TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA KINH TẾ VÀ KINH DOANH QUỐC TẾ
CHUYÊN NGÀNH KINH TẾ ĐỐI NGOẠI KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
TÊN ĐỀ TÀI: ẢNH HƯỞNG CỦA VĂN HÓA KINH DOANH AUSTRALIA
ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên : Vũ Việt Dũng
Lớp : A16 – K42D
Khoá : 42
Giáo viên hướng dẫn: TS. Nguyễn Hoàng Ánh
Hà Nội, tháng 10/2007
22
1.3.3. Chính sách phân phối
24
Kết luận Chương 1
25
Chương 2: ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh đến năng lực cạnh tranh
của hàng Việt Nam trên thị trường Australia
27
2.1. Tổng quan về văn hóa kinh doanh Australia
27
2.1.1. Giới thiệu chung về Australia
27
2.1.2. Văn hóa Australia
30
2.1.3. Văn hóa kinh doanh của Australia
35
2.2. Vài nét về quan hệ Việt Nam – Australia
45
2.2.1. Quan hệ ngoại giao Việt Nam – Australia
45
2.2.2. Quan hệ thương mại Việt Nam - Australia
46
2.3. Năng lực cạnh tranh của hàng hóa trên thị trường Australia
50 2.3.1. Chất lượng sản phẩm
52
2.3.2. Giá thành sản phẩm
53
3.2. Đánh giá ảnh hưởng của văn hóa kinh doanh Australia đến năng lực
cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam
76
3.2.1. Những thành công của hàng hóa Việt Nam trên thị trường Australia
76
3.2.2. Những khó khăn tồn tại của hàng hóa Việt Nam trên thị trường
Australia
77
3.3. Giải pháp văn hóa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng Việt
Nam trên thị trường Australia
79
3.3.1. Giải pháp vĩ mô
80
3.3.2. Giải pháp vi mô
84
Kết luận Chương 3
87
KẾT LUẬN
88 Tài liệu tham khảo
89
Phụ lục 1: Bản đồ Australia
89
Phụ lục 2: Tiếng lóng trong ngôn ngữ Anh – Australia
90
Phụ lục 3: Hiệp định Thương mại và hợp tác kinh tế giữa Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và Australia
101
Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa kinh doanh còn khá mới mẻ, những hiểu biết
của doanh nghiệp về vấn đề này còn ít. Điều này không chỉ gây ra những hạn chế cho 2
doanh nghiệp của Việt Nam trong buôn bán quốc tế mà đôi khi còn tạo ra những sai
lầm nghiêm trọng do những sản phẩm gây xung đột văn hóa hay những hành xử là điều
cấm kị đối với bạn hàng quốc tế. Trong kinh doanh, văn hóa được thể hiện vô cùng
phong phú dưới nhiều hình thức và đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc quyết
định thành công hay thất bại của quan hệ thương mại giữa các doanh nghiệp cũng như
quốc gia.
Australia, một quốc gia phát triển rất gần Việt Nam và cùng nằm trong khu vực
kinh tế năng động Châu Á-Thái Bình Dương, đã trở thành một thị trường quan trọng
đối với các doanh nghiệp Việt Nam Điều này đã được chứng minh trong 30 năm qua
và đặc biệt những năm gần đây, các hoạt động đầu tư, thương mại cả hai chiều đạt
tăng trưởng cao. Các hoạt động đó được củng cố vững chắc thông qua hàng loạt những
chương trình hỗ trợ, hợp tác về giáo dục, môi trường Tuy nhiên kim ngạch xuất nhập
khẩu giữa hai quốc gia vẫn chưa xứng với tiềm năng dồi dào, trong đó một phần cũng
do việc chưa thống nhất về văn hóa kinh doanh của nhau.
Vì vậy, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu văn hóa kinh doanh của Australia và ảnh
hưởng của nó đến năng lực cạnh tranh của hàng Việt Nam, từ đó đưa ra những giải
pháp văn hóa nhằm giúp các doanh nghiệp Việt Nam củng cố và phát triển năng lực
cạnh tranh của hàng Việt Nam trên thị trường tiềm năng này.
II. Mục đích và phạm vi nghiên cứu.
Mục đích của khóa luận gồm có điểm chủ yếu: (a) tìm hiểu lý luận về văn hóa
kinh doanh và năng lực cạnh tranh cùng tác động của văn hóa kinh doanh đến năng lực
cạnh tranh của hàng hóa, (b) đưa ra cái nhìn toàn cảnh về thị trường Australia và đánh
giá toàn cảnh năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường này và (c)
đưa ra những giải pháp văn hóa nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa Việt
Nam trên thị trường Australia.
4 Chƣơng 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA KINH DOANH VÀ NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA HÀNG HÓA
1.1. Tổng quan về văn hoá kinh doanh.
1.1.1. Khái niệm.
1.1.1.1. Khái niệm văn hoá.
Văn hoá kinh doanh là một bộ phận quan trọng trong giao dịch thương mại
quốc tế, đặc biệt trong thời đại hiện nay bởi phân công lao động quốc tế khiến các quốc
gia ngày càng tiến hành nhiều hoạt động thương mại với nhau. Để tìm hiểu về văn hoá
kinh doanh, trước hết phải xem xét văn hoá kinh doanh với tư cách là một bộ phận của
văn hoá.
Từ khi loài người biết sử dụng công cụ lao động, sử dụng ngôn ngữ và tồn tại như
những sinh vật xã hội, những tiền đề của văn hoá đã bắt đầu hình thành từ chính cuộc
sống của loài người như tên gọi, tục thờ cúng các vị thần. Mỗi nhóm người lại có
những đặc điểm riêng, có thể bắt nguồn từ hoàn cảnh sống, vị trí địa lý, khí hậu mà
dần hình thành những khác biệt đáng kể so với những nhóm người khác, theo thời gian
những nhóm người này phát triển thành một dân tộc, gắn liền với mỗi dân tộc là văn
hoá của họ. Cho đến năm 1952, Kroeber và Kluekholn, hai nhà nghiên cứu người Đức,
trong bài viết ―Văn hóa, nhìn lại các quan điểm và định nghĩa‖ đã thống kê được 164
định nghĩa văn hóa có thể chia làm sáu loại chính như sau:
1/ Các định nghĩa mang tính miêu tả: liệt kê tất cả những gì mà khái niệm văn
xử ra sao, và họ cần phải làm gì?”. Theo định nghĩa này, văn hoá của một quốc gia 6
quy định tập hợp những biểu tượng, quy tắc và giá trị có quan hệ qua lại với nhau, có
thể chia sẻ và học tập giữa các thành viên, có tác động chi phối và biện hộ cho những
hành vi ứng xử của những người trong quốc gia hay trong cộng đồng đó.
Tuy nhiên định nghĩa về văn hóa được biết đến rộng rãi hơn cả là của Federico Mayor
Laragoza, nguyên tổng giám đốc UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt
động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo đó
đã hình thành nên một hệ thống giá trị, các truyền thống và thị hiếu – những yếu tố xác
định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”.
Tựu chung lại, với những định nghĩa trên đây, văn hóa được nhìn nhận trên những
thuộc tính và nội dung cơ bản sau:
- Văn hóa là cái thuộc tính bản chất của con người, chỉ có ở loài người và do
con người sinh ra.
- Đối với một cộng đồng, một dân tộc, văn hóa luôn có tính đặc thù, nó được thể
hiện ra như một kiểu sống (lối sống, kiểu ứng xử và hành động ) riêng biệt và ổn định
của họ trong lịch sử; nó có tính di tồn qua nhiều thế hệ.
- Cốt lõi của văn hóa và nhân tố qui định tính đặc thù của kiểu sống khác nhau
trong xã hội là bảng giá trị của họ.
Vậy do đâu mà có nhiều quan niệm về văn hóa? Đó là vì tính phức tạp vô cùng của văn
hóa trong thực tiễn của nó khiến về mặt nguyên tắc, không thể có một định nghĩa nào
nói lên được đầy đủ bản chất của văn hóa. Sở dĩ nói văn hóa phức tạp là vì: cả xã hội
và từng con người, cho dù nhìn vào một khía cạnh cụ thể, cũng vẫn hết sức đa dạng về
tiềm năng, về sự thực hiện, về hành động, về mối quan hệ nội tại, và về cấu trúc vận
hành. Văn hóa là một hiện tượng trừu tượng, là cả một khối gồm rất nhiều khái niệm,
hầu như không thể bản thể hóa chúng được. Do tính phức tạp như vậy, chúng ta có thể
A.A.Radugin – Từ điển bách khoa văn hóa học
8
việc đưa các yếu tố văn hóa vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Sự xuất hiện thuật
ngữ ―văn hóa kinh tế‖, ―văn hóa kinh doanh‖ bao hàm sự thay đổi sâu sắc này.
Trong kinh doanh, mối quan hệ giữa văn hóa và kinh doanh cũng đặt ra vấn đề tương
tự cả cho các nhà nghiên cứu lẫn những người hoạt động kinh doanh trực tiếp. Khi mà
bản chất của hoạt động kinh doanh là kiếm được nhiều lợi nhuận cho chủ thể - đó là
động cơ quan trọng nhất, mạnh mẽ nhất – thì yếu tố văn hóa phải chăng chỉ xếp hàng
thứ yếu hoặc có khi bị loại bỏ nếu gây cản trở cho mục tiêu lợi nhuận? Câu trả lời lại
phụ thuộc vào các chủ thể kinh doanh cụ thể. Nhưng không phải mọi cuộc kinh doanh
đều bị thúc đẩy, dẫn dắt chỉ bằng mục tiêu lợi nhuận. Bởi động cơ của các nhà kinh
doanh không chỉ là sự giàu có (nhằm thỏa mãn những nhu cầu sinh lý, bản năng trong
tháp nhu cầu của Maslow) mà còn là nhu cầu có tính văn hóa (như mong muốn được
xã hội tôn trọng, mong muốn được tự thể hiện, sáng tạo). Bên cạnh đó, lợi nhuận
không phải là vật chuẩn và lực lượng hướng dẫn duy nhất đối với hoạt động kinh
doanh, cùng với nó còn có pháp luật và văn hóa.
Văn hóa kinh doanh cũng giống như văn hóa vậy, khó có định nghĩa chính xác về nó.
Tuy nhiên, mới đây, TS. Đỗ Minh Cương trong cuốn ―Văn hóa kinh doanh và triết lý
kinh doanh‖ đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa kinh doanh nói lên khá đầy đủ bản
chất như sau: Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào trong hoạt
động kinh doanh của chủ thể, là cái văn hóa mà các chủ thể kinh doanh tạo ra trong
quá trình kinh doanh hình thành nên những kiểu kinh doanh ổn định và đặc thù của họ.
Khái niệm này có ưu điểm là đã chỉ ra được sư khác biệt giữa văn hóa kinh doanh và
văn hóa trong kinh doanh (là những yếu tố của văn hóa dân tộc trong kinh doanh).
Định nghĩa này đã nêu lên hai phương diện (thành tố hay vi hệ) chính của văn hóa kinh
doanh. Một là: Các nhân tố văn hóa được vận dụng vào quá trình kinh doanh để tạo ra
các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng có văn
gia đình văn hóa), nên thường gán cho văn hóa kinh doanh ý nghĩa giáo dục, tức là làm
mất đi tính khách quan của văn hóa. Không thể lấy những tiêu chí để đánh giá văn hóa
của một dân tộc, một quốc gia để nhận xét, đánh giá văn hóa của dân tộc, quốc gia 10
khác. Chẳng hạn, văn hóa Việt Nam coi mại dâm là một hành động xấu, không được xã
hội chấp nhận và kinh doanh mại dâm là phạm pháp. Tuy nhiên ở Hà Lan hay Thái Lan
thì mại dâm là một ngành nghề kinh doanh được sự cho phép của chính phủ như những
ngành kinh doanh khác, nên nếu xếp kinh doanh mại dâm vào kinh doanh phi văn hóa
là không chính xác.
Có một các hiểu về văn hóa kinh doanh được chấp nhận phổ biến hơn và rộng rãi hơn
của các nhà nghiên cứu trong Viện Kinh doanh Nhật Bản – Hoa Kỳ (Japan American
Business Academy – JABA) đưa ra trong cuộc hội thảo mang tên ―Mở khóa vào tư duy
kinh doanh của người Nhật‖ (Unlocking te Japanese Business Mind), tổ chức vào
tháng 4 năm 1997: ―Văn hóa kinh doanh có thể được định nghĩa như ảnh hưởng của
những mô hình văn hóa của một xã hội đến những thiết chế và thông lệ kinh doanh của
xã hội đó”.
Như vậy, tổng hợp lại, có thể có một cách hiểu toàn diện, bao quát, rõ ràng và gần gũi
với các định nghĩa về văn hóa kinh doanh nêu trên:
Văn hóa kinh doanh là sự thể hiện phong cách kinh doanh của một dân tộc. Nó bao
gồm các nhân tố rút ra từ văn hóa dân tộc, được các thành viên trong xã hội vận dụng
vào hoạt động kinh doanh của mình và cả những giá trị, triết lý…mà các thành viên
này tạo ra trong quá trình kinh doanh”
1
.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến văn hoá kinh doanh.
Văn hoá kinh doanh có ảnh hưởng quan trọng đến hành vi tiêu dùng của khách hàng
trên một khu vực thị trường hay phân đoạn thị trường xác định, bởi vậy việc nghiên
cứu văn hoá kinh doanh là rất quan trọng đối với các nhà sản xuất. Văn hoá kinh doanh
ngưỡng và nghi thức liên quan tới yếu tố tinh thần của con người. Bởi vậy nó như một
quy ước những điều được làm và không được làm trong một xã hội, tôn giáo ảnh
hưởng tới văn hoá kinh doanh thông qua sự chấp thuận của tôn giáo đó đối với một loại
sản phẩm nhất định. Hiểu tôn giáo có ảnh hưởng thế nào đến tập quán kinh doanh là
đặc biệt quan trọng. Những quan niệm, động cơ trong công việc của các tín đồ chịu tác
động đầu tiên. Có thể thấy người châu Âu và người Mỹ, ở nơi mà đạo Tin lành phổ
biến, thường xem công việc là một phẩm chất đạo đức, rất coi khinh kẻ biếng nhác. Họ
coi sống là để làm việc và tìm được niềm vui trong công việc. Còn những người Hồi 12
giáo lại phải nhịn ăn từ sáng tới chiều trong suốt tháng Ramadan, cầu nguyện 5 lần /
ngày khiến cho năng suất lao động giảm. Loại hàng hóa và dịch vụ được chấp nhận
cũng chịu ảnh hưởng của tôn giáo. Đạo Hồi cấm tiêu dùng thịt lợn và rượu, trong khi
Hinđu giáo cấm dùng thịt bò.
1.1.2.3. Các giá trị và thái độ
Các giá trị là những gì thuộc về quan niệm, niềm tin và tập quán gắn với tình cảm con
người. Các giá trị là quan trọng đối với kinh doanh vì nó ảnh hưởng tới ước muốn vật
chất và đạo đức nghề nghiệp của con người. Chẳng hạn ở Mỹ giá trị là tự do cá nhân,
còn ở Nhật đó là sự đồng lòng tin cậy trong tập thể. Giá trị là thứ ăn sâu trong mỗi nền
văn hóa, có ảnh hưởng mạnh tới hầu hết các phương diện của văn hóa.
Các thái độ là những đánh giá, tình cảm và khuynh hướng tích cực hay tiêu cực của
con người đối với một khái niệm hay một đối tượng nào đó. Giống như giá trị, thái độ
được hình thành do học tập từ các khuôn mẫu xã hội. Tuy nhiên, các giá trị là khá cứng
nhắc trong khi thái độ lại linh hoạt hơn, cùng một giá trị có thể có những thái độ khác
nhau ở từng nền văn hóa.
1.1.2.4. Phong tục tập quán
Phong tục tập quán là cách cư xử, ăn mặc, nói năng hay chung chung hơn là thói quen
được truyền bá qua nhiều thế hệ và nó trở thành quy ước trong xã hội. Tuy không bắt
buộc nhưng nhiều khi hiểu biết các phong tục tập quán của một dân tộc có thể mang về
không ít tiền đến các trung tâm thẩm mỹ để tắm nắng nhân tạo hoặc bôi kem làm nâu
da để có làn da rám nắng. Đó là do quan niệm về cái đẹp khác nhau của các nền văn
hóa Âu và Á.
1.1.2.7. Giáo dục
Giáo dục là nhân tố quan trọng của văn hóa. Giáo dục là cách thức chính dạy con người
biết được tri thức và góp phần lớn hình thành nên tính cách của mỗi cá nhân. Giáo dục
chính là cầu nối giữa các thế hệ của một nền văn hóa, nó dạy lại cho các thế hệ sau
những thành quả tri thức của cha ông. 14
Văn hoá kinh doanh của một quốc gia được cấu thành từ chính những con người mà
bản thân họ trưởng thành từ nền giáo dục của quốc gia đó, thông qua trường lớp và gia
đình. Do đó với các nước phương Đông với hệ thống giáo dục mang nặng tính kỷ luật,
cách tiếp cận thị trường sẽ khác với các nước phương Tây với một nền giáo dục dân
chủ.
1.1.2.8. Cấu trúc xã hội
Cấu trúc xã hội thể hiện cấu tạo nền tảng của một nền văn hóa, bao gồm các nhóm xã
hội, các thể chế, hệ thống địa vị xã hội, mối quan hệ giữa các địa vị này và quá trình
qua đó các nguồn lực được phân bổ. Các yếu tố quan trọng của cấu trúc văn hóa dùng
để phân biệt các nền văn hóa khác nhau là: Các nhóm xã hội, địa vị xã hội và tính linh
hoạt của xã hội. ở các nước phương Tây, thứ bậc trong xã hội không rõ nét như ở
phương Đông (có thể thấy ngay từ đại từ nhân xưng ở các nước châu á, ngôi thứ của
người tham gia vào đối thoại được phân biệt rõ giới tính, tuổi tác, địa vị xã hội và quan
hệ giữa những người nói với nhau). Khi vận dụng văn hoá kinh doanh để tiếp cận thị
trường, việc nhắm tới chính xác đối tượng là khách hàng tiềm năng phụ thuộc vào việc
định vị đối tượng trong cấu trúc xã hội.
1.2. Năng lực cạnh tranh.
1.2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh.
Cạnh tranh, nói chung, là sự phấn đấu, vươn lên không ngừng để giành lấy vị trí hàng
thống quản trị bệnh viện cao cấp mọc lên như nấm ở Nashville, Tennessee, các nhà sản
xuất thảm ở Dalton, Georgia, các ông chủ sản xuất giầy ở Oregon, các nhà cung cấp
các sản phẩm điện thoại cố định kéo dài ở Elkhart, Indiana và các công ty sản xuất máy
tính xách tay ở Boston. Đó chính là môi trường cạnh tranh tạo ra sức cạnh tranh giữa
các nhà sản xuất với nhau, đạt được tiêu chuẩn của cộng đồng các nhà sản xuất trong
khu vực đó đồng nghĩa với việc hòa nhập được một cộng đồng mà sản phẩm của nó có
năng lực cạnh tranh hơn hẳn các khu vực sản xuất khác.
Cùng với quá trình toàn cầu hoá, ít có những tranh luận và nghiên cứu về hiệu
quả kinh tế trong mối quan hệ với hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại mà
lại không đề cập đến thuật ngữ năng lực cạnh - competitiveness. Thuật ngữ này được 16
nhắc nhiều ở Việt Nam, nhất là khi Việt Nam bước vào hội nhập kinh tế quốc tế như:
mở cửa và cải cách hệ thống thương mại, cam kết thực hiện CEPT/AFTA với tư cách
là thành viên của ASEAN, trở thành thanh viên chính thức của APEC (11/1998), ký
Hiệp định thương mại Việt – Mỹ (7/2000) và đang nỗ lực đàm phán gia nhập WTO.
Năng lực cạnh tranh là một khái niệm để chỉ khả năng tăng trưởng và phát triển
của nền kinh tế hay doanh nghiệp trên thị trường trong nước và quốc tế. Theo báo cáo
của Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum) có chỉ rõ:
- Năng lực cạnh tranh quốc gia (national competitiveness): là khả năng của nền kinh
tế nhằm đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế
bền vững tương đối và các đặc trưng kinh tế khác.
- Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp (competitiveness of company, products and
services): đó là năng lực tồn tại, duy trì hay gia tăng lợi nhuận, thị phần trên thị
trường cạnh tranh của các sản phẩm và dịch vụ của doanh nghiệp.
Nhiều doanh nghiệp và tổ chức của một quốc gia có năng lực cạnh tranh thì quốc gia
đó sẽ có năng lực cạnh tranh. Hiện nay chưa có một định nghĩa nào về năng lực cạnh
tranh cụ thể (năng lực cạnh tranh doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh quốc gia) được
mọi người công nhận. Theo Michael Porter – người từng làm việc trong Hội đồng cố
1.2.2. Các yếu tố cấu thành năng lực cạnh tranh.
Muốn nói đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm, cần phải hiểu các yếu tố tạo ra năng
lực cạnh tranh của sản phẩm đó. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là khả năng sản
phẩm đó bán được nhiều và nhanh chóng khi trên thị trường có nhiều người cùng bán
loại sản phẩm đó. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố:
chất lượng sản phẩm, giá cả sản phẩm, thời gian cung cấp, dịch vụ đi kèm, điều kiện
mua – bán, danh tiếng, uy tín của doanh nghiệp, thương hiệu, v v
1.2.2.1. Chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm là mức độ của một tập hợp các đặc tính của sản phẩm làm thỏa
mãn nhu cầu.
1
Bạch Thụ Cường, Bàn về cạnh tranh toàn cầu, Nxb Thông tấn, H, 2002, tr.323
2
Dictionary of Trade Policy, University of Adelaide, 1997
18
Một số sản phẩm có nhiều đặc tính, nhiều chỉ tiêu chất lượng. Nếu tập hợp các đặc tính
đó làm thỏa mãn được nhu cầu của khách hàng thì sản phẩm mới được gọi là có chất
lượng. Trong các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm có những chỉ tiêu đặc biệt quan
trọng như chỉ tiêu an toàn vệ sinh, có những chỉ tiêu quan trọng như chỉ tiêu về công
dụng, thẩm mỹ, kinh tế, có những chỉ tiêu ít quan trọng. Mặc dù vậy, nếu có một chỉ
tiêu nào đó không đảm bảo yêu cầu (dù đó là chỉ tiêu ít quan trọng) thì sản phẩm không
có chất lượng, ở đây không có quy luật bù trừ. Nói chung về chất lượng sản phẩm hữu
hình biểu hiện ở hai mặt là trình độ kỹ thuật của sản phẩm và mặt kinh tế. Trình độ kỹ
thuật của sản phẩm thể hiện qua các chỉ tiêu an toàn, vệ sinh, thẩm mỹ, công dụng, tiện
dụng. Mặt kinh tế thể hiện ở chi phí sản xuất, chi phí đảm bảo chất lượng, chi phí sử
―chất lượng là yếu tố hàng đầu‖, đó là xu thế chung. Tuy nhiên, hiện tại vẫn còn có
nhiều nước đang phát triển, nơi mà giá cả là yếu tố thu hút đối với họ. Ngay cả tại Mỹ,
một thị trường với số lượng người tiêu dùng giàu có thì giá cả vẫn có thể làm khuynh
đảo một số công ty, và để tồn tại được, họ đã kiện hàng hóa nước ngoài bán phá giá sản
phẩm vào thị trường nội địa.
Để có giá cả thấp, doanh nghiệp phải tìm mọi cách giảm chi phí, hạn chế tối đa phế
phẩm hoặc tỷ lệ phế phẩm để không tốn chi phí cho sửa chữa, kiếm tra, bồi thường khi
khách hàng khiếu nại về phẩm chất; đồng thời cũng phải sử dụng hiệu quả các nguồn
lực và áp dụng những phương pháp quản lý hiện đại. Giảm chi phí là điều kiện rất quan
trọng để sản phẩm có thể nâng cao được năng lực cạnh tranh so với các hàng hóa có
chất lượng tương đương của các đối thủ cạnh tranh.
1.2.2.3. Thời gian và địa điểm cung cấp hàng hóa.
Nếu như hai yếu tố chất lượng và giá cả là hai yếu tố hữu hình và nội tại của sản phẩm
thì thời gian và địa điểm cung cấp hàng hóa phụ thuộc nhiều vào chính sách phân phối.
Một sản phẩm có được năng lực cạnh tranh tối đa ở hai yếu tố trên nhưng được phân
phối vào thị trường không đúng lúc, đúng chỗ thì cũng không thu được lợi nhuận bởi
khi đó, thị trường đã không cần sản phẩm này nữa, hoặc xu hướng tiêu dùng đã thay
đổi. Cung cấp hàng hóa kịp thời làm cho đối tác không lỡ kế hoạch, không mất thời cơ, 20
là yếu tố thu hút các đơn đặt hàng nhờ đó doanh thu của doanh nghiệp có thể tăng lên
tới 15- 2-% so với nhịp độ bình thường.
Để cung cấp hàng hóa đúng lúc đúng chỗ, cần phải đảm bảo rằng các yếu tố sản xuất
có độ tin cậy cao, không xảy ra trục trặc trong quá trình sử dụng. Muốn vậy cần phải
kiểm soát và phòng ngừa tốt, bảo dưỡng tốt, sử dụng công nghệ hiện đại, lập kế hoạch
mua sắm, sản xuất cùng ứng cụ thể, sử dụng các phương pháp hiện đại trong quản lý
(jit – just In time), phương pháp TQM (total quality management).
Cung cấp hàng hóa dịch vụ đúng chỗ đòi hỏi phải nghiên cứu thị trường kỹ lưỡng đồng
thời phải nhanh nhậy và đưa ra những quyết định táo báo, không cứng nhắc rập khuôn.
bảo về mặt chất lượng là người tiêu dùng sẽ từ chối sử dụng hàng hóa đó. Ngược lại,
nếu chất lượng của sản phẩm có tính vượt trội thì sản phẩm đó được coi là cá biệt hóa,
doanh nghiệp có thể quyết định được giá bán của sản phẩm. Chẳng hạn, Brazil đã từng
tiêu hủy một lượng hạt cà phê Arabica khi cà phê nước này năm đó quá được mùa.
Nguyên nhân là do nếu quá nhiều cà phê Arabica được bán ra thì không được giá nên
việc tiêu hủy trên nhằm để tạo sự khan hiếm. Tuy nhiên, việc này không thể áp dụng
được ở các nước khác do tính đặc biệt của cà phê Arabica Brazil vì chất lượng tốt và
đặc biệt hơn hẳn.
Một ví dụ khác về chất lượng sản phẩm là ví dụ chất lượng không đảm bảo của hàng
hóa khiến hàng hóa không còn năng lực cạnh tranh dù giá cả, phân phối có tốt đến đâu.
Đó là trường hợp của đồ chơi trẻ em có xuất xứ từ Trung Quốc sau khi bị Hiệp hội bảo
vệ người tiêu dùng Hoa Kỳ phát hiện có chứa hàm lượng chì quá cao trong sơn vỏ
ngoài. Một làn sóng phản đối hàng hóa Trung Quốc dâng lên ở các nước Châu Âu, Bắc
Mỹ, Australia và New Zealand. Thậm chí ở các chuỗi siêu thị ở Adelaide, Australia
còn có những tấm biển quảng cáo ―China Free‖ (Không có đồ Trung Quốc) nhằm đảm
bảo chất lượng hàng hóa với khách hàng. Nếu chất lượng hàng hóa không được đảm
bảo, hậu quả nó mang lại cho ngoại thương của một quốc gia hết sức trầm trọng.
Một yếu tố cũng ảnh hướng đến chất lượng sản phẩm là quy luật lợi lích cận biên giảm
dần (marginal ulitity). Quy luật này chỉ ra rằng người tiêu dùng sẽ cảm thấy ít được
thỏa mãn hơn khi tiêu dùng hàng hóa hay dịch vụ sau càng nhiều lần sử dụng.