HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
TIỂU LUẬN MÔN HỌC
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÔ THỊ
Đề tài: Quản lý tài nguyên nước trong
bối cảnh đô thị phát triển nhanh ở Việt Nam
1
MỤC LỤC
Trang
PHẦN MỞ ĐẦU 4
PHẦN NỘI DUNG 6
I. Đô thị 6
1.1 Khái niệm 6
1.2 Phân loại 6
1.3 Phân cấp quản lý đô thị 7
II. Đô thị hóa 7
2.1 Khái niệm 7
2.2 Tác động của đô thị hóa 8
III. Tài nguyên nước 8
3.1 Tài nguyên là gì? Có các loại tài nguyên nào? 8
3.2 Tài nguyên nước là gì? 9
3.3 Thực trạng tài nguyên nước ở các đô thị 10
3.4 Thực trạng quản lý tài nguyên nước 15
IV Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, 22
bảo vệ, sử dụng nguồn tài nguyên nước ở nước ta
PHẦN KẾT LUẬN 23
Tài liệu tham khảo 24
2
DANH MỤC CÁC BẢNG
Tên bảng Trang
hình thành trên diện rộng, số lượng lớn, tốc độ nhanh các khu công nghiệp, khu
chế xuất, khu đô thị mới và sự cải thiện đáng kể kết cấu hạ tầng ở cả thành thị và
nông thôn. Làn sóng đô thị hoá đã lan toả, lôi cuốn và tác động trực tiếp đến nông
nghiệp, nông thôn, nông dân.
Tính đến giữa năm 2008, trên phạm vi cả nước đã có gần 200 khu công
nghiệp, phân bố trên địa bàn 52 tỉnh, thành phố với trên 6.000 dự án đầu tư trong,
ngoài nước, thu hút hơn 1.000.000 lao động. Phần lớn diện tích các khu công
nghiệp, khu chế xuất là đất nông nghiệp và lực lượng chủ yếu bổ sung vào đội ngũ
lao động công nghiệp là nông dân.
Những năm qua, hệ thống đô thị Việt Nam đang trong quá trình phát triển.
Đến cuối năm 2007, cả nước có trên 700 điểm cư dân đô thị, tăng hơn 40% so với
năm 1995. Bên cạnh những đô thị có bề dày lịch sử tiếp tục được mở mang, nâng
cấp, đáng chú ý là sự xuất hiện ngày càng nhiều các khu đô thị mới tập trung, trong
đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng toả rộng, tạo thành những nét mới ở nông
thôn.
Làn sóng đô thị hóa cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa luôn
có tính hai mặt, một mặt góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, đất nước giàu mạnh,
phồn vinh, đời sống nhân dân ngày một nâng cao; song mặt khác, dẫn đến hiện
4
tượng khai thác vô tội vạ các nguồn tài nguyên, sử dụng lãng phí, gây cạn kiệt tài
nguyên, đồng thời, hủy hoại môi trường một cách trầm trọng. Trong số các nguồn
tài nguyên, thì tài nguyên nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng vì nó phục vụ cho
nhu cầu sinh hoạt, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và mọi hoạt động tồn tại của
con người. Thực trạng tài nguyên nước hiện nay bị ô nhiễm trầm trọng, suy thoái
tài nguyên nước, thất thoát nguồn nước sạch cung cấp cho sản xuất, sinh hoạt
v.v thực sự đang đặt nhiều ra nhiều bài toán về công tác quản lý nhà nước về tài
nguyên nước trong bối cảnh các đô thị ngày một phát triển.
Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Quản lý tài nguyên nước trong bối cảnh các đô
thị phát triển ở Việt Nam” cho tiểu luận môn học Quản lý nhà nước về đô thị để
tìm hiểu một cách cơ bản về thực trạng nguồn tài nguyên nước, thực trạng quản lý
- Theo chức năng hành chính – chính trị: thủ đô (quốc gia hay liên bang);
thủ đô bang (nếu có cơ cấu hành chính liên bang); tỉnh lỵ; huyện lỵ.
- Theo cấp hành chính – chính trị: đô thị không thuộc huyện ngang cấp
huyện và đô thị thuộc huyện ngang cấp xã. Ở Việt Nam, thành phố trực thuộc trung
ương ngang cấp tỉnh; thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã ngang cấp huyện và thị trấn
ngang cấp xã.
- Theo tính chất sản xuất: đô thị công nghiệp, đô thị văn hóa, đô thị du
lịch…
6
- Phân loại tổng hợp: ở Việt Nam có đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, đô thị
loại II, đô thị loại III, đô thị loại IV, đô thị loại V.
1.3 Phân cấp quản lý đô thị:
- Xuất phát từ những căn cứ: kết quả phân loại đô thị đã được các cấp có
thẩm quyền duyệt; cơ cấu hành chính – chính trị đô thị; nhu cầu tổ chức quản lý
hành chính nhà nước theo lãnh thổ; quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội,
quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống đô thị quốc gia và vùng, quy hoạch chung
xây dựng đô thị đã được cơ quan có thẩm quyền duyệt; các quy định pháp luật.
- Theo Nghị định 72/2001/NĐ-CP thì thành phố trực thuộc trung ương tương
đương cấp tỉnh phải là đô thị đặc biệt hay loại I; thành phố thuộc tỉnh, thị xã tương
đương cấp huyện thuộc đô thị loại 2, 3, và loại 4 và do tỉnh quản lý; các thị trấn
thuộc đô thị loại 4, đô thị loại 5 còn lại do huyện quản lý.
II. Đô thị hóa:
2.1 Khái niệm:
Đô thị hóa là sự mở rộng của đô thị, tính theo tỷ lệ phần trăm giữa số dân đô
thị hay diện tích đô thị trên tổng số dân hay diện tích của một vùng hay khu vực.
Nó cũng có thể tính theo tỷ lệ gia tăng của hai yếu tố đó theo thời gian. Nếu tính
theo cách đầu thì nó còn được gọi là mức độ đô thị hoá; còn theo cách thứ hai, nó
có tên là tốc độ đô thị hoá.
Các nước phát triển (như tại châu Âu, Mỹ hay Úc) thường có mức độ đô thị
hoá cao (trên 80%) hơn nhiều so với các nước đang phát triển (như Việt Nam hay
Tài nguyên là đối tượng sản xuất của con người. Xã hội loài người càng phát
triển, số loại hình tài nguyên và số lượng mỗi loại tài nguyên được con người khai
thác ngày càng tăng.
Người ta phân loại tài nguyên như sau:
+ Theo quan hệ với con người: Tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên xã hội.
+ Theo phương thức và khả năng tái tạo: Tài nguyên tái tạo, tài nguyên
không tái tạo.
+ Theo bản chất tự nhiên: Tài nguyên nước, tài nguyên đất, tài nguyên rừng,
tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên năng lượng, tài nguyên khí hậu
cảnh quan, di sản văn hoá kiến trúc, tri thức khoa học và thông tin.
Tài nguyên thiên nhiên được chia thành hai loại: tài nguyên tái tạo và tài
nguyên không tái tạo.
+ Tài nguyên tái tạo (nước ngọt, đất, sinh vật v.v ) là tài nguyên có thể tự
duy trì hoặc tự bổ sung một cách liên tục khi được quản lý một cách hợp lý. Tuy
nhiên, nếu sử dụng không hợp lý, tài nguyên tái tạo có thể bị suy thoái không thể
8
tái tạo được. Ví dụ: tài nguyên nước có thể bị ô nhiễm, tài nguyên đất có thể bị
mặn hoá, bạc màu, xói mòn v.v
+ Tài nguyên không tái tạo: là loại tài nguyên tồn tại hữu hạn, sẽ mất đi hoặc
biến đổi sau quá trình sử dụng. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản của một mỏ có
thể cạn kiệt sau khi khai thác. Tài nguyên gen di truyền có thể mất đi cùng với sự
tiêu diệt của các loài sinh vật quý hiếm.
Tài nguyên con người (tài nguyên xã hội) là một dạng tài nguyên tái tạo đặc
biệt, thể hiện bởi sức lao động chân tay và trí óc, khả năng tổ chức và chế độ xã
hội, tập quán, tín ngưỡng của các cộng đồng người.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật đang làm thay đổi giá trị của
nhiều loại tài nguyên. Nhiều tài nguyên cạn kiệt trở nên quý hiếm; nhiều loại tài
nguyên giá trị cao trước đây nay trở thành phổ biến, giá rẻ do tìm được phương
pháp chế biến hiệu quả hơn, hoặc được thay thế bằng loại khác. Vai trò và giá trị
của tài nguyên thông tin, văn hoá lịch sử đang tăng lên.
nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thì nước được hiểu như sau:
1.Nước thô là nước khai thác trực tiếp từ nguồn nước chưa qua xử lý.
2. Nước thải là nước đã qua sử dụng và thải ra môi trường.
3.3 Thực trạng tài nguyên nước ở các đô thị:
Thực tế cho thấy Việt Nam không còn được coi là phong phú mà là nước
“nghèo” về tài nguyên nước, khi 70% nguồn nước phụ thuộc vào bên ngoài, lưu
lượng giữa các mùa chênh lệch lớn. Những dấu hiệu của tình trạng biến đổi khí hậu
đã làm nguy cơ khan hiếm, thiếu nước, căng thẳng về nước biểu hiện rõ ràng trên
nhiều vùng, lưu vực sông. Chất lượng nước trên nhiều dòng sông đã bị ô nhiễm
nghiêm trọng.
Các đô thị ngày một phát triển và tăng nhanh, kéo theo sự gia tăng dân số,
các chung cư, cao ốc văn phòng, khu chế xuất đang làm nhu cầu sử dụng nước
không ngừng tăng. Và chính các đô thị đang từng ngày thọc sâu hút cạn kiệt nguồn
nước ngầm từ lòng đất.
Thống kê sơ bộ cho thấy, lượng nước khai thác sử dụng cho các đô thị từ vài
trăm đến hàng triệu mét khối/năm, trong đó khoảng 50% nguồn nước cung cấp cho
các đô thị được khai thác từ nguồn nước ngầm.
Các nguồn nước ngầm được khai thác nằm ngay trong đô thị hoặc ven đô
thị. Chỉ tính riêng Hà Nội, hiện mỗi ngày khai thác khoảng 800.000m3 (khoảng
300 triệu mét khối /năm); TPHCM khai thác khoảng 500.000m3 (khoảng 200 triệu
mét khối /năm). Các đô thị khu vực đồng bằng Nam Bộ cũng đang khai thác
khoảng 300.000 mét khối /ngày (110 triệu mét khối /năm).
Các kết quả nghiên cứu quan trắc mới nhất cho thấy, tại một số đô thị lớn
như Hà Nội, TPHCM, Hải Phòng, Hòn Gai, Vinh, Cà Mau, Sóc Trăng, Bạc Liêu
10
nguồn nước ngầm đang có những dấu hiệu cạn kiệt, ô nhiễm, nhiễm mặn. Mực
nước của các tầng chứa nước khai thác bị hạ thấp liên tục theo thời gian.
Điển hình như Hà Nội, mực nước tầng chứa Pleistoxen hạ thấp với tốc độ
0,4m/năm; TPHCM là 0,6m/năm; Cà Mau là 1m/năm Sự nhiễm bẩn nguồn nước
ngầm quan sát được ở các thành phố Hà Nội, Lạng Sơn, Đồng Hới, TPHCM ;
năm 2005 là 5.264,01 ha đất với diện tích mạt nước hu hoạch 9.015,6ha; nuôi trồng
các loạithủy sản khác như cá mú, cá chẽm bè với tổng diện tích nước mặt là
22,6ha.
11
Bảng 1: Tình hình nuôi tôm sú của huyện Cần giờ 2000 – 2005
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2204 2005
Diện tích (ha) 2.773 3.779 4.076 4.648 4.954 5.315
Sản lượng (tấn) 579 2.700 3.200 5.421 6.200 6.670
Giá trị (ngàn
đồng)
43.425 202.500 240.000 406.575 465.000 500.250
(Nguồn: Phòng kinh tế huyện Cần Giờ)
Bảng 2: Số hộ và diện tích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn thành phố hồ Chí
Minh qua các năm:
Chỉ tiêu Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004
Số hộ nuôi thủy sản (hộ) 4.800 6.910 9.351 7.622
Diện tích mặt nước nuôi
(ha)
2.596 3.068 4.585 5.742
Diện tích mặt biển nuôi
(ha)
2.853 2.842 3.101 2.600
(Nguồn: số liệu thống kê kinh tế xã hội Tp.HCM)
- Khai thác nước mặn sản xuất diêm nghiệp tập trung tại huyện Cần Giờ.
Năm 2005 sử dụng diện tích 1.220 ha thu được sản lượng 60.000 – 70.000 tấn
muối và sản phẩm sau muối.
- Khai thác sử dụng giao thông thủy: Với tuyến sông Lòng tàu, sông Đồng
Nai, sông Soài Rạp đã được đưa vào khai thác phục vụ giao thông hàng hải với tải
có trên 100.000 giếng khoan với tổng lưu lượng khai thác 615.242,1 m
3
/ngày;
trong đó 347.980m
3
(chiếm 56,61%) được dùng cho mục đích sản xuất, số còn lại
được dùng cho sinh hoạt. Tổng số giếng và lưu lượng khai thác tập trung ở tầng
chứa nước Pleistocen và tầng pliocen muộn. Có thể thấy lưu lượng khai thác tại
các tầng nước qua bảng sau:
Bảng 3: Lưu lượng khai thác tại các tầng chứa nước dưới đất
Tầng chứa nước Lưu lượng khai thác (m
3
/ngày)
Tầng chứa nước Holocen 116
Tầng chứa nước Pleistocen 284.654,4
Tầng chứa nước Pliocen muộn 323.309,6
Tầng chứa nước Pliocen sớm 2.960
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường TpHCM.
Số giếng khai thác nước dưới đất tập trung chủ yếu vào hai tầng chứa nước
chính: tầng pleistocen và tầng liocen muộn. Mật độ giếng khai thác ở tầng
pleistocen tập trung vào các quận: quận 3,10,11, Gò Vấp, Tân Bình, Phú Nhuận,
Bình Thạnh. Mật độ cao nhất là quận Phú Nhuận (869,6 giếng/km
2)
, nhỏ
nhất là
quận 7 (0,4 giếng/km
2
) và các huyện không khai thác huyện Cần Giờ và Nhà Bè.
Mật độ giếng khai thác ở tầng liocen muộn tập trung vào các quận, huyện: quận
3
/ngày
Quận Thủ Đức: 36.076,2m
3
/ngày
Huyện Hóc Môn: 33.676,0m
3
/ngày
Quận 11: 25.934,0m
3
/ngày
Quận huyện còn lại: Từ 570,0m
3
/ngày đến 20.036,0m
3
/ngày
Quận có lưu lượng khai thác nhiều nhất là Quận Tân Bình, quận có lưu
lượng khai thác nhỏ nhất là Quận 4 (570m
3
/ngày).
Nhu cầu khai thác nước dưới đất bùng nổ vào sau năm 1991, đây chính là
thời kỳ đổi mới rất mạnh mẽ của thành phố, tốc độ đô thị hóa rất nhanh, nhiều cơ
sở sản xuất được thành lập nhất là các khu vực quận ven và các huyện ngoại thành.
Theo số liệu thống kê, số cơ sở sản xuất công nghiệp năm 1976 là 18.164 cơ sở đã
tăng lên 35.096 cơ sở sản xuất (năm 2005). Sự gia tăng dân số cũng là một nguyện
nhân làm tăng nhu cầu sử dụng nước, vào năm 1976 dân số thành phố chỉ có
3.391.000 người hiện đã tăng lên 6 triệu người (chưa kể người nhập cư có khoảng
trên 5 triệu). Ngoài ra, sự phát triển ngành nông nghiệp - chăn nuôi cũng đòi hỏi
một lượng nước khá lớn. Bên cạnh đó, các công trình cấp nước phục vụ cho các
nhu cầu tăng trên không kịp thời nhiều khu vực, nhiều nơi kể cả trong khu vực nội
Chính việc khai thác không giấy phép còn dẫn đến tình trạng khai thác tràn
lan, nhất là ở vùng nông thôn (mỗi nhà có một giếng). Điều đó sẽ phá hỏng tầng
chứa nước, làm cho nước bị suy thoái về chất như nhiễm bẩn, nhiễm mặn nguồn
nước.
Việc khai thác, sử dụng nguồn tài nguyên nước hiện nay chưa phát huy hiệu
quả, hợp lý do thiếu các giải pháp đồng bộ.
Bên cạnh đó, việc quản lý, sử dụng nước không theo chương trình cụ thể,
hiệu quả nên dẫn đến tình trạng tại các đô thị, mực nước ngầm bắt đầu có nhiều
dấu hiệu sụt lún.
15
16
BẢNG 4. SỬ DỤNG CÔNG CỤ SWOT
XÁC ĐỊNH MỘT SỐ VẤN ĐỀ TRONG QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN NƯỚC
Các tiêu chí S W O T
Tài chính
- Có nguồn kinh phí thực
hiện. Chẳng hạn, Chương
trình chống thất thoát, thất
thu nước sạch năm 2010
của Bộ Xây dựng khoảng
9400 tỷ đồng gồm vốn
ngân sách, vay vốn ODA
và vay thương mại.
Chương trình mục tiêu
quốc gia nâng cao hiệu
quả quản lý, bảo vệ, sử
dụng tài nguyên nước từ
2010 – 2020 của Chính
phủ kinh phí 6000 tỷ đồng
gồm 60% vốn hỗ trợ và
viện trợ đa dạng từ
quốc tế tại sự phong
phú về nguồn tài
chính. (3 điểm)
Nguồn kinh phí là
khá lớn thật sự là
một thách thức
không chỉ đối với
Nhà nước, mà cả
cộng đồng, cá nhân,
tổ chức, doanh
nghiệp, không chỉ ở
hiện tại mà cả tương
lai liên quan việc bảo
vệ, khai thác, sử
dụng tài nguyên
nước cũng như giải
quyết các vấn đề về ô
nhiễm môi trường,
các hậu quả phát
sinh. (3 điểm)
17
Quyền lực - Có sự quan tâm, chỉ đạo
sâu sát của Chính phủ, Bộ
ngành trung ương, chính
quyền ở các đô thị lớn. (3
điểm)
- Có sự quyết tâm xử lý
các vụ gây ô nhiễm. Vụ
VEDAN gây ô nhiễm
với các hành vi vi
phạm. (2 điểm)
- Mức độ trao quyền
cho các doanh
nghiệp, cá nhân, tổ
chức phi Nhà nước
trong quản lý, khai
thác, sử dụng tài
nguyên nước. (2
điểm)
18
Thể chế, cơ chế - Có Luật Tài nguyên
nước 1998, các Nghị định
Chính phủ, các chương
trình, kế hoạch của Bộ
ngành trung ương, của
chính quyền địa phương ở
các đô thị lớn. TPHCM có
Quyết định số
17/2006/QĐ-UBND ngày
19/02/2006 về ban hành
Quy định quản lý tài
nguyên nước trên địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh (3
điểm)
- Cơ chế, thủ tục thanh,
quyết toán kinh phí đầu
tư, thực hiện các dự án
liên quan việc khai thác,
sử dụng, bảo vệ tài nguyên
khích các nguồn lực
xã hội đầu tư cho
các hoạt động bảo
vệ, khai thác, sử
dụng nước tiết
kiệm, hiệu quả và
ứng phó với các
biến đổi của tài
nguyên nước. (3
điểm)
- Sự phù hợp giữa cơ
chế với đòi hỏi của
tình hình là thách
thức lớn. (3 điểm)
19
Bộ máy, con
người
- Có hệ thống các cơ quan
từ trung ương đến địa
phương, đội ngũ cán bộ,
chuyên gia đầu ngành để
thực thi.(2 điểm)
- Đội ngũ cán bộ chưa
xứng tầm đòi hỏi của
tình hình.(2 điểm)
- Khả năng dự đoán, dự
báo định ra các chương
trình, kế hoạch còn yếu.
(3 điểm)
- Tạo điều kiện thu
IV. Các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng nguồn tài
nguyên nước ở nước ta.
2.1 Thực hiện thể chế hóa các chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, công tác
phối kết hợp của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước để cùng bàn về chiến
lược quản lý tài nguyên nước.
2.2 Tăng cường quản lý tài nguyên nước do dân số tăng lên, gắn liền quá
trình đô thị ngày một phát triển, do các áp lực bên ngoài và do biến đổi khí hậu;
thúc đẩy sự phát triển của các thể chế liên quan, phát triển các kỹ năng nhằm đối
phó với các thách thức đặt ra. Chính phủ cần hành động nhanh hơn. Các tổ chức
cần phát triển hơn, hành động nhiều hơn, nhờ đó các quy định sẽ trở nên hiệu quả
hơn, hợp tác cũng trở nên tốt hơn. Các cơ quan quản lý tài nguyên nước cần kết nối
tốt hơn, đó là tài nguyên nước sạch, sông và biển.
2.3 Các ngành cần có trách nhiệm tham gia vào một kế hoạch chung về quản
lý tài nguyên nước; cần có nhiều nghiên cứu chi tiết, ví dụ chi tiết về cơ sở hạ tầng,
kỹ thuật Thực hiện đầu tư không chỉ cho hôm nay, mà cả tương lai. Ví dụ, để
chống lụt ở Hà Nội và TP HCM, cần đầu tư kinh phí lớn Chiến lược quản lý quốc
gia cần phản ánh đầy đủ các bước trong kế hoạch đối phó với biến đổi khí hậu: nó
ảnh hưởng như thế nào đối với sự quản lý tài nguyên nước vì còn diễn ra đến thế
hệ mai sau. Đây là điều không thể tránh được.
2.4 Tạo sự đồng thuận của cộng đồng theo hướng mọi người có quyền sử
dụng nước cho nhu cầu cá nhân, cho nông nghiệp
Trong tương lai, tạo sự đồng thuận, nhất quán về sử dụng nước cho cá nhân
và các nguồn nước bề mặt; xây khung pháp lý để quản lý nước, phân loại nước
được sử dụng, sử dụng như thế nào và quản lý như thế nào. Ai là người có trách
nhiệm quản lý. Với việc quản lý bằng luật, chính quyền địa phương phải tuân theo
và quản lý theo khu vực.
2.5 Thực hiện kiểm soát các thay đổi nhất là về biến đổi khí hậu ở các khu
vực địa phương khác nhau, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, về vấn đề
dân số gia tăng, việc phân bố sử dụng nước, ngập úng … Nghiên cứu, ghi nhận các
thông tin từ người dân trong việc sử dụng nguồn nước, đánh giá về hiệu quả. Thực
chỉ ở hiện tại mà cả tương lai. Các cơ quan nhà nước, nhà chức trách, nhà chuyên
môn, nhà khoa học, nhà đầu tư, các cá nhân, doanh nghiệp, và cả cộng đồng phải
chung tay, đồng thuận vì sự tồn tại của chính bản thân mình và thế hệ mai sau. Đó
là một yêu cầu, đòi hỏi tất yếu và không thể né tránh.
23
Tài liệu tham khảo:
1. Bộ xây dựng, Chiến lược Quốc gia cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đên
năm 2020.
2. Chi cục bảo vệ môi trường, Báo cáo ô nhiễm môi trường năm 2005.
3. Cục Quản lý tài nguyên nước, Báo cáo diễn biến chất lượng nước vùng hạ
lưu hệ thống sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, 2002.
4. Đặng Duy Tình (2001) - Quy hoạch và sử dụng nước ngầm thành phố Hồ
Chí Minh.
5. Ủy ban nhân dân TP. Hồ Chí Minh, báo cáo thực trạng môi trường thành
phố Hồ Chí Minh, 2005.
6. Viện Khoa học thủy lợi Mền Nam, Đề án quy hoạch tổng thể quản lý tài
nguyên nước thành phố Hồ Chí Minh, 2006
7. Luật Tài nguyên nước năm 1998,
8. Quyết định số 17/2006/QĐ-UBND ngày 19/02/2006 về ban hành Quy định
quản lý tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; Chương trình
mục tiêu quốc gia nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ, sử dụng tài nguyên
nước của Chính phủ giai đoạn 2010 – 2020; Chương trình chống thất thoát,
thất thu nước sạch năm 2010 của Bộ Xây dựng,
9. Tạp chí Tài nguyên – Môi trường số 29 tháng 09/2009,
10.Giáo trình Quản lý nhà nước về đô thị - Học viện Hành chính quốc gia, Nhà
xuất bản giáo dục 2005,
11. www. ashui.com.
24
25