Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
*********
1. WTO : Tổ chức Thương mại Thế giới
2. UNWTO : Tổ chức Du lịch Thế giới
3. VTOS: : Hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề Du
lịch Việt Nam
4. VTCB : Hội đồng cấp chứng chỉ nghiệp vụ Du
lịch
5. IOUTO : Liên hiệp quốc tế của các tổ chức
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
1
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
chính thức về du lịch
6. FDI : Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
7. NXB : Nhà xuất bản
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
DANH MỤC ĐỒ THỊ
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 1
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
2
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài:
Trong thời đại ngày nay, Du lịch được coi là một trong những ngành công
nghiệp quan trọng nhất trên thế giới. Ở rất nhiều quốc gia, Du lịch đã và đang trở
thành ngành kinh tế mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân. Du lịch không những
mang lại nguồn thu nhập lớn cho nền kinh tế, tạo nhiều việc làm, phát triển các
khủng hoảng kinh tế đang diễn ra trên toàn cầu tạo ra áp lực rất lớn với doanh
nghiệp du lịch Việt Nam trong cạnh tranh. Phần lớn doanh nghiệp du lịch của ta
thuộc loại nhỏ, chất lượng dịch vụ hạn chế, năng lực quản lý thấp, đội ngũ nhân
lực du lịch thiếu và yếu về trình độ ngoại ngữ và kinh nghiệm, nhất là thiếu
những người có chuyên môn cao. Hội nhập kinh tế là xu thế tất yếu, trong quá
trình hội nhập, Nhà nước chỉ hỗ trợ, tạo môi trường pháp lý thông thoáng và
thuận lợi, còn thành công tùy thuộc vào sức cạnh tranh và sự năng động của
doanh nghiệp.
Từ thực trạng đó, một yêu cầu cấp thiết đặt ra cho ngành Du lịch Việt Nam
hiện nay là phải tìm kiếm giải pháp để nâng cao chất lượng ngành Du lịch, cùng
với việc phát triển du lịch nội địa là nhiệm vụ quan trọng thu hút khách du lịch
quốc tế vào Việt Nam. Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phân
tích thống kê tình hình khách du lịch quốc tế đến Việt Nam giai đoạn 1995-
2008 và dự đoán đến năm 2012”.
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
4
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
2. Mục tiêu nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài này là vấn đề lý luận và thực tiễn của việc áp
dụng phương pháp thống kê vào nghiên cứu thực hình khách du lịch quốc tế đến
Việt Nam; dự đoán số lượng khách quốc tế đến Việt Nam cho đến năm 2012;
đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện phương pháp thống kê
khách du lịch quốc tế đến cũng như giải pháp nhằm thúc đẩy số lượng khách
quốc tế đến Việt Nam trong giai đoạn tới.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Khách du lịch quốc tế đến vào Việt Nam giai đoạn 1995-2008.
4. Phạm vi và phương pháp nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu về số lượng khách quốc tế đến, số ngày khách quốc tế đến
và kết cấu khách quốc tế đến Việt Nam chia theo quốc tịch, phương tiện và mục
đích đến.
người và ở lại đó để thăm quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích
khác ngoài các hoạt động để có thù lao tại nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1
năm.
Đi sâu hơn vào định nghĩa của hoạt động du lịch ta có thể hiểu “môi trường
thường xuyên” là nơi ở, nơi đi làm, loại trừ các chuyến đi trong phạm vi nơi ở
thường xuyên và các chuyến đi có tính chất hàng ngày; “trong khoảng thời gian
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
6
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
ít hơn thời gian được các tổ chức du lịch quy định” tức là 1 năm với du lịch quốc
tế và 6 tháng với du lịch trong nước.
Khái niệm “nơi cư trú thường xuyên” hay “môi trường sống thường xuyên”
có thể được hiểu theo nhiều cách và trở thành chủ đề cho nhiều cuộc tranh luận
không những trên phạm vi quốc gia mà cả quốc tế. Người ta có thể hiểu khái
niệm “nơi cư trú thường xuyên” cho phép một cá nhân có thể có nhiều hơn một
nơi cư trú thường xuyên, ví dụ trong trường hợp một người có nhà ở thứ 2, vừa ở
với gia đình mình, vừa ở với ông bà để tiện chăm lo. Ngoài ra thì khái niệm “nơi
cư trú thường xuyên” cũng cho phép một cá nhân có nhiều nơi hoạt động khác
nhau nhưng được tính chung trong một môi trường sống, ví dụ như các tù nhân
đang thụ án thì nơi cư trú thường xuyên của họ vừa là nhà ở theo đăng ký thường
trú vừa là nhà tù bởi nhà tù là một phần của môi trường sống thường xuyên của
họ.
Như vậy, có thể thấy “nơi cư trú thường xuyên” hay “môi trường sống
thường xuyên” còn là khái niệm đang được tranh cãi nhiều. Tuy nhiên, theo các
phạm vi khác nhau thì ta có thể tạm hiểu khái niệm “nơi cư trú thường xuyên”
hay “môi trường sống thường xuyên” theo các cách như sau:
- Trên phạm vi quốc tế: “nơi cư trú thường xuyên” được xác định là phạm
vi lãnh thổ quốc gia trừ các trường hợp sau đây:
Người đến hoặc rời một nước với tư cách là dân di cư, tìm kiếm
việc làm có đưa theo cả người phụ thuộc.
8
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Hoạt động du lịch có ý nghĩa rất lớn đối với một quốc gia, không chỉ trên giác
độ kinh tế mà còn trên cả giác độ văn hóa – xã hội. Trên giác độ kinh tế đó vừa
là ngành kinh doanh đạt hiệu quả cao, lợi nhuận lớn, tốc độ chu chuyển vốn lưu
động nhanh và nhiều lại là ngành xuất khẩu tại chỗ, tạo việc làm cho lực lượng
lớn lao động xã hội, cải tạo đời sống nhân dân. Sự phát triển của hoạt động du
lịch cũng kéo theo sự phát triển của các ngành khác như giao thông vận tải, bưu
điện, dịch vụ…Trên giác độ văn hóa – xã hội thì du lịch góp phần nâng cao vị
thế, quảng bá hình ảnh của quốc gia trên trường quốc tế, góp phần bảo tồn và giữ
gìn truyền thống cũng như di sản dân tộc, nâng cao cuộc sống, góp phần hiểu
biết thêm phong tục tập quán của các địa phương cũng như quốc gia khác.
Hiện nay có rất nhiều loại hình du lịch đa dạng và phong phú. Nếu căn cứ
theo mục đích chuyến đi thì ta có thể chia du lịch thành các loại sau:
- Du lịch thuần túy: là hoạt động du lịch mà chủ yếu là đi du lịch, thăm
quan, ngắm cảnh, nghỉ ngơi, giải trí và không kết hợp với bất kì mục đích nào
khác. Ví dụ: đi biển nghỉ mát vào mùa hè…
- Du lịch chữa bệnh: là hoạt động đến những vùng có thể chữa bệnh, vừa để
thăm quan nghỉ ngơi vừa để kết hợp điều trị. Ví dụ: đi khi du lịch nghỉ dưỡng
suối nước nóng Kim Bôi – Hòa Bình.
- Du lịch công vụ: là những chuyến đi kết hợp hội nghị, hội thảo và thăm
quan du lịch địa phương nơi tổ chức hội nghị, hội thảo.
- Du lịch kết hợp nghiên cứu chuyên đề: sử học, sinh học, đại dương học…
Kết hợp giữa việc nghiên cứu, tìm hiểu chuyên đề với du lịch địa phương nơi
thực hiện chuyên đề nghiên cứu.
- Du lịch thăm thân: kết hợp giữa việc đi thăm người thân và đi du lịch tại
địa phương người thân đó sinh sống.
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
9
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
thực sự là niềm khích lệ và tự hào lớn lao cho du lịch Việt Nam. Trong những
năm gần đây, tốc độ phát triển của du lịch Việt Nam là tương đối cao, đặc biệt là
năm 2007, số lượt khách du lịch quốc tế đến Việt Nam đã lên tới 4,2 triệu lượt
khách. Tính từ tháng 6 năm 2008, tốc độ phát triển du lịch Việt Nam có xu
hướng sụt giảm do ảnh hưởng của cơn bão khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Khách
của các thị trường trọng điểm liên tục giảm (Nhật Bản giảm 5.9%; Pháp giảm
1.6%, Hàn Quốc giảm 3.5%). Hàng loạt các thị trường không có đường bay
thẳng như Canada, Hà Lan, Đan Mạch, Bỉ… giảm 3.2%. Hiện nay, theo thống kê
của các doanh nghiệp lữ hành, tình trạng khách du lịch giảm cho đến nay (tháng
2 năm 2009) vẫn chưa có dấu hiệu phục hồi. Nguy cơ giảm khác trong năm 2009
đã được thấy rõ khi mà lượng khách đặt trước cho năm 2009 giảm trung bình
20% so với cùng kỳ năm 2008. (Nguồn: www.vietnamtourism.com.vn)
Về tài nguyên du lịch: Việt Nam tự hào là một nước thuộc vùng nhiệt đới, có
bốn mùa xanh tươi. Địa hình Việt nam có rừng, có núi, có sông, có biển, có đồng
bằng và cả cao nguyên. Núi non tạo nên những vùng cao có khí hậu gần với ôn
đới, nhiều hang động, ghềnh thác, đầm phá, nhiều nơi nghỉ dưỡng và danh lam
thắng cảnh như Sapa (Lào Cai); Tam Đảo (Vĩnh Phúc); Đà Lạt (Lâm Đồng); núi
Bà Đen (Tây Ninh); động Tam Thanh (Lạng Sơn); di sản thiên nhiên thế giới
Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình); vịnh Hạ Long… Với địa hình có đến
3260km bờ biển, với 125 bãi biển và 16 bãi tắm đẹp nổi tiếng như Trà Cổ, Bãi
Cháy (Quảng Ninh); Đồ Sơn (Hải Phòng); Sầm Sơn (Thanh Hóa), Non nước (Đà
Nẵng)… Việt Nam đã trở thành điểm đến yêu thích của các du khách yêu thích
hoạt động tắm biển, nghỉ dưỡng tại khác khu nghỉ gần bờ biển. Ngoài ra, với
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
11
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam có trên bảy nghìn di tích (trong đó có khoảng
2500 di tích được xếp hạng bảo vệ) như đền Hùng (Cổ Loa), Văn Miếu (Hà Nội)
…Tự hào hơn cả là quần thể di tích cố đô Huế; phố cổ Hội An và khu đền tháp
Mỹ Sơn đã được Unesco ghi nhận là di sản văn hóa thế giới. Tài nguyên du lịch
Nam đang được thực hiện mạnh mẽ. Ví dụ điển hình là Dự án Phát triển nguồn
nhân lực du lịch Việt Nam do EU tài trợ, phối hợp với Viện Quản lý và Phát
triển Châu Á. Dự án sẽ triển khai tổ chức 2 khóa đào tạo về Kỹ năng giám sát
cho các Đào tạo viên hệ thống VTOS (hệ thống tiêu chuẩn kỹ năng nghề Du lịch
Việt Nam) đã được VTCB (Hội đồng cấp chứng chỉ nghiệp vụ du lịch) công
nhận. Chương trình sẽ hỗ trợ các doanh nghiệp và cơ sở đào tạo nguồn nhân lực
du lịch nâng cao chất lượng đào tạo và trình độ nghiệp vụ của nhân viên thông
quá hình thành đội ngũ đào tạo viên, giám sát viên có đủ năng lực. Học viên sẽ
được trang bị những kiến thức và kỹ năng giám sát để có thể đảm nhiệm tốt vai
trò của các giám sát viên, trưởng bộ phận tại doanh nghiệp, giúp học viên kế hợp
tiêu chuẩn VTOS với các hoạt động thường ngày tại doanh nghiệp của mình.
(Nguồn: Tạp chí Du lịch)
Về cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật du lịch: tính đến năm 2007, Chính phủ đã
đầu tư hàng nghìn tỷ đồng cho Chương trình Hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ
tầng du lịch và hàng trăm tỷ đồng cho Chương trình hành động quốc gia về du
lịch mà nội dung của nó chính là nâng cao năng lực du lịch thông qua các dự án
phát triển, quảng bá sản phẩm và đào tạo nguồn nhân lực. Nhìn nhận về quy mô
khách sạn, cơ sở lưu trú có thể thấy rằng, khách sạn Việt Nam có quy mô nhỏ và
chất lượng chưa thực sự cao. Nếu chỉ tính khách sạn từ 1 đến 5 sao thì trung bình
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
13
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
mỗi khách sạn Việt Nam chỉ có khoảng 42 buồng. Nếu tính riêng các khách sạn
từ 4-5 sao thì bình quân mỗi khách sạn có 145 buồng. Con số này chưa thực sự
đáp ứng được nhu cầu về hoạt động ở của khách du lịch, từ khách du lịch trung
đến cao cấp đến từ các nước phương Tây. Không những vậy, nhìn chung các
ngành hỗ trợ du lịch chưa phát triển cùng nhịp với sự phát triển của ngành du
lịch. Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông của Việt Nam còn chưa thực sự tốt,
phương tiện đi lại còn lạc hậu, đường vận chuyển hàng không phát triển chưa
tương xứng với tiềm năng. Thêm một điều đáng đề cập đến nữa đó là việc ứng
cứu biểu hiện về mặt lượng của các quy luật phát sinh trong lĩnh vực này.
Thống kê du lịch không trực tiếp nghiên cứu mặt chất của hiện tượng mà chỉ
phản ánh bản chất, tính quy luật của hiện tượng, quá trình kinh tế, xã hội trong
lĩnh vực du lịch thông qua các con số, các biểu hiện về lượng của hiện tượng.
Các con số thống kê du lịch này phải được tập hợp, thu thập trên một số lớn các
hiện tượng cả biệt để đảm bảo bù trừ, triệt tiêu tác động của các yếu tố ngẫu
nhiên. Đối tượng nghiên cứu của thống kê nói chung cũng như trong thống kê du
lịch nói riêng bao giờ cũng phải tồn tại trong một điều kiện thời gian và địa điểm
cụ thể.
2.2 Ý nghĩa, nhiệm vụ thống kê du lịch
Ngày nay, thống kê du lịch trở nên vô cùng quan trọng trong tình hình cạnh
tranh du lịch trên thế giới diễn ra mạnh mẽ. Phải có hệ thống thống kê du lịch thì
mới có đầy đủ thông tin về thị trường, xây dựng được hệ thống chỉ tiêu thu thập
thông tin thị trường. Với những dữ liệu đầy đủ, chính xác và đáng tin cậy ta mới
có thể tiến hành các phương pháp khác nhau về phân tích trong du lịch. Đây là
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
15
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
một công việc hết sức cần thiết, góp phần đánh giá các khía cạnh khác nhau của
du lịch, hỗ trợ và nâng cao hiệu quả quá trình ra quyết định và hoạch định chính
sách.
Bằng việc vận dụng các phương pháp thống kê để phân tích một cách chính
xác tình hình thị trường có thể nghiên cứu từ phương diện định lượng, nhằm rút
ra các đặc trưng, tính quy luật làm cơ sở cho việc kết luận tình hình thị trường
hiện tại, tiến hành dự đoán, xây dựng chiến lược, đấu tranh thị trường. Theo báo
cáo tổng hợp đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: “Nghiên cứu xây dựng hệ thống
chỉ tiêu thống kê trong ngành du lịch”, tổ chức UNWTO đã đưa ra 5 đích cơ bản
gắn với việc nâng cao hệ thống thống kê du lịch thế giới mà Việt Nam nên tham
khảo thực hiện như sau:
- Định nghĩa các biến thống kê phản ánh các viễn cảnh khác nhau của du
tỉnh thành phố và cuối cùng là các phòng thống kê ở các quận, huyện.
Tổng cục Thống kê có vụ thống kê thương mại, dịch vụ và giá cả chuyên
trách thực hiện thống kê du lịch. Ở các cấp địa phương có các cục thống kê tỉnh,
thành phố và có phòng thống kê thương mại đảm nhiệm công tác thống kê du
lịch. Tại các phòng thống kê quận, huyện cũng có bộ phận chuyên thống kê trong
lĩnh vực du lịch. Bản thân tại các doanh nghiệp kinh doanh du lịch cũng có bộ
phận đảm nhiệm công tác thống kê nhằm phân tích và đưa ra các quyết định đảm
bảo hoạt động có hiệu quả hơn.
Nhìn chung, những mặt được của thống kê du lịch ở Việt Nam hiện nay có
thể kể đến đó là:
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
17
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
- Tổng cục Du lịch đã phối hợp với Tổng cục Thống kê dần hoàn thiện các
báo cáo thống kê định kỳ, tiến hành một số cuộc điều tra phục vụ thống kê du
lịch, nhờ đó mà thu thập được hệ thống số liệu hàng năm về hoạt động du lịch
để phục vụ cho quản lý và hoạch định chính sách phát triển du lịch.
- Xây dựng được một số báo cáo: báo cáo về số lượng khách du lịch quốc tế
đến Việt Nam theo tháng, quý, năm, theo phương tiện đến, quốc tịch, theo mục
đích chuyến đi…; báo cáo số lượng khách du lịch trong nước theo định kỳ 6
tháng, năm; báo cáo thực trạng và cơ cấu chi tiêu của khách quốc tế đến Việt
Nam.
Bên cạnh những mặt được thì hoạt động thống kê du lịch ở Việt Nam vẫn còn
nhiều mặt hạn chế:
- Hiện tại, Tổng cục Du lịch chưa có đơn vị thực hiện công tác thống kê du
lịch riêng biệt. Số cán bộ đảm nhiệm công tác thống kê tại Tổng cục Du lịch còn
mỏng so với nhiệm vụ đặt ra, cán bộ thống kê du lịch thường thay đổi nên thiếu
tính kế thừa.
- Số liệu thống kê du lịch còn bị giới hạn trong phạm vi hẹp, chủ yếu chỉ tập
trung vào số liệu khách quốc tế đến Việt nam, phân loại theo thị trường khách,
tại nơi họ đến.
Năm 1937, Liên hiệp các quốc gia đã đưa ra khái niệm về khách du lịch nước
ngoài như sau: Bất cứ ai đến thăm một đất nước khác với nơi cư trú thường
xuyên của mình trong khoảng thời gian ít nhất là 24 giờ.
Năm 1950, Liên hiệp quốc tế của các tổ chức chính thức về du lịch – IUOTO
( sau này là WTO) đã định nghĩa khách du lịch quốc tế có hai điểm khác với
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
19
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
định nghĩa của Liên hiệp các quốc gia vào năm 1937, đó là: sinh viên, những
người đến học ở các trường được coi là khách du lịch và những người quá cảnh
không được coi là khách du lịch kể cả họ hành trình qua một nước không dừng
lại trong thời gian vượt qua 24 giờ hay hành trình trong khoảng thời gian dưới 24
giờ và có dừng lại nhưng không phải mục đích du lịch.
Năm 1963, tại Hội nghị Roma (Italia) do Liên Hiệp Quốc tổ chức về các vấn
đề du lịch quốc tế và đi lại quốc tế lại đưa ra định nghĩa về khách du lịch như
sau: Khách du lịch quốc tế là người lưu lại tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài
nơi cư trú thường xuyên của họ trong thời gian ít nhất là 24 giờ (hoặc sử dụng ít
nhất một buổi tối trọ). Động cơ khởi hành của những người này là: giải trí, chữa
bệnh, học tập với mục đích thể thao hoặc tôn giáo; đi du lịch kết hợp làm ăn,
thăm gia đình, bạn bè, đi du lịch kết hợp với Hội nghị. Những người sau không
được coi là khách du lịch quốc tế: những người ra nước ngoài để tìm kiếm việc
làm hoặc làm ăn theo hoặc không theo hợp đồng; những cư dân ở vùng giáp biên
giới sống ở nước bên này nhưng làm việc ở nước bên cạnh; những người dân di
cư tạm thời hoặc cố định; những người tị nạn; người tha phương cầu thực, các
nhà ngoại giao và nhân viên các đại sứ quán, lãnh sự quán, các lực lượng bảo an.
Năm 1989, tại hội nghị quốc tế về du lịch tại Hà Lan đã đưa ra khái niệm về
khách du lịch quốc tế như sau: Khách du lịch quốc tế là những người đi thăm
một đất nước khác với mục đích tham quan,nghỉ ngơi, giải trí, thăm hỏi trong
khoảng thời gian ít hơn 3 tháng, những người này không được làm gì để được trả
gia đó đi du lịch trong nước.
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
21
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
- Khách du lịch nội địa ( domestic tourist) gồm: khách du lịch trong nước và
khách du lịch quốc tế đến.
- Khách du lịch quốc gia (national tourist) gồm: khách du lịch trong nước và
khách du lịch quốc tế ra nước ngoài.
Tại Việt Nam, theo điều 20, chương IV của pháp lệnh du lịch Việt Nam năm
1999 có định nghĩa về khách du lịch quốc tế như sau: Là người nước ngoài,
người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch và công dân Việt
nam, người nước ngoài cư trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch. Khách du lịch
nội địa là công dân Việt Nam và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam đi du lịch
trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam
Theo Luật Du lịch – NXB chính trị quốc gia – 2005 – trang 10 định nghĩa:
khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học,
làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập từ nơi đến.
Từ đó, khách du lịch được phân ra làm các loại như sau :
- Khách du lịch quốc tế : là 1 người khách đi du lịch tới 1 đất nước không
phải là đất nước mà họ cư trú thường xuyên trong khoảng thời gian ít nhất là 1
ngày đêm và không vượt quá 365 ngày. Mục đích chính của chuyến đi không
phải là để thực hiện các hoạt động kiếm tiền trong phạm vi các nước tới thăm.
- Khách du lịch trong nước : là khách cư trú ở 1 đất nước đi du lịch tới 1
địa phương khác trong nước đó nhưng ngoài môi trường thường xuyên của họ
trong khoảng thời gian ít nhất 1 ngày đêm nhưng không vượt quá 6 tháng. Mục
đích chính của chuyến đi không phải để thực hiện hoạt động kiếm tiền trong
phạm vi địa phương tới thăm.
- Khách thăm quan : là khách có các chuyến thăm ngắn ngày không nghỉ tại
cơ sở lưu trú có trả tiền, hoặc các chuyến thăm trong ngày tại điểm đến.
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
- Khách du lịch nghỉ từ 61-90 ngày.
- Khách du lịch nghỉ từ 91-180 ngày.
- Khách du lịch nghỉ từ 181-365 ngày.
Nếu phân loại khách theo nguồn khách :
- Khách quốc tế đến : chia theo quốc tịch.
- Khách du lịch ra nước ngoài : chia theo nước đến.
- Khách du lịch trong nước : chia theo vùng, miền, địa phương.
Nếu phân loại theo mục đích chuyến đi :
- Khách du lịch thuần túy : mục đích du lịch là nghỉ ngơi, vui chơi.
- Khách du lịch công vụ : khách đi du lịch kết hợp với đi công vụ.
- Khách du lịch thể thao : khách đi du lịch kết hợp với hoạt động thể thao.
- Khách du lịch kết hợp chữa bênh : khách đi du lịch kết hợp việc chữa
bệnh.
- Khách du lịch thăm thân.
Nếu phân loại theo các tiêu thức nhân khẩu học :
- Giới tính : Nam hay Nữ.
- Độ tuổi :
Dưới 18 tuổi,
Từ 18 – 25 tuổi (thường là khách tự chủ động du lịch)
Từ 25-35 tuổi (khách du lịch theo gia đình)
Từ 35-45 tuổi (chủ yếu là khách du lịch công vụ)
Từ 45-55 tuổi (đi công vụ kết hợp)
Từ 55 tuổi trở lên (khách đi du lịch thuần túy)
- Nghề nghiệp :
Khách cao cấp của nhà nước.
Nguyễn Phạm Hương Liên Lớp: Thống kê Kinh tế - Xã hội 47A
24
Luận văn tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Khách là các nhà quản lý (du lịch kết hợp công vụ, du lịch kết hợp hoạt
động thể thao )