Thuế và các khoản phải nộp nhà nước 8,589,225 8,037,812 65,170,040
Phải trả người lao động 4,595,596 1,501,382 9,889,841
Chi phí phải trả 1,050,856 4,832,030 55,718,177
Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn
khác 31,126,083 197,099,046 931,701,095
II/ Nợ dài hạn
125,713,055 172,041,069 134,756,667
Vay và nợ dài hạn 112,409,992 156,028,455 119,394,033
Dự phòng trợ cấp mất việc làm 13,303,063 16,012,614 15,362,634
B/ VỐN CHỦ SỞ HỮU 2,453,493,650 2,075,922,772 2,418,021,466
I/ Vốn chủ sở hữu
2,447,396,002 2,075,922,772 2,413,130,301
Vốn cổ phần 469,996,650 571,148,760 795,462,590
(1,023,962,679)
Lợi nhuận gộp từ bán hàng và cung cấp dịch vụ
321,977,715 369,788,710 505,392,800
Doanh thu từ hoạt động tài chính 96,999,996 118,538,178 63,853,564
Chi phí tài chính (44,308,693) (313,378,932) 8,807,083
- Trong đó chi phí lãi vay (31,710,058) (52,363,765) (43,758,070)
Chi phí bán hàng (95,426,947) (133,177,719) (164,175,052)
Chi phí quản lý (72,967,695) (121,882,153) (112,089,615)
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 206,274,376 (80,111,916) 301,788,780
Thu nhập khác 21,149,879 28,372,935 376,775,688
Chi phí khác (11,000,690) (8,806,921) (118,935,546)
Lợi nhuận khác 10,149,189 19,566,014 257,840,142
Lợi nhuận từ công ty liên kết 6,045,096 (1,143,329) 12,680,395
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 222,468,661 (61,689,231) 572,309,317
Chi phí thuế thu nhập hiện hành 0 0 (60,918,969)
Lợi ích thuế thu nhập hoãn lại 1,658,742 1,087,205 11,552,689
Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 224,127,403 (60,602,026) 522,943,037
Lãi cơ bản trên cổ phiếu: 4.764 (1.08)
Bảng 2: Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
1. Phân tích kết cấu và khái quát tình hình biến động của công ty Kinh Đô
1.1. Phân tích kết cấu tài sản ( kết cấu vốn):
Phân tích kết cấu tài sản tức là phân tích và đánh giá sự biến động các bộ phận
cấu thành tổng số vốn của doanh nghiệp. Qua đó ta sẽ thấy được trình độ sử
dụng vốn, cũng như tính hợp lý của việc phân bổ các loại vốn … từ đó đề ra
các biện pháp thích hợp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Chỉ tiêu
Tỉ lệ ( so với tài sản hoặc nguồn vốn)
Tài sản ngắn hạn
58.5%
Từ bảng số liệu trên thì tài sản ngắn hạn chiếm tỷ lệ 59% cao hơn nhiều
trong tài sản dài hạn (41%). Việc chiếm tỷ lệ cao này là do công ty đã đã có
lượng tiền mặt khá cao (23%). Việc nắm giữ tiền mặt nhiều thì thuận lợi ở đây
phải kể đến là công ty có khả năng chi trả cao, luôn có lượng tiền mặt để đáp
ứng các nhu cầu trong công ty, khó khăn công ty phải đối mặt là nếu tiền mặt
quá nhiều thì.( ). Một phần khác làm cho nguồn tài sản ngắn hạn cao là các
khoản phải thu (19%) và các khoản đầu tư ngắn hạn (12%). Khoản phải thu cao
tức là công ty đã cấp tín dụng cho các đối tác nhiều. Đầu tư ngắn hạn (12%)
công ty đã thực hiện việc đầu tư, mỗi lần đầu tư thì số lợi nhuận từ việc đầu tư
mang lại lượng tiền mặt để công ty có thể chi trả cho hoạt đông khác. Bên cạnh
đó, hàng tồn kho chiếm 4% của toàn bộ tài sản. Công ty đã nắm giữ lượng tồn
kho vừa phải để cung cấp cho thị trường khi cần thiết.
Tài sản dài hạn chiếm 41%. Cụ thể là công ty đã đã đầu tư vào tài sản cố
định khá cao ( 15%), chủ yếu là mua trang thiết bị, máy móc mới để phục vụ
cho việc sản xuất kinh doanh của mình. Phần lớn số tiền còn lại công ty đã bắt
đầu đi đầu tư vào dài hạn vào các lĩnh vực khác. Chính số tiền đầu tư này đã
đem lại lợi nhuận từ số tiền lãi đi đầu tư của mình.
Nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu lần lượt là 42%, 58%. Công ty đã
dùng nợ phải trả đề chi trả tiền vay ngân hàng đến kì hạn, tiền lãi cho các khoản
vay, thuế, trả chi phí cho người lao động. Các khoản nợ dài hạn công ty chi trả
vẫn thấp hơn so với các khoản nợ ngắn hạn 3-17% so với 38.43%. Các khoản
này chiếm khá cao trong nguồn vốn nhưng tỷ lệ này vẫn nhỏ hơn nguồn vốn chủ
sở hữu (58%), hầu hết tỷ lệ này chứng tỏ công ty đã hoạt đông có hiệu quả từ
nguồn vốn của mình.
1.2. Phân tích tình hình biến động của tài sản
Qua bảng phân tích trên ta nhận thấy tổng tài sản của doanh nghiệp năm
2009 tăng so với năm 2008 là 1.035.639.993, tức là tăng 70,23%.
1.1.1.Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn: So với năm 2008 thì tài sản lưu
động và đầu tư ngắn hạn năm 2009 đã tăng ( từ 1.073.698.212 đến
1.343.366.579). Nguyên nhân của sự biến động này là do các khoản phải thu
cổ đông tăng do công ty đã phát hành thêm cổ phiếu lưu thông trên thị trường.
1.2.2. Nợ phải trả: Ta có thể thấy nợ phải trả trong năm 2009
( 1.767.439.812) tăng mạnh so với 2008 ( 835.925.921). Mức tăng này đã làm tỉ
trọng của nợ phải trả trong tổng nguồn vốn tăng. Nguyên nhân của sự biến động
này là do: các khoản vay ngắn hạn tăng mạnh, các khoản phải trả cũng tăng
mạnh.
Từ những số liêu trên ta thấy:
Quy mô của doanh nghiệp ngày càng tăng, tuy nhiên kết cấu vốn chủ sở
hữu trong tổng vốn thì lại giảm thể hiện tính chủ động trong kinh doanh của
doanh nghiệp ngày càng giảm. Mặt khác các khoản nợ phải trả lại tăng lên mà
chủ yếu là các khoản vay ngắn hạn. Nếu kết hợp phân tích theo chiều ngang ta
thấy tốc độ tăng của vốn chủ sở hữu chậm hơn so với tốc độ tăng của nợ phải
trả, đây là dấu hiệu không tốt vì nó cho thấy khả năng đảm bảo nợ vay bằng
nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp đang có chiều hướng giảm dần, do đó
trong những năm tới doanh nghiệp nên bố trí lại cơ cấu vốn sao cho phù hợp
hơn bằng cách giảm bớt lượng vốn vay và nâng dần tỷ trọng vốn chủ sở hữu
trong tổng vốn.
1.4. Tình hình doanh thu và lợi nhuận:
Trong năm 2009, doanh thu thuần của công ty trong năm 2009 đạt 1527 tỷ
đồng, tăng 4,9% so với năm 2008 tuy nhiên vẫn thấp hơn so với kế hoạch đặt ra
ở mức 1747 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế đạt 573 tỷ đồng, vượt 10,4% so với
kế hoạch đã điều chỉnh là 530 tỷ đồng
Trong đó doanh thu tăng cao chủ yếu là vào Tết Trung thu và dịp Tết âm
lịch. Sản phẩm bánh trung thu của công ty chiếm đến 75% thị phần bánh trung
thu cả nước. Đồng thời với thiết kế bao bì hoàn toàn mới và sự cải tiến trong
chất lượng sản phẩm, không chỉ là quà biếu trao nhau mà còn gửi gắm câu chúc
đầu xuân, mặt hàng Tết của công ty đã tăng trưởng 15% so với cùng kỳ năm
trước, đưa ra thị trường hơn 30 triệu hộp sản phẩm các loại. Cơ cấu sản phẩm
của công ty đa dạng và nhiều chủng loại.Tăng trưởng doanh thu các loại bánh
bông lan công nghiệp, cracker và bánh trung thu trong năm 2009 ở mức cao.
hình dung năm 2009 khi mà cuộc khủng hoảng kinh tế đã dịu bớt xuống công ty
Chỉ tiêu
2008 2009
Chênh lệch
2009/2008
Tài sản ngắn hạn 1.474.433.927 2.510.073.920 170%
Nợ ngắn hạn 663.884.852 1.632.683.145 246%
Tỷ số thanh toán
hiện hành 2,22 1,54
bắt đầu tăng sản xuất nhưng do năm 2008 công ty bị lỗ nên qua năm 2009, để
tăng sản xuất công ty phải huy động thêm vốn bằng vay ngắn hạn và chiếm dụng
vốn của người bán, người lao động vì sức khỏe thị trường đang dần hồi phục
nên việc tăng sản xuất đã giúp số tiền mặt tăng lên, đồng thời các khoản phải thu
cũng tăng.Tỉ số thanh toán giảm đi cũng chưa hẳn là xấu, tuy nhiên công ty cần
xem xét lại về việc mức nợ ngắn hạn lại tăng nhiểu hơn mức tăng trong tài sản
lưu động
2.1.2.Tỷ số thanh toán nhanh:
Hệ số thanh toán nhanh là tiêu chuẩn đánh giá khả năng thanh toán thận trọng
hơn. Nó phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong điều kiện không
bán hết hàng tồn kho. Hệ số này khác hệ số thanh toán hiện hành ở chỗ là nó
loại trừ hàng tồn kho ra khỏi công tức tính, bởi vì hàng tồn kho không có tính
thanh khoản cao.
R
q
= (tài sản lưu động - hàng tồn kho) / nợ ngắn hạn
Năm 2008: Tỷ số thanh toán nhanh = (1.474.433.927-181.656.311) /
663.884.852 = 1,95
Năm 2009: Tỷ số thanh toán nhanh=(2.510.073.920-162.475.837) /
1.632.683.145 = 1,44
Tỷ số thanh toán nhanh của công ty cho thấy khả năng thanh toán thật sự
Qua hai năm ta thấy, tỷ số thanh toán tức thời công ty tăng nhanh, điều này cũng
đồng nghĩa với việc công ty có 0,6đ để trả 1đ cho nợ khi đến hạn (2009). Nhưng
điều này cũng cần xem xét lại tỷ số này tăng là do công ty đã vay quá nhiều vào
năm 2009 tăng 2,46 lần so với năm 2008. Đồng thời tiền mặt của nó đã tăng
4,76 lần qua hai năm, cho thấy công ty đã nắm giữ quá nhiều tiền mặt ( tiền mặt
quá nhàn rỗi) làm ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của Kinh Đô.
2.2. Phân tích tỷ số đòn bẩy tài chính:
2.2.1.Tỷ số nợ:
Tỷ số nợ = tổng nợ / tổng tài sản
2008 2009 Chênh lệch
Chỉ tiêu
2009/2008
Nợ 835.925.921 1.767.439.812 211%
Tổng Tài sản 2.983.409.668 4.247.601.003 142,4%
Tỷ số nợ 0,28 0,42
Năm 2009 tỷ số này là 0,42 cho thấy 42% tài sản của công ty được tài trợ
bằng vốn vay.Tỷ số này tăng so với năm 2008 là do tuy cả nợ và tài sản đều tăng
nhưng mức tăng trong nợ (2,11 lần) lớn hơn mức tăng trong tổng tài sản (1,4
lần).Tăng trong tổng nợ là tăng đáng kể trong nợ ngắn hạn còn nợ dài hạn lại
giảm. Công ty cần xem xét để không làm tỷ số này tăng nhiều vì tài sản mà được
tài trợ bằng nợ quá nhiều thì cũng rủi ro cao, thêm vào đó công ty phải đảm bảo
sao cho có s‘n lượng tiền để chi trả cho những khoản nợ ngắn hạn, để không gây
mất lòng tin nơi người cho vay.
2.2.2.Tỷ số nợ trên vốn cổ phần
Tỷ số nợ trên vốn cổ phần = tổng nợ / vốn cổ phần
Chỉ tiêu
2008 2009
Chênh lệch
2009/2008
vốn cổ phần. Điều này cũng cho thấy về tình hình vay nợ của công ty. Tỷ số này
tăng so với năm 2008.
Tất cả những tỷ số trong phần tỷ số đòn bẩy này cho thấy công ty nên xem
lại việc vay nợ của mình
2.2.4. Tỷ số khả năng thanh toán lãi vay:
Ta biết rằng gánh nợ về tài chính mà công ty phải đương đầu phụ thuộc rất
lớn vào khả năng tạo ra dòng tiền để chi trả nợ theo yêu cầu hàng năm. Lãi vay
là một nghĩa vụ tài chính đó và được đảm bảo chi trả từ lợi nhuận từ hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó để đánh giá khả năng thanh toán nợ trong
dài hạn ta cần phân tích hệ số khả năng chi trả lãi vay được tính như sau:
Khả năng thanh toán lãi vay = (lãi trước thuế và lãi vay) / lãi vay
Chỉ tiêu
2008 2009
Lãi trước thuế (61.689.231) 572.309.317
Lãi vay 52.363.765 43.758.070
Khả năng thanh toán lãi vay - 14,07
Trong năm 2008 ta thấy tỉ số này là một con số âm, chứng tỏ công ty đã làm mất
đi lòng tin từ phía các nhà đầu tư. Do trong năm 2008 xảy ra cuộc khủng hoảng
tài chính, cũng phần nào làm vơi đi nỗi lo lắng từ các nhà đầu tư. Nhưng đến
năm 2009, tỷ số này có phần chuyển biến khá rõ, từ con số âm công ty đã vượt
lên 14,07, đã lấy lại được lòng tin từ phía nhà đầu tư.
2.3. Phân tích tỷ số hoạt động :
2.3.1.Tốc độ luân chuyển khoản phải thu phản ánh khả năng thu hồi nợ của
doanh nghiệp và được xác định bởi công thức sau:
Số vòng quay các khoản phải thu = doanh thu thuần / các khoản phải thu
Kỳ thu tiền bình quân = các khoản phải thu / doanh thu bình quân ngày
Chỉ tiêu
2008 2009
Chênh lệch
2009/2008
Năm 2009 tỷ số này là 9,4 cho thấy hàng tồn kho luân chuyển 9,4 vòng có
nghĩa là khoảng 38 ngày 1 vòng. Tỷ số này tăng so với năm 2008, tăng là do
doanh thu thuần tăng và hàng tồn kho giảm xuống.Vòng quay hàng tồn kho tăng
cho thấy công ty có chính sách quản lý hàng tồn kho tốt hơn. Với đặc điểm là
công ty kinh doanh thực phẩm: bánh, kẹo thì hàng hóa với khoảng 38 ngày
quay vòng là cũng thích hợp.
Ngoài ra, hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề then chốt gắn liền với sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp, là chỉ tiêu được sự quan tâm đặc biệt của chủ sở
hữu vốn và là thước đo năng lực của nhà quản trị doanh nghiệp. Trong nền kinh
tế hiện đại khi mà các nguồn lực mỗi ngày hạn hẹp đi và chi phí cho việc sử
dụng chúng ngày càng cao, vấn đề sử dụng hiệu quả nguồn lực ngày càng trở
nên cấp thiết.
Để đánh giá xem tài sản của công ty đã được sử dụng tốt đến mức độ nào để
sinh ra lợi nhuận ta phân tích một số chỉ tiêu sau:
2.3.3. Hiệu suất sử dụng tài sản cố định:
Hiệu suất sử dụng tài sản cố định = doanh thu thuần / tài sản cố định
Chỉ tiêu
2008 2009
Chênh lệch
2009/2008
Doanh thu thuần 1.455.768.275 1.529.355.479 5,05%
Tài sản cố định 749.091.750 656.084.839 87,6%
Hiệu suất sử dụng tài sản
cố định 1,94 2,33
Năm 2009 tỷ số này là 2,33 cho thấy 1đ tài sản cố định tạo ra 2,33đ doanh
thu
Tỷ số này tăng so với năm 2008, tăng là do doanh thu thuần tăng trong khi
đó tài sản cố định giảm. Trong tài sản cố định chỉ có tài sản cố định hữu hình là
tăng còn các khoản tài sản cố định thuê tài chính, tài sản cố định vô hình, chi phí
xây dựng cơ bản dở dang đều giảm mà giảm đáng kể nhất là chi phí xây dựng dở