GIÁ TRỊ GIỐNG ƯỚC TÍNH VỀ SẢN LƯỢNG SỮA CỦA ĐÀN BÒ ĐỰC GIỐNG
HOLSTEIN FRIESIAN SỬ DỤNG TẠI MỘC CHÂU VÀ TUYÊN QUANG
Phạm Văn Giới, Trần Trung Thông, Trần Trọng Thêm và Nguyễn Văn Đức
Bộ môn Di truyền - Giống vật nuôi
Tóm tắt
Mục tiêu nghiên cứu này là để ước tính giá trị giống của đàn bò đực đã và đang sử dụng phối giống cho đàn
bò cái Holstein Friesian (HF) thuần nuôi tại Mộc Châu và Tuyên Quang. 907 bò đực HF và hơn 5000 bò cái con gái
của chúng được sử dụng và thu thập số liệu trong nghiên cứu này. Số liệu được thu thập, tập hợp từ năm 2000 đến
2009 ở cả hai khu vực. SAS (1999) được sử dụng để xác định các yếu tố ảnh hưởng ổn định của 3 tính trạng sản
lượng sữa lứa 1 (SLS1), sản lượng sữa lứa 2 (SLS2) và sản lượng sữa lứa 3 (SLS3). Sử dụng mô hình con vật 1 tính
trạng để ước tính phương sai di truyền và môi trường, VCE5 được ứng dụng để ước tính phương sai di truyền và
môi trường của mỗi tính trạng, PEST (2003) được sử dụng để ước tính giá trị giống của các con vật với mô hình con
vật 1 tính trạng. Phương sai di truyền và môi trường lấy từ kết quả chạy VCE5.
Kết quả cho biết rằng SLS1, SLS2 và SLS3 trong nghiên cứu này đạt 4440.81±12.43, 4810.30±17.16 và
4990.57±23.90kg. Giá trị giống trung bình của ba tính trạng của đàn bò đực HF sử dụng phối giống tại Mộc Châu và
tuyên Quang có giá trị rất thấp từ -0,27kg ở SLS1 đến 1,96kg ở SLS2 và 0,89kg ở SLS3. Cần phải chọn lọc và xếp
cấp các con đực này khi sử dụng để phối giống tiếp theo. Nhóm đực giống có giá trị giống từ 200kg trở lên ở cả 3
tính trạng tương ứng là 339,10±11,30; 341,90±14,60 và 298,80±13,20 kg. Bò đực giống HF có nguồn gốc từ Châu
Âu, Mỹ và Úc có tiềm năng di truyền đáp ứng được để sử dụng tại Việt Nam. 11 bò đực có giá trị giống cao ở cả 3
tính trạng, trong đó 6 con có phẩm chất tốt nên được sử dụng để phát triển đàn hạt nhân năng suất cao tại Mộc Châu,
Tuyên Quang và một số vùng khác.
1. Đặt vấn đề
Trong mô hình chọn và nhân giống đại gia súc nói chung và bò sữa nói riêng, việc chọn
tạo và sử dụng đực giống đóng vai trò rất quan trọng, quyết định sự thành bại trong chương trình
giống. Để đàn con có năng suất sữa cao, cần chọn tạo được những đực giống đạt tiêu chuẩn,
mang tiềm năng di truyền về sữa tốt và khả năng truyền đạt cao tiềm năng năng suất sữa cho đời
sau. Chính vì vậy, cần phải quan tâm đến việc chọn tạo và sử dụng các cá thể đực giống tốt để
nhân giống thành công trong công tác giống. Mộc Châu và Tuyên Quang là hai cơ sở chăn nuôi
bò sữa Holstein Friesian (HF) thuần điển hình hiện nay ở Việt Nam, quy mô lớn, cơ sở hạ tầng
Tuyên Quang theo mẫu: Số hiệu, ngày sinh, bố, mẹ, ngày đẻ các lứa 1, 2 và 3, năng suất sữa 305
ngày các lứa 1, 2 và 3. Tổng số có 4894 bò cái là con gái của 907 bò đực giống có số liệu đủ điều
kiện để đưa vào ước tính giá trị giống.
- Thời gian thu số liệu: Các lứa đẻ từ năm 2000 đến 2008 và số liệu thu đến 2009.
- Chuẩn bị số liệu: xắp xếp, loại bỏ số liệu bất hợp lý, mã hóa số liệu theo quy định cho
phù hợp với các phần mềm VCE và PEST (2003).
- Phân tích số liệu: Xác định các nhân tố ảnh hưởng và tham số thống kê cơ bản dùng
chương trình SAS.1999. Xác định các tham số di truyền, phương sai di truyền và môi trường của
các tính trạng SLS lứa 1, lứa 2 và lứa 3 dùng chương trình VCE5 và dùng mô hình con vật 1 tính
trạng để ước tính. Ước tính giá trị giống của các tính trạng SLS các lứa 1, lứa 2 và lứa 3 của các
con vật dùng chương trình PEST.2003, dùng mô hình con vật 1 tính trạng để ước tính. Mô hình
sử dụng để ước tính có dạng như sau:
Y = Xb+Zu+e
Trong đó:
- Y là Véc tơ giá trị quan sát của các tính trạng (SLS1, SLS2 và SLS3) của các bò cái thu số liệu:
- X là Ma trận tần xuất của các ảnh hưởng ổn định.
- b là Véc tơ của các yếu tố ảnh hưởng ổn định: (KV: là ảnh hưởng ổn định của khu vực chăn nuôi
thứ i: (i=2, Mộc Châu và Tuyên Quang); NB: là ảnh hưởng ổn định của nguồn bố gia súc thứ j: (j=3,
Châu Âu-Mỹ, Châu Úc và Châu Á).; NM: là ảnh hưởng ổn định của nguồn mẹ gia súc thứ k: (k=2, Việt
Nam và Nhập Khẩu); NGS: là ảnh hưởng ổn định của nguồn gia súc thứ l: (l=2, Việt Nam, Nhập Khẩu); MD: là ảnh hưởng ổn định của mùa vụ đẻ thứ m: (m=2, Đông-Xuân và Hè-Thu); ND: là ảnh hưởng ổn
định của năm đẻ thứ n: (n=9: 2000-2008) và hệ số hồi quy bậc 1 của tuổi sinh bê (chỉ có ở SLS1)).
- Z là Ma trận tần xuất do ảnh hưởng ngẫu nghiên của con vật gây ra (ma trận của hệ phả).
- u là Véc tơ ảnh hưởng ngẫu nhiên của con vật (Giá trị giống).
- e là Véc tơ ảnh hưởng của sai số ngẫu nhiên
Sử dụng phương sai di truyền và môi trường để ước tính giá trị giống của các con vật lấy
từ xử lý chương trình VCE5 và kết quả đó ở Bảng 1.
Bảng 1. Phương sai giá trị di truyền và môi trường sử dụng để ước tính giá trị giống
Xtb
SE
SLS1
3909
4440,81
12,43
SLS2
2716
4810,30
17,16
SLS3
1978
4990,57
23,90
3.2. Giá trị giống chung của cả đàn đực giống ở cả 3 tính trạng
Kết quả thể hiện ở Bảng 3 cho biết trong tổng số các đực giống đã và đang sử dụng tại
hai cơ sở trên có đầy đủ số liệu để ước tính giá trị giống về các tính trạng SLS1, SLS2 và SLS3
cho thấy giá trị giống ước tính (GTG) trung bình của chúng đạt -0,27 kg, 1,96 kg và 0,89 kg,
tương ứng. Ngoài ra, kết quả cũng cho biết GTG của các đực giống này biến động rất lớn, từ -
882,89kg đến 817,73kg đối với tính rạng SLS1; từ -962,25kg đến 979,36kg đối với tính trạng
SLS2 và -755,94 kg đến 676,50 kg đối với tính trạng SLS3. Mức biến động này cũng tương tự
như đàn bò HF của Iran từ -265kg đến +1287kg (Mashhadi và cs., 2008); trên đàn đực HF của
Tunisia từ -295,79kg đến +554,58kg (Hammami và cs., 2008). Kết quả này cho biết cần phải chọn lọc các đực giống tốt sử dụng cho phối giống để cải thiện, nâng cao SLS1, SLS2 và SLS3
trên đàn bò đời sau vì các đực giống này có giá trị trung bình quá thấp, hơn nữa mức độ phân ly
của chúng rất mạnh, vì vậy chọn lọc dễ đem đến hiệu quả cao.
Bảng 3. Giá trị giống các tính trạng SLS1, SLS2 và SLS3 của đàn đực giống sử sử dụng phối
giống tại Mộc Châu và Tuyên Quang
SLS3
584
0,89
6,71
-755,94
676,50
Độ tin cậy SLS3
584
0,33
0,01
0,12
0,90
3.3. Giá trị giống của các đực giống có nguồn gốc khác nhau
Kết quả thể hiện ở Bảng 4 và Sơ đồ 1 cho biết ở cả ba tính trạng SLS1, SLS2 và SLS3,
các đực giống có nguồn gốc châu Âu-Mỹ có trung bình giá trị giống đạt cao nhất sau đó đến
nhóm đực có nguồn gốc châu Úc và thấp nhất là nhóm đực ở châu Á. Ví dụ: ở SLS1 giá trị giống
trung bình của nhóm đực có nguồn gốc châu Âu-Mỹ đạt trung bình là 2,36kg, cao hơn nhóm đực
châu Úc là -1,18 kg và thấp nhất ở nhóm đực châu Á đạt -15,70 kg. Mặt khác, kết quả còn cho
biết giá trị giống của nhóm đực châu Âu-Mỹ luôn có giá trị dương, biến động từ +2,36 kg ở
SLS1 đến +4,62 kg ở SLS2 và +6,89 ở SLS3; nhóm đực có nguồn gốc châu Á ở cả 3 tính trạng
đều có giá trị âm từ -15,70kg ở SLS1 đến -72,70 kg ở SLS2 và thấp nhất ở SLS2 có giá trị là -
82,80kg. Kết quả này cho biết các đực giống có nguồn gốc châu Âu-Mỹ có tiềm năng năng suất
tốt, nên chọn lọc các cá thể xuất sắc trong số các nhóm này để lập kế hoạch ghép phối, các đực
giống có nguồn gốc châu Úc và Á có tiềm năng kém hơn. Ngoài ra kết quả cũng chỉ ra rằng khi
nhập khẩu đực giống nên xem xét đến các đực giống có nguồn gốc châu Âu-Mỹ hoặc châu Úc,
nên hạn chế nhập khẩu và sử dụng các đực giống có nguồn gốc châu Á, vì tiềm năng năng suất
kém hơn các nguồn khác.
Bảng 4. Giá trị giống của các đực giống theo nguồn gốc của chúng
Chỉ tiêu
-371,00
220,00
Châu Âu-Mỹ
200
4,62
17,70
-962,30
788,70
Châu Úc
489
1,56
9,69
-921,93
979,36 SLS3
Châu Á
2
-72,70
74,80
-147,50
2,13
Châu Âu-Mỹ
193
6,89
12,40
-512,60
555,70
Châu Úc
-50
-40
-30
-20
-10
0
10
20
SLS1 SLS2 SLS3
GTG (kg)
C.A
C.Au-My
C.Uc3.4. Giá trị giống của các đực giống theo các nhóm chọn lọc
Kết quả thể hiện ở Bảng 5 cho biết với tính trạng SLS1 nếu chọn các con đực có giá trị
giống từ +200 kg trở lên thì sẽ chọn được 143 con và giá trị giống trung bình của chúng đạt
+339,10kg, và nếu dùng các con đực này để phối giống thì đời con của chúng dự kiến có năng
suất cao hơn trung bình toàn đàn khoảng 170 kg (nếu giá trị giống trung bình của nhóm cái phối
với các con đực này có giá trị giống bằng 0). Bên cạnh đó, nhóm không được chọn lọc có giá trị
giống rất thấp (-63,80 kg).
Với tính trạng SLS2 nếu chọn toàn bộ các đực giống có giá trị giống đạt từ 200 kg trở lên
sẽ chọn được 111 con và giá trị giống trung bình của chúng đạt +341,90 kg, nếu sử dụng chúng
để phối giống trên đàn cái kết quả sẽ có đời con sinh ra từ các con đực này có năng suất sữa lứa 2
cao hơn so với trung bình toàn đàn khoảng 171 kg (nếu đàn cái phối với chúng có giá trị giống
bằng 0). Đối với tính trạng SLS3 nếu chọn toàn bộ các con đực có giá trị giống từ 200 kg trở lên sẽ
Không chọn lọc
764
0,43
0,01
0,00
0,96
GTG trên 200kg
143
0,49
0,01
0,28
0,92
SLS2
Không chọn lọc
582
-62,88
7,15
-962,25
199,06
GTG trên 200kg
111
341,90
14,60
202,60
979,40
Độ tin cậy SLS2
Không chọn lọc
582
0,00
0,90
GTG trên 200kg
57
0,40
0,03
0,21
0,90
Kết quả này cho biết để nâng cao nắng suất sữa các lứa 1, lứa 2 và lứa 3 thì có thể chọn
các con đực trong nhóm trên để xây dựng và lập kế hoạch phối giống thích hợp, cải tạo những
con cái có tiềm năng di truyền thấp, nâng cao chất lượng di truyền ở các cá thể có tiềm năng di
truyền ở mức trung bình trên đàn bò cái tại Mộc Châu và Tuyên Quang. Bên cạnh đó, cũng có
thể sử dụng chúng để chọn lọc ghép phối thích hợp nhằm tạo ra đàn đực giống, cái giống hạt
nhân sử dụng cho 2 khu vực trên và các khu vực khác nuôi bò HF thuần của nước ta.
3.5. Tuyển chọn các đực giống tốt dựa vào GTG của tính trạng SLS1, SLS2 và SLS3
Kết quả thể hiện ở Bảng 6 cho biết trong tổng số các đực giống được tính giá trị giống
của 3 tính trạng SLS1, SLS2 và SLS3 cho thấy nếu chọn các con đực có đồng thời giá trị giống
của cả 3 tính trạng đều đạt từ +200 kg sữa trở lên chỉ có 16 đực giống đáp ứng yêu cầu chọn lọc,
chiếm 1,76% trong tổng số 907 đực giống được đưa vào ước tính giá trị giống. Mặc dầu vậy,
trong tổng số 16 bò đực giống có giá trị giống tốt ở trên nhưng nếu truy tìm chúng để tiếp tục sử
dụng hiện nay chỉ có 11 đực giống có thể tìm và sử dụng được. Nếu tính trung bình giá trị giống
và độ tin cậy của ba tính trạng trên, ta có thể xếp cấp được các đực giống đó để thuận lợi cho quyết định chọn lọc. Trong tổng số 11 đực giống đó có 6 con có chỉ số giá trị giống và mức tin
cậy cao (trên 50%) đó là 7069, 12372, 6381, 5541, 6589 và 12886, còn lại 5 đực giống mặc dầu
có chỉ số giá trị giống cao nhưng độ tin cậy thấp dưới 50% (Bảng 7). Thông thường để chọn lọc
đực giống đưa vào sử dụng, các đực giống ngoài việc có được chỉ số giá trị cao nhưng kết hợp
14903
674,26
0,32
740,61
0,31
508,12
0,25
USA
-
-
5541
545,25
0,61
468,88
0,50
445,91
0,46
CAN
A Mark CJ Gilbrook
Grand
CAN393207
12372
521,05
0,84
625,89
0,68
390,46
0,61
AUS
Inglewood Maida Luke
-
-
6551
817,73
0,44
430,32
0,31
293,05
0,25
AUS
GLOMAR DIGGER
AUS1008992
7069
320,55
0,92
979,36
0,87
287,61
0,79
AUS
Elite Mountain Donor
IMP-ET
AUS668474
6589
595,37
0,82
253,26
0,70
275,03
0,61
AUS
Clinton Park Rudolph
Raven
AUS960287
14807
259,18
0,34
300,43
0,31
248,51
0,25
AUS
-
-
12886
396,39
0,69
281,03
0,59
219,70
0,46
AUS
Woodside Park Vortex-
ET
AUS929276
6196
353,86
0,34
314,51
0,31
3
-534 (48)
6381
AUS808264
492 (53)
4
-95 (73)
5541
CAN393207
487 (52)
5
271 (99)
7220
AUS1000114
386 (46)
6*
312 (88)
6589
AUS1089524
375 (71)
7
12886
AUS929276
299 (58)
8
266 (58)
6196
NLD55158868
293 (30)
tốt để tạo đàn bò sữa cao sản.
- 11 đực giống có giá trị giống tốt ở cả 3 tính trạng, 6 con đực giống đã chọn lọc ở trên có
phẩm chất tốt ở cả ba tính trạng SLS1, SLS2 và SLS3 cần sử dụng chúng trong phối giống để tạo
đàn hạt nhân có SLS cao và trong phối giống mở rộng để nâng cao năng suất sữa 3 lứa đầu tại
Mộc Châu, Tuyên Quang và một số khu vực khác.
4.2. Đề nghị
- Tiếp tục nghiên cứu để chọn các đực giống có phẩm chất di truyền tốt về năng suất sữa,
và phù hợp với hiện trang chăn nuôi.
- Cần triển khai tính giá trị giống của các tính trạng kinh tế khác như tỷ lệ mỡ sữa, protein
sữa và vật chất khô.
- Sử dụng 6 đực giống trên trong nhân giống để nâng cao năng suất sữa 3 lứa đầu của đàn
bò cái đời sau. - Phát triển phương pháp ước tính giá trị giống tổng hợp nhiều tính trạng trên bò sữa để
chọn được đàn bò sữa có hiệu quả kinh tế cao.
Tài liệu tham khảo
1. Phạm Văn Giới (2008). Nghiên cứu đặc điểm di truyền và giá trị giống về sản lượng sữa của bò Holstein
Friesian nuôi ở Mộc Châu và Tuyên Quang, Luận án tiến sỹ Nông nghiệp, Viện Chăn Nuôi, Hà Nội.
2. Hammami. H., B. Rekik, H. Soyeurt, C. Bastin, J. Stoll, and N. Gengler (2008). Genotype × Environment
Interaction for Milk Yield in Holsteins Using Luxembourg and Tunisian Populations, Journal of Dairy
Science Vol. 91 No. 9, pp: 3661–3671.
3. Nguyễn Hữu Lương, Phạm Hải Nam, Trần Sơn Hà, Nguyễn Hùng Sơn và Nguyễn Văn Đức (2009). “Tuổi
đẻ, khoảng cách giữa 2 lứa đẻ và sản lượng sữa của bò Holstein Friesian (HF) nhập nội từ Cu Ba, Mỹ, Úc
nuôi tại Mộc Châu”. Báo cáo khoa học năm 2008 của Viện Chăn Nuôi, Phần Di truyền – Giống vật nuôi:
10/2009. Trang 9-14.
4. Mashhadi M.H., Kashan N.E.J., Nassiry M.R., Torshizi R.V. (2008). Prediction Breeding value and
Genetic Parameter in Iranian Holstein Bulls for Milk Production traits, Pakistan. Journal of biological
Science, Vol. 11(1): 108-112.
5. Powell R. L.,Wiggans R., Plowman R. D. (1990). “Evaluations of Holstein Bulls and Cows in Ecuador”,