Nghiên cứu một số chỉ tiêu về tuổi đẻ lần đầu, khối lượng, sản lượng và chất lượng sữa của đàn bò sữa lai HF trong đàn giống hạt nhân tại ba vì và vùng ven - Pdf 14

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ TIÊU VỀ TUỔI ĐẺ LẦN ĐẦU,KHỐI
LƯỢNG, SẢN LƯỢNG VÀ CHẤT LƯỢNG SỮA CỦA ĐÀN BÒ SỮA LAI
HOLSTEIN FRIESIAN (HF) TRONG ĐÀN GIỐNG HẠT NHÂN TẠI BA VÌ
VÀ VÙNG VEN
Tăng Xuân Lưu, Trần Thị Loan ,
1
Trần Đức Tĩnh,
2
Nguyễn Văn Đức
2
Phạm Văn Giới, Phùng Quang Trường
Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng Cỏ Ba Vì;
1
Trạm Khuyến nông huyện Ba Vì;
2
Viện Chăn Nuôi
TÓM TẮT Đàn bò lai hướng sữa hạt nhân, đàn nhân giống và đàn sản xuất tại Ba Vì và
vùng ven:
TĐLĐ 31,10±2,58 tháng; SLS toàn đàn 4.169,57±14,97 kg/chu kỳ; đàn hạt nhân là
5.633,97 kg; đàn nhân giống 4.421,25 kg; đàn sản xuất 3.673,50 kg; KL cơ thể trung bình
của tháp giống là 410,79±0,76kg. SLS qua các năm được tăng lên từ 3.969,23 kg/chu kì
năm 2006 lên 4.394,13 kg/chu kì năm 2010. SLS tăng lên từ lứa 1(3.402,2 kg/chu kì) lên ứa
4 (4.353,2 kg/chu kì), lứa 5 trở đi chỉ đạt 4.332,4 kg/chu kì.
SLS của nhóm 3/4HF 4149,7kg/chu kỳ, đàn 7/8HF 4.190,5 kg/chu kì. SLS 3 chu kì
đầu của đàn mẹ là 4.081,1 và đàn con là 4.100,7 kg/chu kì. Hệ số di truyền về các tính trạng:
TĐLĐ 0,37±0,09, SLS 0,33±0,10 và TLMS 0,34±0,08 ; Mối tương quan di truyền giữa các
tính trạng đều thấp: TĐLĐ và SLS là 0,08±0,07; TĐLĐ và TLMS là 0,06±0,04. Hệ số tương
quan di truyền giữa tính trạng SLS và TLMS rất chặt chẽ, nhưng ngược chiều nhau -

Thu thập số liệu: Số liệu trên sổ, trong máy tính của 4.273 bò cái lai 3/4HF1/4LS và
7/8HF1/8LS nuôi ở các cơ sở về tuổi đẻ lứa đầu(TĐLĐ), sản lượng sữa( SLS), khối lượng cơ
thể( KL) và tỉ lệ mỡ sữa(TLMS)
Số liệu về SLS của những chu kỳ sữa nhỏ hơn 180 ngày không được sử dụng và chu
kỳ sữa lớn hơn 305 ngày thì chỉ tính đến 305 ngày ( theo phương pháp Siego,1992)
Trên cơ sở có đánh giá chế độ chăm sóc nuôi dưỡng qua các thời điểm.
Sử dụng phương pháp phân chia tầng tháp trong nghiên cứu
Chỉnh lý và xử lý bộ số liệu: Dùng chương trình EXCELL và MINITAB để loại bỏ
những cá thể và số liệu không tuân thủ theo phân bố chuẩn.
Sử dụng mô hình toán sinh học:
Y
hijklmn
= µ + G
h
+L1 + ε
εε
ε
hịjklmn

Trong đó: Y
hijklmn
là năng suất của tính trạng nghiên cứu;
µ là giá trị trung bình của quần thể;
G
h
là ảnh hưởng của nhóm di truyền (tổ hợp lai) thứ h; h = 2 (3/4 HF; 7/8HF)
L
l
là ảnh hưởng của chu kỳ sữa thứ l;( L
j

b
5,57 24,78 45,37
Toàn tháp 2.781 31,10 2,58 23,05 46,30
KL
(kg)
HN 376 426,99
a
2,50 274,0 620,0
NG 1.849 413,09
b
1,13 39,8 602,0
SX 2.048 405,73
c
1,07 278,0 608,0
Toàn tháp 4.273 410,79 0,76 39,8 620,0
(HN: hạt nhân; NG: nhân giống; SX: sản xuất)

Tuổi đẻ lần đầu (TĐLĐ) là một trong những tính trạng quan trọng nhất về chỉ tiêu
sinh sản đối với bò sữa vì bò sữa đẻ muộn, đời hữu ích ngắn, dẫn tới thời gian khai thác sữa
ngắn và tổng SLS thấp, hiệu quả kinh tế không cao. Bò sữa nhiệt đới nói chung có TĐLĐ
cao, biến động trong phạm vi 30-44 tháng tuổi vì chúng đều xuất phát từ Bos indicus. Ngoài
ra, yếu tố môi trường và điều kiện chăn nuôi không tốt cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng
lớn đến sự đẻ muộn của bò lai ở vùng nhiệt đới (Rao, 1984).
Kết quả về TĐLĐ của bò lai hướng sữa tại Ba Vì và vùng ven (bảng 1) trung bình là
31,10±2,58 tháng. Kết quả này thấp hơn so với giá trị nghiên cứu trước đây của Nguyễn Văn
Thưởng và Nguyễn Văn Đức, (1991) là 41,0 tháng, xác định được trên đàn bê lai hướng sữa
nuôi tại Ba Vì; Nguyễn Văn Đức và Taneja (1984) trên đàn bò F
1
(HFxHariana) của Ấn Độ là
37,3 tháng; của Phạm Văn Giới và Nguyễn Văn Đức (2007) là 33,04 tháng. Song, kết quả này

d
30,40 1.783 7.648
2008 700 4.281,08
b
36,33 2.003 8.595
2009 700 4.203,70
c
36,33 1.984 8.350
2010 700 4.394,13
a
36,33 2.123 8.863 2006 1173 3,92 0,02 2,03 6,45
2007 1000 3,93 0,02 2,03 6,45
Mỡ sữa
(%)
2008 700 3,94 0,03 2,03 6,45
2009 700 3,94 0,03 2,03 6,45
2010 700 3,94 0,03 2,03 9,73 Protein sữa
(%)
2006 1173 3,35 0,01 2,73 10,44
2007 1000 3,32 0,01 2,73 10,44
2008 700 3,32 0,02 2,73 10,44
2009 700 3,31 0,02 2,73 10,44
2010 700 3,32 0,02 2,52 10,44



1 727 3.402,2
đ

35,1 1572,0 7889,3
2 977 4.171,9
d

30,2 1277,0 7385,1
3 1132 4.263,9
c

28,1 2207,2 7564,0
4 732 4.353,2
a

34,9 1909,9 8336,7
5+ 705 4.332,4
b

35,6 2193,7 8863,3 Mỡ sữa (%)
1 727 3,88 0,03 2,03 8,08
2 977 3,89 0,02 2,25 6,30
3 1132 4,01 0,02 2,03 9,73
4 732 3,93 0,03 2,65 6,00
5+ 705 3,93 0,03 2,15 6,10


SLS F2 2053 4.190,5 21,6 3277,0

8863,3
(kg/305 ngày)
F3 2220 4.149,7 20,8 3759,9

8637,6
Mỡ sữa(%)
F2 2053 3,93 0,02 2,03 9,73
F3 2220 3,93 0,02 2,03 6,45
Protein sữa(%)
F2 2053 3,35 0,01 2,52 10,44
F3 2220 3,33 0,01 2,73 10,44
Vật chất khô(%)
F2 2053 11,97 0,03 6,38 17,90
F3 2220 11,94 0,03 6,38 17,90

Xét theo nhóm giống, SLS chu kì 305 ngày tương đối cao, ở nhóm 87,5%HF là
4.149,7 kg/chu kì và nhóm 75%HF là 4.190,5 kg/chu kì. Sự sai khác của giá trị trung bình về
SLS giữa các nhóm bò lai không có ý nghĩa thống kê rõ rệt (P>0,05. Kết quả này cao hơn so
với công bố của Nguyễn Văn Đức (2005), nhưng tương đương so với công bố của Phạm Văn
Giới và cộng sự (2007) trên đàn bò lai HF .
Sự sai khác của giá trị trung bình về TLMS, Protein và vật chất khô giữa các nhóm
3/4HF1/4LS và 7/8HF không có sự khác nhau rõ rệt: 3,93%; 3,35% và 3,33%; 11,97 và
11,94%, tương ứng. Kết quả này tương đương với công bố của Phạm Văn Giới và cộng sự
(2006) trên đàn bò lai HF .
3.2.4. Sản lượng và chất lượng sữa đàn bò trong tháp giống theo tầng và nhóm giống
Bảng 5. Các chỉ tiêu về sản lượng sữa, chất lượng sữa,của đàn bò ở các nhóm giống và các
tầng trong nhóm giống
Chỉ tiêu Tầng tháp Giống n(kỳ) LSM SE Min Max

F3 1055 3,34 0,01 2,20 10,44
Vật chất khô
(%)
Hạt nhân
F2 201 11,89 0,09 8,75 14,43
F3 175 11,92 0,09 8,75 15,40
Nhân giống
F2 859 11,96 0,04 7,30 17,90
F3 990 11,92 0,04 7,30 17,80
Sản xuất
F2 993 12,04 0,04 6,38 17,90
F3 1055 12,00 0,04 6,38 17,90
Xét theo nhóm giống, SLS chu kì 305 ngày trong 3 tầng hạt nhân, nhân giống và sản
xuất tương đối cao, ở nhóm 75%HF cao hơn nhóm 87,5%HF . Song, sự sai khác của giá trị
trung bình về SLS giữa các nhóm bò lai trong mỗi tầng hầu như không có ý nghĩa thống kê
(P>0,05).
Tương tự, sự sai khác của giá trị trung bình về TLMS, Protein và vật chất khô giữa
các nhóm 3/4HF và 7/8HF trong mỗi tầng hầu như không có sự khác nhau rõ rệt. Kết quả
này tương đương so với công bố của Phạm Văn Giới và cộng sự (2007) trên đàn bò HF lai
của cả nước.
3.3. Sản lượng sữa 3 lứa đầu của đàn mẹ và con trong tháp giống hạt nhân lai HF
Bảng 6. Sản lượng sữa 3 lứa đẻ của đàn con sinh ra từ các bò mẹ trong tầng
hạt nhân
Đàn Lứa đẻ n(con) LSM SE Min Max
SLS của tháp
giống
1 727 3.674,2 30,9 1572 7889
2 977 4.171,9 27,3 2277 7385
3 1.132 4.263,8 29,0 2207 7564
TB 3 lứa 2.836 4.081,1

lệch (%)
1 3.674,2 3.806,7 132,50 3,61
2 4.171,9 4.208,8 36,90 0,88
3 4.263,8 4.403,8 139,90 3,28

3.4. Hệ số di truyền và tương quan di truyền về tuổi đẻ lần đầu, SLS và tỷ lệ mỡ sữa
Trong cơ thể gia súc, hầu hết các tính trạng sinh trưởng phát triển, sinh sản, sản xuất
đều thuộc nhóm tính trạng số lượng. Các tính trạng này được điều khiển bởi nhiều gen và
mỗi gen chỉ gây một áp lực nhất định đối với mỗi tính trạng. Vì vậy, việc xác định hệ số di
truyền và mối tương quan di truyền giữa các tính trạng giúp hiểu rõ bản chất của từng tính
trạng và mức độ ảnh hưởng của yếu tố di truyền và môi trường là rất quan trọng trong chọn
lọc . Hệ số di truyền của các tính trạng TĐLĐ, SLS và TLMS của 3 lứa đầu ở bò lai hướng
sữa và tương quan di truyền giữa chúng được trình bày chi tiết tại Bảng 8.
Bảng 8. Hệ số di truyền (Đường chéo) và hệ số tương quan di truyền các tính trạng tuổi đẻ
lần đầu, SLS và tỷ lệ mỡ sữa của bò lai HF
Tính trạng Tuổi đẻ lần đầuu Sản lượng sữa Tỷ lệ mỡ sữa
Tuổi đẻ lần đầu
0,37±0,09 0,08±0,07 0,06±0,04
Sản lượng sữa
0,33±0,10 -0,92±0,08
Tỷ lệ mỡ sữa
0,34±0,08
Ghi chú: Các trị số in đậm là hệ số di truyền và còn lại là hệ số tương quan di truyền
3.4.1. Hệ số di truyền về tuổi đẻ lần đầu
Hệ số di truyền về TĐLĐ của đàn bò lai HF là 0,37±0,09. Kết quả này thấp hơn giá
trị 0,38 của bò Lang trắng đen ở tỉnh Hắc Long Giang, Trung Quốc (Ding và Takeo, 2001);
nhưng, cao hơn giá trị 0,27-0,31 tìm được của Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức
(1991) trên đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì và Phù Đổng; 0,31 của Nguyễn Văn Đức
(2002a) trên đàn bò lai hướng sữa của cả nước; 0,30 của Phạm Văn Giới và cộng sự (2007).
Kết quả này cho thấy, tính trạng TĐLĐ, có hệ số di truyền đạt trung bình cao và mức độ biến

thấp hơn so với 0,27 của Nguyễn Văn Đức (2002a) trên đàn bò lai hướng sữa của cả nước;
0,09 của Phạm Văn Giới và cộng sự (2007) nghiên cứu trên đàn bò HF lai. Song, đối với bò sữa,
khi TĐLĐ thấp, đời hữu ích sẽ kéo dài, tổng SLS của cả đời hữu ích cao dẫn đến hiệu quả kinh
tế cao. Vì vậy, đối với bò sữa cần chọn những cá thể có TĐLĐ thấp.
Hệ số tương quan di truyền giữa TĐLĐ và TLMS của bò lai HF tại Ba Vì- vùng ven
không chặt chẽ : 0,06±0,04. Kết quả này thấp hơn so với 0,12 của Nguyễn Văn Đức (2002a)
trên đàn bò lai hướng sữa của cả nước; Như vậy, giống như đối với tính trạng SLS, bò đẻ lần
đầu sớm hay muộn cũng không ảnh hưởng đến TLMS.
3.4.5. Hệ số tương quan di truyền giữa SLS và tỷ lệ mỡ sữa
Các kết luận của các nhà khoa học trên thế giới và tại Việt Nam đều cho thấy, SLS
của bò sữa biểu thị mối tương quan rất chặt chẽ, theo hướng ngược chiều nhau với TLMS.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, hệ số tương quan di truyền giữa SLS và TLMS
là -0,92±0,08. Kết quả này cao hơn so với -0,91 của Nguyễn Văn Đức (2002b) trên đàn bò lai
hướng sữa của cả nước; -0,91 của Nguyễn Văn Đức và cộng sự (2006) được nghiên cứu trên
đàn bò HF, nhưng thấp hơn so với -0,93 của Phạm Văn Giới và cộng sự (2007) trên đàn bò
HF lai của cả nước.
Do mối tương quan âm khi phân tích giữa 2 tính trạng này nên khi chọn lọc cần áp
dụng theo phương pháp chọn lọc loại thải độc lập mới mang lại hiệu quả cao. Song kết quả
này tương đương với kết quả tìm được của Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức (1991)
trên đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Trung tâm sữa và giống bò Hà Nội và Trung tâm nghiên
cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì.
4. Kết luận và đề nghị
4.1. Kết luận
TĐLĐ, KL đẻ lần đầu, SLS và chất lượng sữa của bò lai HF tại Ba Vì và vùng ven
tương đối tốt: TĐLĐ trung bình là 31,10±2,58 tháng; SLS toàn đàn là 4.169,57±14,97 kg/chu
kỳ; đàn hạt nhân là 5.633,97 kg/chu kì; đàn nhân giống là 4.421,25 kg/chu kì và đàn sản
xuất là 3.673,50 kg/chu kì; SLS của nhóm 3/4HF cao hơn không đáng kể so với 7/8HF; KL
cơ thể trung bình của tháp giống là 410,79±0,76kg.
SLS qua các năm được tăng lên từ 3.969,23 kg/chu kì năm 2006 lên 4.146,98 kg/chu
kì năm 2007, 4.281,08 năm 2008,và 4.394,13 kg/chu kì năm 2010

Hồ Chí Minh”. BCKH Chăn nuôi Thú y (Huế 28-30/6/1999), Phần Chăn nuôi gia súc.
Trang: 82-98.
6. Nguyễn Văn Đức (2002a). "Hệ số di truyền và tương quan di truyền giữa KLsơ sinh,
TĐLĐ, SLS và TLMS của bò lai hướng sữa Việt Nam". Tạp Chí Chăn Nuôi, Số 2: 4-5.
7. Nguyễn Văn Đức (2002b). “Đặc điểm di truyền và mối tương quan di truyền giữa khối
lượng sơ sinh, khối lượng lúc 24 tháng, tuổi đẻ lần đầu, SLS và mỡ sữa”. Tạp chí Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn. Số 6: 503.
8. Nguyễn Văn Đức (2005). Báo cáo nghiệm thu Đề tài Độc lập cấp Nhà nước “Nghiên
cứu ứng dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến phát triển chăn nuôi bò sữa” (2003-2005).
9. Nguyen Van Duc and V.K. Taneja (1984). “Comparative performance of purebred and
crossbred grades in India”, Indian Journal of Animal Sciences 54 (11): 1023-1028.
10. Nguyễn Văn Đức và Lê Thanh Hải (2002). Phương pháp kiểm tra thống kê sinh học, Nhà
xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội
11. Nguyễn Văn Đức, Trần Trọng Thêm và Phạm Văn Giới (2006). "Hệ số di truyền và tương
quan di truyền giữa SLS và TLMS của bò HF ở Việt Nam". Tạp Chí Chăn Nuôi, 3: 15-17.
12. Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức (1991). “Đặc điểm di truyền một số tính trạng
bò lai hướng sữa Việt Nam”. Hội nghị KHKT Chăn nuôi-Thú Y, Bộ NN&CNTP, Hà
Nội, 11-12/4/91. Trang: 12-13.
13. Nguyễn Văn Thưởng, Nguyễn Văn Đức, Hoàng Thiên Hương, Lê Văn Ngọc và Nguyễn
Hữu Lương (2006). "Kết quả xếp cấp và khả năng cho sữa của bò lai hướng sữa F
1
,
3/4HF, 7/8HF nuôi ở Ba Vì, Hà Nội và vùng phụ cận”. Tạp Chí Chăn Nuôi, Số 1: 4-8.
14. Phạm Văn Giới và Nguyễn Văn Đức (2007). “Hệ số di truyền và tương quan di truyền
giữa tuổi đẻ lần đầu, SLS và tỷ lệ mỡ sữa của bò lai hướng sữa Việt Nam”. Báo cáo khoa
học năm 2006 tại Hà Nội, phần Di truyền - Giống vật nuôi, Trang 59-65.
15. Phạm Văn Giới, Nguyễn Văn Đức và Trần Trọng Thêm (2006). "Khả năng sản xuất sữa
của bò lai hướng sữa Việt Nam". TC Khoa học Công nghệ Chăn nuôi. Số 1: 34-39.
16. Phạm Văn Giới, Nguyễn Văn Đức và Trần Trọng Thêm (2007). “Nghiên cứu ảnh hưởng
của một số cố định đến SLS đàn bò HF lai hạt nhân và cấp 1 Việt Nam”. Tạp chí Khoa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status